Thực hiện pháp luật công chứng trên địa bàn thành phố hà nội - Pdf 38

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN THANH HÀ

THỰC HIỆN PHÁP LUẬT CÔNG CHỨNG
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2014


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN THANH HÀ

THỰC HIỆN PHÁP LUẬT CÔNG CHỨNG
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành : Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật
Mã số

: 60 38 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Hoàng Anh

HÀ NỘI - 2014


CHỨNG VÀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ CÔNG CHỨNG

1.1.

Pháp luật về công chứng

1.1.1. Khái quát sự hình thành, phát triển của pháp luật về công

6
6

chứng ở nước ta
1.1.2. Một số nội dung chính của Luật Công chứng số 82/2006/QH11

8

1.2.

22

Thực hiện pháp luật công chứng

1.2.1. Khái niệm thực hiện pháp luật công chứng

22

1.2.2. Hình thức thực hiện pháp luật công chứng

25


2.1.2. Miễn đào tạo nghề và miễn tập sự hành nghề công chứng

46

2.2.

Thực trạng việc thực hiện quy định về tổ chức hành nghề

49

công chứng
2.2.1. Phòng công chứng

49

2.2.2. Văn phòng công chứng

51

2.2.3. Quy hoạch tổ chức hành nghề công chứng

56


2.2.4. Nghĩa vụ của các tổ chức hành nghề công chứng
2.3.

Thực trạng việc thực hiện quy định về thủ tục công chứng

58

82

3.1.3. Bảo đảm an toàn pháp lý

83

3.1.4. Thực hiện cải cách hành chính, cải cách tư pháp

84

3.2.

Giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật công chứng trên địa

84

bàn thành phố Hà Nội
3.2.1. Hoàn thiện pháp luật liên quan đến công chứng viên, tổ chức

84

hành nghề công chứng, thủ tục công chứng
3.2.2. Đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật công chứng,

109

nâng cao ý thức pháp luật công chứng
3.2.3. Nâng cao năng lực và trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước

112

tính an toàn pháp lý cho các hợp đồng, giao dịch dân sự và kinh tế, hoạt động công
chứng đã góp phần quan trọng vào việc phòng ngừa các tranh chấp, khiếu nại trong
lĩnh vực đất đai, nhà ở, một lĩnh vực vốn phức tạp và tiềm ẩn nhiều nguy cơ dẫn
đến tranh chấp, khiếu kiện. Chúng ta không thể phủ nhận công chứng là -lá chắnphòng ngừa hữu hiệu, đảm bảo an toàn pháp lý cho các hợp đồng, giao dịch, tiết
kiệm thời gian, chi phí cho xã hội, giảm thiểu -gánh nặng- pháp lý cho Tòa án
trong việc giải quyết các tranh chấp dân sự.
Tuy nhiên qua 07 năm thi hành, Luật Công chứng cũng bộc lộ những bất
cập, hạn chế. Tiêu chuẩn công chứng viên quy định còn đơn giản; thời gian đào tạo
nghề ngắn, cơ sở đào tạo nghề chưa đáp ứng được yêu cầu; chưa quy định về
quyền, nghĩa vụ của công chứng viên cũng như người tập sự hành nghề công
chứng, đối tượng miễn đào tạo nghề, miễn tập sự hành nghề công chứng rộng nên


chất lượng công chứng viên được bổ nhiệm thấp, có nhiều sai sót khi công chứng
hợp đồng, giao dịch. Tiêu chuẩn thành lập Văn phòng công chứng chưa chặt chẽ;
quy hoạch ban hành chậm và thiếu cơ sở pháp lý; thiếu sự kiểm tra, thanh tra sau
khi cho phép thành lập tổ chức hành nghề công chứng; chưa có quy định về việc
chuyển đổi mô hình Văn phòng công chứng do một công chứng viên thành lập
sang mô hình văn phòng công chứng do 2 công chứng viên trở lên thành lập và
ngược lại; nghĩa vụ của các tổ chức hành nghề công chứng chưa chặt chẽ, đặc biệt
về việc thực hiện lưu trữ hồ sơ công chứng và mua bảo hiểm trách nhiệm nghề
nghiệp cho công chứng viên, chưa quy định việc chia sẻ và khai thác cơ sở dữ liệu
công chứng giữa tổ chức hành nghề công chứng và các cơ quan liên quan. Thủ tục
công chứng chưa cụ thể, chi tiết, chưa thuận tiện, chưa có sự phối hợp, liên thông
với các thủ tục hành chính khác liên quan, khiến người yêu cầu công chứng phải
mất nhiều thời gian, công sức; một số thủ tục công chứng chưa hợp lý, chưa rõ
ràng, thậm chí còn chồng chéo, mâu thuẫn với các quy định của pháp luật liên
quan, gây khó khăn, lúng túng cho công chứng viên khi hành nghề...
Tôi chọn đề tài "Thực hiện pháp luật công chứng trên địa bàn thành phố
Hà Nội" làm luận văn thạc sĩ của mình nhằm kiến nghị những giải pháp bảo đảm

của tác giả Nguyễn Quang Minh năm 2009; Xã hội hóa công chứng ở Việt Nam
hiện nay, thực trạng và giải pháp, Luận văn thạc sĩ của tác giả Phạm Thị Mai
Trang năm 2011; Bồi thường thiệt hại do công chứng viên gây ra, Bài viết của tác
giả Đỗ Văn Đại đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 14(199), tháng 7 năm
2011; Kiến nghị hoàn thiện Luật Công chứng, Bài viết của tác giả Lê Quốc Hùng
đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 1+2 (210+211), tháng 1 năm 2012;
Hoàn thiện pháp luật về quản lý nhà nước đối với văn phòng công chứng, Bài viết
của tác giả Phan Hải Hồ đăng trên tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 14 (222), tháng 7
năm 2012…


Các đề tài, công trình nghiên cứu trên đã nghiên cứu những vấn đề mang
tính tổng thể hoặc những khía cạnh, phạm vi cụ thể khác nhau của hoạt động công
chứng. Nhưng đến nay, chưa có công trình nghiên cứu nào đi sâu về việc thực hiện
pháp luật về công chứng trên các phương diện công chứng viên, tổ chức hành nghề
công chứng và thủ tục công chứng, đặc biệt trong phạm vi một địa phương cụ thể:
Thành phố Hà Nội. Có thể khẳng định, đề tài Thực hiện pháp luật công chứng trên
địa bàn thành phố Hà Nội là đề tài đầu tiên nghiên cứu về khía cạnh này.
3. Mục đích của đề tài
Luận văn tổng hợp những kiến thức lý luận về thực hiện pháp luật về công
chứng; trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn việc thi hành Luật Công chứng trên địa bàn
thành phố Hà Nội để đánh giá những mặt được, chưa được của hoạt động công
chứng trên một số phương diện như: công chứng viên, tổ chức hành nghề công
chứng, thủ tục công chứng dưới góc độ lý luận nhà nước và pháp luật. Từ đó đưa
ra một số luận cứ khoa học làm cơ sở cho việc nâng cao hiệu quả thực hiện pháp
luật công chứng trên địa bàn thành phố Hà Nội nói riêng và trên cả nước nói
chung.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Những vấn đề có tính lý luận và thực tiễn về thực hiện pháp luật công


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT VỀ CÔNG CHỨNG
VÀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ CÔNG CHỨNG
1.1. PHÁP LUẬT VỀ CÔNG CHỨNG

1.1.1. Khái quát sự hình thành, phát triển của pháp luật về công chứng ở
nước ta
Hệ thống công chứng ở nước ta được thành lập kể từ khi Hội đồng Bộ
trưởng (nay là Chính phủ) ban hành Nghị định số 45/HĐBT ngày 27 tháng 2 năm
1991 về tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước. Việc ban hành Nghị định đã
đặt ra cơ sở pháp lý cần thiết cho các hoạt động công chứng là một chức năng nhà
nước rất cần thiết trong cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước.
Tiếp đó, Chính phủ đã có thêm hai lần ban hành các nghị định về công
chứng đó là: Nghị định số 31/CP ngày 18 tháng 5 năm 1996 và Nghị định số
75/2000/NĐ-CP ngày 8 tháng 12 năm 2000 (sau đây gọi tắt là Nghị định số
75/2000/NĐ-CP). Các văn bản nêu trên là cơ sở pháp lý quan trọng góp phần cho
việc xây dựng và hoàn thiện tổ chức và hoạt động công chứng, nghề công chứng ở
Việt Nam.
Trên cơ sở tổng kết 15 năm thi hành pháp luật về công chứng, kể từ khi ban
hành Nghị định số 45/HĐBT ngày 27 tháng 2 năm 1991 về tổ chức và hoạt động
công chứng Nhà nước, ngày 29/11/2006 Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 10 đã thông
qua Luật Công chứng số 82/2006/QH11, có hiệu lực thi hành kể từ ngày
01/7/2007, đây là một văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao, điều
chỉnh một cách toàn diện và đồng bộ lĩnh vực công chứng nhằm khắc phục những
điểm hạn chế bất cập về mặt tổ chức, hoạt động và quản lý công chứng ở nước ta,
cụ thể hóa nội dung về hoàn thiện thể chế về công chứng ở nước ta trong Nghị
quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư



- Thông tư liên tịch số 08/2012/TTLT-BTC-BTP ngày 19/01/2012 của Bộ
Tài chính và Bộ Tư pháp hướng dẫn về mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử
dụng phí công chứng (thay thế Thông tư liên tịch số 91/2008/TTLT-BTC-BTP
ngày 17/10/2008).
- Thông tư số 11/2012/TT-BTP ngày 30/10/2012 của Bộ Tư pháp ban hành
Quy tắc đạo đức hành nghề công chứng.
- Quyết định số 01/2008/QĐ-BTP ngày 20/02/2008 của Bộ trưởng Bộ Tư
pháp ban hành một số mẫu giấy tờ dùng trong hoạt động công chứng.
Sau 7 năm triển khai thi hành Luật Công chứng số 82/2006/QH11, ngày
20/6/2014, Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 7 đã thông qua Luật Công chứng số
53/2014/QH13, có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2015 thay thế cho Luật Công chứng
số 82/2006/QH11 nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập về thể chế, tạo cơ sở
pháp lý cho bước phát triển mới của hoạt động công chứng theo chủ trương xã hội
hóa, nâng cao chất lượng và tính bền vững của hoạt động công chứng, từng bước
phát triển nghề công chứng Việt Nam phù hợp với thông lệ quốc tế.
Ngoài ra, bên cạnh hệ thống các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Công
chứng, các công chứng viên còn phải áp dụng nhiều văn bản quy phạm pháp luật
khác có liên quan đến công chứng: Bộ luật Dân sự, Bộ luật Tố tụng Dân sự, Luật
đất đai, Luật nhà ở, Luật hôn nhân và gia đình, Luật cư trú, Luật doanh nghiệp,
Luật kinh doanh bất động sản...
1.1.2. Một số nội dung chính của Luật Công chứng số 82/2006/QH11
1.1.2.1. Khái niệm công chứng
Việc xác định khái niệm công chứng là vấn đề mấu chốt của hoạt động công
chứng. Khái niệm công chứng đã được nêu trong 3 nghị định của Chính phủ về
công chứng: Nghị định số 45/HĐBT ngày 27 tháng 2 năm 1991, Nghị định số
31/CP ngày 18 tháng 5 năm 1996 và Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 8 tháng
12 năm 2000. Việc thể hiện cụ thể khái niệm này có sự khác nhau, song có sự


giống nhau về cơ bản như sau: công chứng là việc chứng nhận tính xác thực, tính

tình tiết trong nội dung hợp đồng, giao dịch, bảo đảm cân bằng quyền và lợi ích
hợp pháp của các bên ngay từ khi giao kết, kiểm tra năng lực hành vi, tính tự
nguyện, chữ ký của các chủ thể tham gia hợp đồng, giao dịch, kiểm tra nội dung và
mục đích của hợp đồng, giao dịch có vi phạm điều cấm của pháp luật, có trái đạo
đức hay không, đối tượng hợp đồng, giao dịch là có thật hay giả mạo, hình thức
của hợp đồng, giao dịch có phù hợp với quy định của pháp luật không. Trong
trường hợp nếu có tranh chấp xảy ra thì văn bản công chứng là chứng cứ tin cậy
nhất để các chủ thể tham gia hợp đồng, giao dịch tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của mình; đồng thời đây cũng là chứng cứ để Tòa án, các cơ quan có thẩm
quyền giải quyết tranh chấp một cách nhanh chóng.
Quy định này được cụ thể hóa tại Điều 6 của Luật Công chứng số
82/2006/QH11, quy định về giá trị pháp lý của văn bản công chứng:
1. Văn bản công chứng có hiệu lực thi hành đối với các bên liên
quan; trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ của
mình thì bên kia có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của
pháp luật, trừ trường hợp các bên tham gia hợp đồng, giao dịch có thỏa
thuận khác.
2. Văn bản công chứng có giá trị chứng cứ; những tình tiết, sự
kiện trong văn bản công chứng không phải chứng minh, trừ trường hợp
bị Tòa án tuyên bố là vô hiệu [39].
Đây là vấn đề quan trọng, là lý do tồn tại của công chứng. Giá trị chứng cứ
không phải chứng minh của văn bản công chứng đã được quy định tại điểm c
khoản 1 Điều 80 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004: "c) Những tình tiết, sự kiện
đã được ghi trong văn bản và được công chứng, chứng thực hợp pháp" [35].
Cơ sở thực tiễn của việc quy định này là: Các tình tiết, sự kiện về thời gian,


địa điểm xác lập hợp đồng, giao dịch, năng lực hành vi dân sự, sự tự nguyện của
chủ thể hợp đồng, giao dịch, nội dung trong hợp đồng, giao dịch, chữ ký của các
bên hợp đồng, giao dịch... là những tình tiết, sự kiện đã được công chứng viên nhìn

vấn đề rất quan trọng là công chứng viên làm cho các hợp đồng, giao dịch thực tế
đúng theo các quy định của pháp luật. Nó cũng đòi hỏi công chứng viên phải xác
định chính xác và khách quan là những người tham gia giao kết hợp đồng, giao
dịch hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc, lừa dối.
Đảm bảo các yếu tố trên trong văn bản công chứng chính là việc công
chứng viên đảm bảo an toàn pháp lý cho hợp đồng, giao dịch, hạn chế tranh chấp,
đạt hiệu quả tích cực về mặt kinh tế - xã hội vì những tình tiết, sự kiện, sự thỏa
thuận của các bên tham gia giao kết là xác thực và hợp pháp, hay có thể nói công
chứng viên đã hoàn thành nhiệm vụ chính trị của một -thẩm phán phòng ngừa- là
phòng ngừa những giao dịch, thỏa thuận không phù hợp với quy định của Pháp
luật, tạo môi trường lành mạnh, trong sạch cho đời sống kinh tế, thương mại, dân
sự của xã hội.
Với mục tiêu xây dựng đội ngũ công chứng viên chuyên nghiệp, đủ về số
lượng, giỏi về chuyên môn nghiệp vụ, có bản lĩnh chính trị, trong sáng về đạo đức
nghề nghiệp, Điều 13 Luật Công chứng số 82/2006/QH11 quy định:
1. Công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam, trung thành với
Tổ quốc, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt và
có đủ các tiêu chuẩn sau đây thì được xem xét, bổ nhiệm làm công
chứng viên:
a) Có bằng cử nhân luật;
b) Có thời gian công tác pháp luật từ năm năm trở lên tại các cơ
quan, tổ chức;
c) Có Giấy chứng nhận tốt nghiệp đào tạo nghề công chứng;


d) Đã qua thời gian tập sự hành nghề công chứng;
đ) Có sức khỏe bảo đảm hành nghề công chứng.
2. Thời gian đào tạo nghề công chứng và tập sự hành nghề công
chứng được tính vào thời gian công tác pháp luật [39].
So với Nghị định số 75/2000/NĐ-CP, công chứng viên được quy định

Phòng công chứng là hình thức tổ chức hành nghề công chứng do Nhà
nước thành lập. Việc thành lập Phòng công chứng do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
quyết định. Phòng công chứng là tổ chức dịch vụ công, có trụ sở, con dấu và tài
khoản riêng, hoạt động theo nguyên tắc tự chủ về tài chính của đơn vị sự nghiệp có
thu. Điều 24 Luật Công chứng số 82/2006/QH11 quy định:
1. Phòng công chứng do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định
thành lập.
2. Phòng công chứng là đơn vị sự nghiệp thuộc Sở Tư pháp, có
trụ sở, con dấu và tài khoản riêng.
Người đại diện theo pháp luật của Phòng công chứng là Trưởng
phòng. Trưởng Phòng công chứng phải là công chứng viên và do Chủ
tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức.
Chính phủ quy định chế độ tài chính, con dấu của Phòng công
chứng.
3. Tên gọi của Phòng công chứng bao gồm số thứ tự thành lập và
tên của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi Phòng công chứng
được thành lập [39].
* Văn phòng công chứng
Văn phòng công chứng: là hình thức tổ chức hành nghề công chứng do một
công chứng viên hoặc một số công chứng viên thành lập. Việc thành lập Văn
phòng công chứng phải theo một thủ tục chặt chẽ, cụ thể là phải được sự cho phép


của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và phải đăng ký hoạt động tại Sở Tư pháp nơi
đặt trụ sở. Văn phòng công chứng là tổ chức dịch vụ công, có trụ sở, con dấu và tài
khoản riêng, hoạt động theo nguyên tắc tự chủ về tài chính bằng nguồn thu từ kinh
phí đóng góp của công chứng viên, phần để lại từ lệ phí công chứng, phí dịch vụ và
các nguồn thu hợp pháp khác. Điều 26 Luật Công chứng số 82/2006/QH11 quy
định:
1. Văn phòng công chứng do công chứng viên thành lập.

thù lao công chứng, nội quy tiếp người yêu cầu công chứng tại trụ sở của
tổ chức hành nghề công chứng.
2. Thực hiện chế độ làm việc theo ngày, giờ làm việc của cơ quan
hành chính nhà nước.
3. Chấp hành các quy định của pháp luật về lao động, thuế, tài
chính, thống kê.
4. Chấp hành các yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
về việc báo cáo, kiểm tra, thanh tra.
5. Bồi thường thiệt hại do lỗi mà công chứng viên của tổ chức
hành nghề công chứng gây ra cho người yêu cầu công chứng.
6. Lưu trữ hồ sơ công chứng.
7. Văn phòng công chứng có nghĩa vụ mua bảo hiểm trách nhiệm
nghề nghiệp cho công chứng viên của tổ chức mình.
8. Các nghĩa vụ khác theo quy định của Luật này và các quy định
khác của pháp luật có liên quan [39].
Theo quy định, các tổ chức hành nghề công chứng có một số nghĩa vụ đáng
lưu ý sau:
Về thời gian làm việc (Khoản 2): không chỉ các Phòng công chứng là các
đơn vị do nhà nước thành lập mà các văn phòng công chứng do các công chứng
viên đủ điều kiện thành lập cũng phải áp dụng chế độ làm việc giống các cơ quan


hành chính nhà nước.
Bồi thường thiệt hại (Khoản 5): Việc rủi ro xảy ra là không thể tránh khỏi,
tuy nhiên, khi thiệt hại do lỗi mà công chứng viên gây ra thì tổ chức hành nghề
công chứng phải bồi thường thiệt hại.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Tư pháp (1987), Thông tư số 574/QLTPK ngày 10/10/1987 hướng dẫn
công tác công chứng nhà nước, Hà Nội.


cua-cong-chung-vien.html, ngày 17/4/2012.
12. "Chấn chỉnh hoạt động công chứng ở Hà Nội" (2012), http://www.baomoi.com/
Chan-chinh-hoat-dong-cong-chung-o-Ha-Noi/58/8459143.epi, ngày 14/5/2012.
13. Chính phủ (1996), Nghị định số 31/CP ngày 18/5/1996 về tổ chức và hoạt động
công chứng nhà nước, Hà Nội.
14. Chính phủ (2001), Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 08/12/2001 về công
chứng, chứng thực, Hà Nội.
15. Chính phủ (2004), Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 về thi hành
Luật Đất đai, Hà Nội.
16. Chính phủ (2006), Tờ trình số 40/TTr-XDPL của Chính phủ ngày 18/4/2006 về
dự án Luật Công chứng, Hà Nội.
17. Chính phủ (2006), Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 về giao
dịch đảm bảo, Hà Nội.
18. Chính phủ (2008), Nghị định số 02/2008/NĐ-CP ngày 04/01/2008 quy định chi
tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Công chứng, Hà Nội.
19. Chính phủ (2009), Nghị định số 60/2009/NĐ-CP ngày 23/7/2009 quy định xử
phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp (sửa đổi, bổ sung các chế tài



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status