TIỂU LUẬN:Giải pháp tăng cường công tác quản lý thu thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội - Pdf 11


TIỂU LUẬN:

Giải pháp tăng cường công tác quản lý
thu thuế thu nhập doanh nghiệp đối
với các doanh nghiệp công nghiệp trên
địa bàn thành phố Hà Nội
Lời mở đầu

Kinh tế thị trường với sự quản lý vĩ mô của Nhà nước đã làm cho các thành phần
kinh tế trong xã hội có điêù kiện cạnh tranh một cách lành mạnh để phát triển và dần
khẳng định được vai trò của mình trong nền kinh tế. Kinh tế Nhà nước- bộ phận kinh
tế chủ đạo của nền kinh tế nước ta nói chung và bộ phận các doanh nghiệp công
nghiệp nói riêng đã thực sự đổi mới. Với phạm vi hoạt động rộng lớn và mang tính
chất đa dạng phong phú, bộ phận này không những đạt hiệu quả cao trong hoạt động
sản xuất kinh doanh mà hàng năm còn đóng góp vào số thu của ngân sách Nhà nước
một tỷ lệ khá lớn. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của bộ phận các doanh nghiệp
công nghiệp, công tác quản lý thu thuế cũng gặp rất nhiều khó khăn bởi những doanh
nghiệp làm ăn yếu kém, không thực hiện tốt các nghĩa vụ với Nhà nước, luôn lợi

I . Bản chất, vai trò của thuế thu nhập doanh nghiệp
1 . Khái niệm về thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN)
Trước khi xem xét về thuế TNDN, chúng ta có thể tìm hiểu thêm một số vấn đề
chung về thuế cũng như nguồn gốc ra đời của thuế.
Thuế ra đời gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển của nhà nước, từng bước
hoàn thiện vai trò và chức năng của nhà nước đối với nền kinh tế. Nhà nước ra đời
đòi hỏi phải có một bộ máy hành chính để quản lý điều hành và bảo vệ đất nước, vì
vậy cần phải có một nguồn tài chính thường xuyên phục vụ cho các hoạt động này.
Do đó thuế ra đời với tư cách là một công cụ tài chính để tạo lập nguồn thu nhằm
duy trì hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước. Xã hội ngày càng phát triển đi
lên và nhà nước cũng đã dần dần hoàn thiện được chức năng và nhiệm vụ của mình.
Nhà nước không chỉ thực hiện chức năng điều hành và bảo vệ đất nước mà còn là tác
nhân chủ đạo trong việc phát triển kinh tế đất nước. Trong đó, thuế đóng góp một
phần rất quan trọng với chức năng là công cụ bảo đảm nguồn thu cho ngân sách nhà
nước và là công cụ vĩ mô quan trọng của nhà nước trong việc điều tiết đối với nền
kinh tế. Thuế được hình thành và phát triển gắn liền với nhiều giai đoạn lịch sử khác
nhau, do đó có rất nhiều những quan điểm khác nhau về thuế với những góc độ nhìn
nhận ở từng thời điểm lịch sử nhất định.
Theo ăng-ghen:“ Để duy trì quyền lợi công cộng cần phải có sự đóng góp của
những người công dân của nhà nước đó là thuế”. Còn theo một số nhà kinh tế hiện
đại: “Thuế là khoản đóng góp mang tính chất pháp lệnh của nhà nước bắt buộc mọi
công dân hoặc các tổ chức kinh tế nộp vào ngân sách nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu
của bộ máy nhà nước. Khoản nộp về thuế không mang tính hoàn trả trực tiếp mà qua
các khoản trợ cấp xã hội, phúc lợi công cộng thuế được hoàn trả gián tiếp”.
Ngoài ra còn một số các quan điểm khác và ở mỗi quan điểm cũng đã nhấn mạnh
được tác dụng của thuế đối với nền kinh tế.
Qua những quan điểm của các nhà kinh tế ta có thể rút ra được bản chất cơ bản

mức động viên của ngân sách Nhà nước đối với loại thuế này phụ thuộc rất lớn vào
hiệu quả kinh doanh cũng như quy mô lợi nhuận của doanh nghiệp. Doanh nghiệp có
thu nhập chịu thuế cao sẽ phải nộp thuế nhiều. Ngược lại, những doanh nghiệp có thu
nhập thấp, gặp khó khăn sẽ được giảm thuế, thậm chí được miễn thuế.
- Thuế TNDN chỉ đánh vào phần thu nhập còn lại sau khi đã trừ đi các chi phí liên
quan tạo ra khoản thu nhập đó.
3. Vai trò của thuế TNDN trong nền kinh tế thị trường
- Thuế TNDN là khoản thu quan trọng của ngân sách Nhà nước. Điều này được thể
hiện ở phạm vi áp dụng thuế TNDN rất rộng. Nó khai thác nguồn thu từ các đối tượng
nộp thuế có tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh đem lại thu nhập ở mọi lĩnh
vực, trên mọi địa bàn. Mặt khác, cùng với xu hướng tăng trưởng kinh tế, quy mô của
các hoạt động kinh doanh ngày càng được mở rộng, hiệu quả kinh doanh ngày càng
cao, tích luỹ từ nội bộ doanh nghiệp ngày càng nhiều sẽ tạo ra nguồn thu về thuế
TNDN ngày càng lớn cho ngân sách Nhà nước .
- Thuế TNDN là công cụ quan trọng của Nhà nước trong việc điều tiết các hoạt động
kinh doanh. Thông qua hệ thống thuế suất ưu đãi, thuế TNDN góp phần định hướng
cho các nhà kinh doanh đầu tư vào những lĩnh vực mà Nhà nước cần khuyến khích
đầu tư nhằm đảm bảo cơ cấu kinh tế hợp lý. Thuế TNDN còn góp phần khuyến khích thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển thông qua miễn, giảm thuế cho các cơ sở kinh
doanh mới thành lập trong một thời hạn nhất định nhằm giúp doanh nghiệp giảm bớt
những khó khăn ban đầu khi khởi nghiệp. Mặt khác, thông qua hoàn thuế TNDN cho
tái đầu tư đối với các nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, qua việc tính trừ các khoản
chi phí hợp lý, hợp lệ…cũng góp phần khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư theo
chiều rộng và theo chiều sâu, thúc đẩy tăng cường hạch toán kinh tế, tạo điều kiện
nâng cao doanh lợi cho doanh nghiệp.
Thuế TNDN thực sự là công cụ hữu hiệu để điều tiết vĩ mô nền kinh tế, tạo một
cơ cấu kinh tế hợp lý theo ngành và theo địa bàn.
- Thuế TNDN góp phần thực hiện công bằng xã hội.

suất. Ngoài ra doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài còn phải nộp thuế lợi nhuận
chuyển ra khỏi Việt Nam .
- Luật thuế TNDN phù hợp với sự phát triển của kinh tế thị trường
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay khoản thu của doanh nghiệp rất đa dạng. Có
nhiều khoản thu nhập mới phát sinh như : lãi do bán cổ phiếu, cổ phần; thu nhập từ
hoạt động cho thuê máy móc, thiết bị mà thuế Lợi tức không bao quát được. Nay
được quy định trong Luật thuế thu nhập doanh nghiệp để quản lý nộp thuế.
Thuế TNDN bao quát và điều tiết được tất cả các khoản thu nhập đã, đang và sẽ
phát sinh của các cơ sở sản xuất kinh doanh hoạt động trong nền kinh tế thị trường
theo định hướng XHCN của Việt Nam.
- Thực hiện ưu đãi thống nhất đối với các loại hình doanh nghiệp, giữa doanh nghiệp
trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
- Từng bước hoàn chỉnh chính sách thuế cho phù hợp với các nước trong khu vực và
trên thế giới.
2 . Nội dung cơ bản về thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành
2.1 . Đối tượng nộp thuế ( ĐTNT)
* Đối tượng nộp thuế TNDN là tất cả các tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh
hàng hoá, dịch vụ có thu nhập chịu thuế.
* Đối tượng không phải nộp thuế TNDN: Là các hộ gia đình, cá nhân, tổ hợp tác, hợp tác xã sản xuất nông nghiệp có thu
nhập từ sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản, trừ hộ gia đình và cá
nhân nông dân sản xuất nông nghiệp có giá trị hàng hoá lớn, có thu nhập cao.
2.2 . Căn cứ tính thuế
Thuế TNDN được xác định dựa trên hai căn cứ : thu nhập chịu thuế và thuế suất.
Công thức tính thuế TNDN phải nộp :

Thuế TNDN Thu nhập chịu thuế Thuế suất
phải nộp = trong kỳ *

phải thu khi người mua trả tiền theo thời hạn quy định của hợp đồng.Việc xác định
doanh thu, chi phí đối với hàng hoá mua bán trả góp hoặc trả chậm thực hiện theo
nguyên tắc chi phí phải phù hợp với doanh thu.
Đối với hàng hoá bán theo phương thức trả góp hoặc trả chậm, nếu bên mua và
bên bán có thoả thuận chuyển quyền sở hữu, thì doanh thu của hàng bán tính theo giá
bán trả một lần kể từ khi giao hàng hoặc khi xuất hoá đơn GTGT hoặc hoá đơn bán
hàng,(không bao gồm lãi trả góp hoặc lãi trả chậm. Trường hợp này, lãi trả góp và lãi
trả chậm hạch toán vào thu nhập hoạt động tài chính).
- Đối với hàng hoá, dịch vụ dùng để trao đổi, biếu, tặng, doanh thu để tính thu nhập
chịu thuế được xác định theo giá bán của sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ cùng loại hoặc
tương đương trên thị trường tại thời điểm trao đổi, biếu tặng.
- Đối với sản phẩm tự dùng, doanh thu để tính thu nhập chịu thuế là chi phí để sản
xuất ra sản phẩm đó.
- Đối với gia công hàng hoá doanh thu để tính thu nhập chịu thuế là tiền thu về gia
công bao gồm cả tiền công, nhiên liệu động lực, vật liệu phụ và chi phí khác phục vụ
cho việc gia công hàng hoá.
- Trường hợp bán hàng qua đại lý, doanh thu để tính thu nhập chịu thuế được xác
định khi đại lý giao hàng chi người mua hoặc khi :
+ Bên nhận đại lý chuyển quyền sở hữu cho người mua
+ Bên nhận đại lý xuất hoá đơn. Đồng thời trong trường hợp này phải có hợp đồng đại lý bằng văn bản giữa bên
giao và bên nhận đại lý, nếu không có hợp đồng thì việc giao hàng cho đại lý sẽ coi
như hoạt động bán hàng thông thường.
- Đối với hoạt động cho thuê nhà, thuê tài sản, doanh thu để tính thu nhập chịu thuế
là số tiền thu từng kỳ theo hợp đồng.Trường hợp bên thuê trả trước chi nhiều năm thì
doanh thu được tính phân bổ tương ứng theo thời gian thuê từng năm trả trước.
- Đối với hoạt động tín dụng, doanh thu để tính thu nhập chịu thuế là tiền lãi cho vay
thực thu được trong kỳ tính thuế.

trả cho người lao động trong các doanh nghiệp Nhà nước theo chế độ hiện hành.
+ Tiền lương, tiền công và các khoản mang tính chất tiền lương, tiền công phải
trả cho người lao động trong các cơ sở kinh doanh khác theo hợp đồng lao động.
Nếu chưa thực hiện chế độ hợp đồng lao động thì tiền lương, tiền công và các
khoản mang tính chất tiền lương, tiền công phải trả cho người lao động được
tính vào chi phí để tính thu nhập chịu thuế căn cứ vào mức tiền lương, tiền công
bình quân của ngành nghề tại địa phương.
Không được tính vào chi phí tiền lương, tiền công các khoản chi phí sau :
 Tiền lương, tiền công của chủ doanh nghiệp tư nhân, chủ hộ cá thể sản
xuất, kinh doanh, dịch vụ.
 Tiền lương, tiền công của sáng lập viên doanh nghiệp mà họ không trực
tiếp tham gia điều hành sản xuất, kinh doanh, dịch vụ.
Đối với các sáng lập viên trực tiếp tham gia điều hành sản xuất, kinh doanh,
dịch vụ thì được hạch toán tiền lương vào chi phí.
+ Chi phí tiền ăn giữa ca cho người lao động
- Chi phí nghiên cứu khoa học, công nghệ; sáng kiến, cải tiến, tài trợ cho giáo dục; y
tế; đào tạo lao động theo chế độ quy định.
- Chi phí dịch vụ mua ngoài: Điện, nước, điện thoại, sửa chữa tài sản cố định, kiểm
toán, bảo hiểm tài sản, chi trả tiền sử dụng các tài liệu kỹ thuật, bằng sáng chế, giấy
phép công nghệ không thuộc tài sản cố định, các dịch vụ kỹ thuật. - Các khoản chi cho lao động nữ theo quy định của pháp luật ; chi bảo hộ lao động ;
chi bảo vệ cơ sở kinh doanh ; trích nộp quỹ bảo hiểm xã hội ; bảo hiểm y tế , kinh phí
công đoàn theo chế độ quy định.
Mức trích nộp hình thành quỹ quản lý của Tổng công ty do Hội đồng quản trị Tổng
công ty phê duyệt, thông báo, sau khi có ý kiến bằng văn bản của cơ quan tài chính có
thẩm quyền.
Chi trang phục cho cán bộ công viên của các cơ sở dùng trang phục thống nhất,
nhưng mức chi tối đa cho một người không quá 500.000 đồng/1năm. Phần chi trang

+ Tiền thuê đất
- Chi phí quản lý kinh doanh do công ty nước ngoài phân bổ cho cơ sở thường trú ở
Việt Nam theo tỷ lệ doanh thu của cơ sở thường trú so với tổng doanh thu công ty ở
nước ngoài.
Các khoản chi phí không dược coi là chi phí hợp lý và không được tính trừ khi xác
định thu nhập chịu thuế bao gồm:
- Các khoản trích trước vào chi phí mà thực tế không chi hoặc không chi hết như :
trích trước về sửa chữa lớn, phí bảo hành sản phẩm hàng hoá, công trình xây dựng và
các khoản tích trước khác.
- Các khoản chi không có chứng từ hoặc chứng từ không hợp pháp
- Các khoản tiền phạt như phạt vi phạm giao thông, phạt vi phạm chế độ đăng ký
kinh doanh, phạt vi phạm chế độ kế toán, thống kê, phạt vi phạm hành chính về thuế
và các khoản phạt khác.
- Các khoản chi không liên quan đến doanh thu và thu nhập chịu thuế như chi về đầu
tư xây dựng cơ bản; chi ủng hộ các địa phương, đoàn thể, tổ chức xã hội; chi từ thiện
và các khoản chi khác không liên quan đến doanh thu và thu nhập chịu thuế
- Các khoản chi do các nguồn kinh phí khác đài thọ như chi phí sự nghiệp; chi trợ
cấp khó khăn thường xuyên, khó khăn đột xuất…
- Chi phí không hợp lý khác.

Thu nhập chịu thuế khác: Bao gồm các khoản thu nhập sau:
- Chênh lệch về mua, bán chứng khoán
- Thu nhập về quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản - Lãi từ chuyển nhựơng, thanh lý tài sản
- Lãi tiền gửi, lãi cho vay vốn, lãi bán hàng trả chậm
- Chênh lệch do bán ngoại tệ
- Kết dư cuối năm các khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho, dự phòng giảm giá
chứng khoán, dự phòng bù đắp các khoản phải thu khó đòi

theo thuế suất 32% mà phần thu nhập còn lại cao hơn 20% vốn chủ sở hữu hiện có thì
số vượt trên 20% phải chịu thuế TNDN bổ sung với thuế suất 25%. Thu nhập chịu
thuế TNDN bổ sung được xác định bằng cách lấy thu nnhập còn lại( sau khi nộp thuế
TNDN theo thuế suất 32%) trừ đi 20% vốn chủ sở hữu hiện có.
Tạm thời chưa thu thuế TNDN bổ sung đối với các cơ sở kinh doanh sau :
+ Các cơ sở sản xuất, kinh doanh được áp dụng thuế suất TNDN 25% trong thời
hạn 3 năm, kể từ ngày 1/1/1999.
+ Các dự án đầu tư thuộc lĩnh vực, ngành nghề, địa bàn khuyến khích đầu tư
được hưởng mức thuế suất thuế TNDN ưu đãi.
+ Các cơ sở sản xuất nếu xuất khẩu trên 50% sản phẩm sản xuất ra hoặc có
doanh thu xuất khẩu chiếm 50% tổng doanh thu.
+ Các hộ kinh doanh.
+ Các đơn vị sự nghiệp hưởng kinh phí ngân sách cấp, không được cấp vốn kinh
doanh thì không phải nộp thuế TNDN bổ sung. Trường hợp hoạt động có thu đã
thực hiện chế độ kế toán theo pháp lệnh kế toán thống kê hiện hành, xác định
được vốn chủ sở hữu thì phải nộp thuế TNDN bổ sung( nếu có ).
- Đối với các dự án đầu tư mới thuộc các lĩnh vực, ngành nghề, địa bàn ưu đãi đầu tư
được áp dụng thuế suất thuế TNDN như :
+ Nếu thuộc các lĩnh vực, ngành nghề được ưu đãi đầu tư theo quy định của
Chính phủ được hưởng mức thuế suất ưu đãi là 25%.
+ Nếu dự án đầu tư thuộc lĩnh vực, ngành nghề ưu đãi đầu tư, đồng thời đầu tư
vào huyện thuộc vùng dân tộc thiểu số miền núi và hải đảo, vùng có khó khăn
khác theo quy định của Chính phủ được hưởng mức thuế suất 20%. + Nếu dự án thuộc lĩnh vực, ngành nghề ưu đãi đầu tư, đồng thời đầu tư vào
huyện thuộc vùng dân tộc thiểu số ở miền núi cao theo quy định của Chính phủ
được hưởng mức thuế suất 15%.
- Đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động theo luật đầu tư
nước ngoài tại Việt Nam, áp dụng thuế suất chung là 25%.

- Kiểm tra tờ khai đăng ký: Phòng quản lý thu kiểm tra các chỉ tiêu kê khai trên tờ
đăng ký thuế của các doanh nghiệp, phát hiện nếu có sai sót thì liên hệ với doanh
nghiệp để chỉnh sửa. Sau đó, chuyển tờ khai đăng ký thuế đã kiểm tra cho phòng KH-
KT-TK.
- Nhập đăng ký thuế và cấp mã số thuế: Phòng KH-KT-TK nhận các tệp tờ khai
đăng ký thuế của các chi cục từ phòng hành chính và các tờ khai đăng ký thuế của các
doanh nghiệp từ phòng quản lý thu, thực hiện nhập các thông tin trên tờ khai đăng ký
thuế vào máy tính. Máy tính sẽ gán mã số thuế cho ĐTNT. Cán bộ nhập đăng ký thuế
sẽ ghi lại mã số của ĐTNT vào tờ khai đăng ký.
- Chuyển dữ liệu đăng ký thuế về Tổng cục: Phòng KH-KT-TK Cục thuế truyền dữ
liệu đăng ký thuế về Tổng cục thuế để kiểm tra sự trùng lắp mã số thuế trên phạm vi
toàn quốc.
- Kiểm tra tại Tổng cục: Tổng cục kiểm tra dữ liệu đăng ký thuế các cục thuế trên
phạm vi toàn quốc để tránh việc đăng ký trùng lắp, đồng thời kiểm tra quan hệ doanh
nghiệp chủ quản với đơn vị trực thuộc thông qua mã số thuế. Gửi trả kết quả kiểm tra
cho cục thuế .
- In giấy chứng nhận cấp mã số thuế: Phòng KH-KT-TK nhận kết quả kiểm tra từ
Tổng cục. Đối với các trường hợp được chấp thuận thì tiến hành in Giấy chứng nhận
đăng ký thuế và bảng kê danh sách mã số ĐTNT chuyển cho các phòng quản lý thu
và các Chi cục thuế để gửi tới ĐTNT. Các trường hợp không được chấp thuận, phòng
KH-KT-TK thực hiện in thông báo mã số thuế tạm để cấp cho ĐTNT, nhưng đồng
thời yêu cầu các phòng quản lý thu và các Chi cục thuế liên hệ với các ĐTNT hoàn
chỉnh tờ khai để được cấp Giấy chứng nhận đăng ký thuế chính thức.
* Quy trình xử lý tờ khai, chứng từ nộp thuế - Hướng dẫn ĐTNT lập tờ khai thuế: Phòng quản lý thu hướng dẫn và nhắc nhở các
doanh nghiệp lập tờ khai thuế TNDN theo mẫu và gửi cơ quan thuế chậm nhất ngày
25 tháng 1 hàng năm.
- Tiếp nhận tờ khai : Phòng hành chính nhận tờ khai thuế, ghi sổ theo dõi việc nhận

năm. Nếu quá thời hạn này, doanh nghiệp chưa sửa xong tờ khai thì phòng quản lý
thu tiến hành ấn định thuế theo Luật định.
- ấn định thuế: Phòng quản lý thu theo dõi ĐTNT không nộp tờ khai và các ĐTNT
quá hạn sửa lỗi tờ khai để thực hiện việc ấn định thuế cho các đối tượng này. Phòng
quản lý thu lập danh sách ấn định thuế cho kỳ thuế theo mẫu và gửi phòng KH-KT-
TK để tính thuế. Đối với thuế TNDN, sau 6 tháng đầu năm, nếu ĐTNT có sự thay đổi
lớn về thu nhập chịu thuế và có đầy đủ thủ tục đề nghị thay đổi, phòng quản lý thu
kiểm tra tờ khai điều chỉnh về các chỉ tiêu kê khai và xác định có đúng đối tượng điều
chỉnh không. Sau đó, làm thủ tục chuyển tờ khai điều chỉnh đã kiểm tra cho phòng
KH-KT-TK để tính lại số thuế phải nộp của 2 quý cuối năm.
- In thông báo thuế :
+ Thông báo thuế lần một: Phòng KH-KT-TK tính nợ kỳ trước chuyển sang, tính
thuế phải nộp kỳ này dựa vào tờ khai và danh sách ấn định thuế và in thông báo thuế .
Khi nộp thuế TNDN kê khai nộp cả năm, máy tính sẽ tự động tính thuế TNDN quý 1
bằng 1/4 số thuế kê khai nộp cả năm. Số thuế TNDN các quý sau, nếu phòng quản lý
thu thấy cần điều chỉnh thì lập danh sách và số thuế phải nộp.
+ Thông báo thuế lần hai: Qua theo dõi thu nộp của ĐTNT, phòng quản lý thu lựa
chọn đề xuất danh sách ĐTNT quá hạn nộp thuế ghi trên thông báo thuế mà vẫn chưa
nộp thuế để gửi phòng KH-KT-TK phát hành thông báo thuế lần 2. Số tiền trong
thông báo thuế lần 2 gồm số tiền chưa nộp và số tiền nộp chậm.
+ Ký và gửi thông báo thuế : Thông báo thuế in xong được chuyển cho lãnh đạo cục
thuế ký. Sau đó chuyển cho phòng hành chính sao thành 2 bản, đóng dấu và gửi cho
ĐTNT 1 bản, 1 bản cho phòng quản lý thu lưu vào sổ hồ sơ của doanh nghiệp.
- Xử lý phạt : + Tính phạt nộp chậm: Phòng KH-KT-TK tính phạt 0,1%/ngày trên số tiền thuế nộp
chậm đối với các ĐTNT tiền thuế .Việc tính phạt nộp nộp chậm căn cứ vào số ngày
và số thuế chậm nộp. Phòng KH-KT-TK lập danh sách phạt nộp chậm theo mẫu để
trình lãnh đạo duyệt. Kết quả duyệt được đưa vào số thuế ĐTNT phải nộp cho kỳ thuế

- Xử lý danh sách ĐTNT có nghi vấn: Phòng TT-XL-TT và các phòng quản lý thu
khai thác và phân tích thông tin về ĐTNT có nghi vấn về tờ khai, phân tích các thông
tin có nghi vấn.
- Kiểm tra trực tiếp ĐTNT: Phòng TT-XL-TT phối hợp với phòng quản lý thu thực
hiện kiểm tra trực tiếp tại cơ sở theo các quy trình kiểm tra quy định của ngành. Kết
quả kiểm tra được các phòng này lập danh sách theo mẫu gửi về phòng KH-KT-TK
để điều chỉnh số thuế phải nộp.
- Nhập kết quả sau kiểm tra: Phòng KH-KT-TK nhận và nhập danh sách kết quả
kiểm tra, điều chỉnh số thuế phải nộp kỳ hiện tại.
- Lập sổ thuế, báo cáo kế toán, thống kê thuế: Phòng KH-KT-TK lập sổ thuế, báo
cáo kế toán, thống kê thuế theo chế độ quy định. Thực hiện đối chiếu số thu với kho
bạc, theo dõi tiến độ thực hiện ké hoạch của các đơn vị trong ngành báo cáo lãnh đạo
cục thuế và Tổng cục thuế để phục vụ công tác chỉ đạo thu.
* Quy trình xử lý hoàn thuế :
- ĐTNT lập và gửi hồ sơ đề nghị hoàn thuế
- Tiếp nhận hồ sơ: Phòng hành chính nhận hồ sơ hoàn thuế và ghi vào sổ nhận hồ sơ
theo mẫu, sau đó đóng dấu ngày nhận vào đơn đề nghị xét hoàn thuế và chuyển các
phòng quản lý thu.
- Kiểm tra hồ sơ, xác định số thuế được hoàn: Phòng quản lý thu tiến hành kiểm tra
các thủ tục hồ sơ đề nghị hoàn thuế của ĐTNT. Sau khi kiểm tra hồ sơ đề nghị hoàn
thuế, nếu phát hiện hồ sơ lập không đầy đủ thì cán bộ phòng quản lý thu thông báo lại
cho ĐTNT biết để bổ sung, chỉnh sửa kịp thời.
- Lãnh đạo duyệt: Lãnh đạo xem xét, duyệt các trường hợp được hoàn thuế và ký
quyết định hoàn thuế. Quyết định hoàn thuế được chuyển tới phòng hành chính.
- Gửi và lưu các quyết định hoàn thuế : Phòng hành chính sao quyết định hoàn thuế
thành 3 bản, đóng dấu, lấy số công văn và gửi 1 bản cho ĐTNT; 1 bản cho kho bạc tỉnh, thành phố để làm thủ tục hoàn thuế ; 1 bản gửi phòng quản lý thu để theo dõi
việc thực hiện hoàn thuế, sau đó lưu vào hồ sơ của ĐT NT.

phòng hành chính.
- Lập danh sách miễn, giảm, tạm giảm thuế : Phòng quản lý thu căn cứ vào quyết
định miễn, giảm, tạm giảm thuế để lập danh sách kết quả miễn, giảm, tạm giảm thuế
theo mẫu, lãnh đạo phòng quản lý thu ký xác nhận danh sách.
- Điều chỉnh số thuế phải nộp: Phòng KH-KT-TK nhận danh sách kết quả quyết định
miễn, giảm, tạm giảm thuế, nhập số thuế được miễn, tạm giảm hoặc giảm để điều
chỉnh số thuế phải nộp từng kỳ của ĐTNT.
- Lưu hồ sơ: Phòng quản lý thu tổ chức lưu hồ sơ, quyết định, các biên bản kiểm tra
và quyết định xử lý về giảm, tạm giảm thuế vào hồ sơ của từng doanh nghiệp.
* Quy trình xử lý quyết toán thuế :
- ĐTNT lập và gửi quyết toán thuế: ĐTNT trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày kết
thúc năm dương lịch, phải lập và gửi quyết toán thuế cho cơ quan thuế.
Đối với ĐTNT chia, tách, sát nhập, giải thể…phải lập và nộp quyết toán thuế cho
cơ quan thuế thời hạn 45 ngày kể từ khai có quyết định sát nhập, chia, tách, giải thể…
Phòng quản lý thu giải đáp vướng mắc về thủ tục lập quyết toán thuế cho các
ĐTNT theo đúng quy định.
- Nhận quyết toán thuế: Phòng hành chính nhận quyết toán thuế và ghi vào sổ nhận
quyết toán thuế theo mẫu, sau đó đóng dấu ngày nhận vào quyết toán thuế và chuyển
các phòng quản lý thu.
- Kiểm tra số liệu quyết toán thuế:
+ Kiểm tra ban đầu: Phòng quản lý thu nhận quyết toán thuế, kiểm tra phát hiện
các chỉ tiêu kê khai sai trong quyết toán thuế như : Ghi sai tên ĐTNT, không ghi hoặc
ghi sai mã số thuế, khai thiếu chỉ tiêu trong quyết toán hoặc sai mẫu, các chỉ tiêu về
tiền kê khai bằng ngoại tệ. Đối với các lỗi này, cán bộ phòng quản lý thu liên hệ với
ĐTNT để chỉnh sửa và các thông tin chỉnh sửa phải được ghi lại bằng phiếu điều
chỉnh theo mẫu.
+ Kiểm tra xác minh số liệu quyết toán thuế: Đối với các bản quyết toán thuế kê
khai không rõ ràng, đầy đủ chứng từ chứng minh số liệu, phòng quản lý thu kiểm tra

yếu chịu sự ảnh hưởng rất lớn của các khoản chi phí. Do đó, cần phải xác định chính
xác các khoản chi phí được khấu trừ, đó là:
- Các khoản chi phí được khấu trừ phải là các khoản chi phí có liên quan tới việc tạo
ra thu nhập của công ty.
- Các khoản chi phí được khấu trừ phải là các khoản chi phí thực sự có chi ra.
- Các khoản chi phí được khấu trừ phải là các khoản chi phí có mức trả hợp lý.
- Các khoản chi phí được khấu trừ phải là các khoản chi phí có tính thu nhập hơn tính
vốn. Những khoản chi phí có tính vốn được hiểu là những khoản chi phí có liên quan
đến cơ cấu vốn.
Tuy nhiên có những nguyên tắc chung để xác định các khoản chi phí được khấu
trừ, song trên thực tế nhiều khoản chi phí không nằm trong phạm vi các nguyên tắc
trên , nhưng với xu hướng phát triển cần phải xem xét khi đánh thuế thu nhập Công
ty. Đó là các khoản chi phí sau :
- Các khoản lợi tức cổ phần phải trả. Cổ tức tượng trưng cho phần được chia từ lợi
nhuận của công ty sau khi đã chịu thuế. Do đó, cổ tức mà cổ đông nhận được tiêu
biểu cho thu nhập đã bị đánh thuế rồi. Nếu cổ đông bị đánh thuế trên lợi tức cổ phần
thì họ đã phải chịu thuế hai lần cho cùng một thu nhập của họ. Đã có nhiều nước áp
dụng chính sách cho phép lợi tức cổ phần được hưởng mức thuế đặc biệt để loại bỏ
hay giảm đi yếu tố đánh thuế hai lần.
Phương án đầu tiên và cũng là phương án đơn giản nhất đó là miễn thuế lợi tức cổ
phần. Như vậy công ty sẽ phải trả thuế trên lợi nhuận của công ty, khi công ty chia lợi
nhuận đã chịu thuế ra thành cổ tức và các cổ đông sẽ không phải trả thêm thuế nữa.
Đây là phương pháp đang được sử dụng ở Hồng Kông nhưng ít được các quốc gia
khác áp dụng. Tại Việt Nam, thuế TNDN không đánh trên phần cổ tức thu được do
doanh nghiệp góp cổ phần ( vì đã nộp ở đơn vị nhận vốn) để tránh đánh thuế hai lần.
Phương án thứ hai là áp dụng chế độ miễn thuế từng phần. Tức là một phần cổ tức
phải chịu thuế và phần còn lại không phải chịu thuế. Một số quốc gia đã áp dụng
phương án này như ở Đài Loan: 80% lợi tức cổ phần của một công ty nhận được từ
các cổ phần của họ trong một công ty khác được miễn thuế, 20% còn lại phải chịu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status