Tóm tắt luận: Một số biện pháp phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh thông qua dạy học phần hóa học vô cơ lớp 11 trường THPT - Pdf 38

MỞ ĐẦU
1
LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Để đáp ứng các yêu cầu đổi mới của thời đại và đất nước, đặc biệt yêu cầu của sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá thì phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những
động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là điều kiện phát huy
nguồn lực con người, yếu tố phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững. Bên
cạnh năng lực về chuyên môn, người lao động phải có năng lực hành động, tự chủ năng
động sáng tạo, có năng lực giải quyết các vấn đề thường gặp, luôn luôn theo kịp được với
sự tiến bộ nhanh chóng của khoa học kỹ thuật, có đạo đức, biết giữ gìn bản sắc truyền
thống dân tộc.
Mục đích của việc đổi mới phương pháp dạy học hóa học ở trường phổ thông nói
chung và dạy học phần hóa học vô cơ nói riêng là thay đổi lối dạy học truyền thụ một chiều
sang dạy học theo “phương pháp dạy học tích cực” nhằm giúp học sinh phát huy tính tích
cực, tự giác, sáng tạo, rèn luyện thói quen và khả năng tự học, tinh thần hợp tác, kỹ năng
vận dụng kiến thức vào những tình huống khác nhau trong học tập và thực tiễn, tạo niềm
tin, niềm vui hứng thú trong học tập.
Hiện nay khoa học và công nghệ phát triển với sức thần tốc kỳ diệu đó là sự ra đời của
Máy tính và Internet. Nhưng bộ não là một phần lãnh thổ lớn nhất chưa được khám phá hết
trên thế giới. Bộ não giúp chúng ta học tập suốt đời, từ khi sinh ra cho đến khi không còn có
mặt trên trái đất này. Do đó việc phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh ngay từ khi ngồi
trên ghế nhà trường là điều rất cần thiết. Từ những lý do trên, với mong ước góp phần vào
việc nâng cao chất lượng dạy học nói chung và chất lượng dạy học hóa học nói riêng; đồng
thời góp phần đào tạo cho đất nước một thế hệ trẻ năng động, sáng tạo đáp ứng được yêu
cầu của xã hội hiện nay, em đã chọn đề tài: “Một số biện pháp phát triển năng lực sáng
tạo cho học sinh thông qua dạy học phần hóa học vô cơ lớp 11 trường THPT”
2
MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Lựa chọn, đề xuất một số biện pháp rèn luyện năng lực sáng tạo (NLST) cho học sinh
thông qua dạy học phần hóa học vô cơ lớp 11, góp phần nâng cao chất lượng dạy học hóa
học tại trường THPT hiện nay.

Biện pháp rèn luyện và phát triển NLST cho học sinh thông qua dạy học hóa học vô cơ
(lớp 11) chương trình hóa học THPT.
3
Lịch sử nghiên cứu
Đã có một vài luận văn làm về vấn đề này như:
- Nguyễn Thị Tùng Diệp (2012), Một số biện pháp phát triển năng lực sáng tạo của học sinh
thông qua bài tập hóa học vô cơ (phần phi kim lớp 10), Luận văn Thạc sĩ, trường ĐHSP Hà
Nội.
- Vương Cẩm Hương (2006), rèn luyện năng lực chủ động, sáng tạo cho học sinh trong dạy
học hóa học ở trường THCS, Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục, Hà Nội.
- Trần Thị Thu Huệ, Phát triển một số năng lực của học sinh THPT thông qua phương pháp
và sử dụng thiết bị trong dạy học hóa học vô cơ, Luận án tiến sĩ.
- Nguyễn Thị Hồng Gấm, Phát triển năng lực sáng tạo cho sinh viên thông qua dạy học hóa
vô cơ và lý luận – phương pháp dạy học hóa học ở trường cao đẳng sư phạm.
6
PHẠM VI ĐỀ TÀI
Nghiên cứu Hóa học vô cơ lớp 11 trường THPT.
7
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1
Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
2
Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
3
Phương pháp toán học
8
CẤU TRÚC LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, luận văn được chia thành ba chương:
9
ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN

Cũng có thể hiểu đơn giản sáng tạo chỉ là tìm ra một cách mới để làm việc hoặc làm cho
công việc đó trôi chảy hơn.
3
Những quan niệm về năng lực sáng tạo ở học sinh
Năng lực sáng tạo chính là khả năng thực hiện được những điều sáng tạo. Đó là biết
làm thành thạo và luôn đổi mới, có những nét độc đáo riêng luôn phù hợp với thực tế. Luôn
biết và đề ra những cái mới khi chưa được học, nghe giảng, đọc tài liệu hay tham quan về
việc đó nhưng vẫn đạt kết quả cao.
Những biểu hiện của năng lực sáng tạo
Biết trả lời nhanh, chính xác câu hỏi của giáo viên, biết phát hiện những vấn đề mấu chốt,
tìm ra ẩn ý trong những câu hỏi, bài tập, vấn đề mở nào đó.
2

2

-

3


- Dám mạnh dạn đề xuất những cái mới, không theo đường mòn, không theo những quy tắc
-

1.1.1.

đã có và biết cách biện hộ, phản bác về vấn đề đó.
Biết tự tìm ra vấn đề, tự phân tích, tự giải quyết đúng với những bài tập mới, vấn đề mới.
Biết vận dụng những tri thức thực tế để giải quyết vấn đề khoa học và ngược lại biết vận
dụng những tri thức khoa học để đưa ra những sáng kiến, những giải thích và áp dụng phù
hợp vào từng trường hợp.

- Hướng 2: Tăng cường khả năng tự vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn luôn biến đổi.
- Hướng 3: Chuyển dần trọng tâm của phương pháp dạy học từ tính chất thông báo, tái hiện
đại trà chung cho cả lớp sang tính chất phân hoá cá thể cao độ, tiến lên theo nhịp độ cá
nhân.
Hướng 1, 2, 3 để hoàn thiện chất lượng các phương pháp dạy học hiện có.
4


1
2
3

1

1.1.2.

- Hướng 4: Liên kết nhiều phương pháp dạy học riêng rẽ thành tổ hợp phương pháp dạy học
phức hợp.
- Hướng 5: Liên kết phương pháp dạy học với các phương tiện kỹ thuật dạy học hiện đại
(phương tiện nghe nhìn, máy vi tính,…) tạo ra các tổ hợp phương pháp dạy học có dùng kỹ
thuật.
- Hướng 6: Chuyển hóa phương pháp khoa học thành phương pháp dạy học đặc thù của
môn học.
- Hướng 7: Đa dạng hóa các phương pháp dạy học, cấp học, bậc học, các loại hình trường
và các môn học.
Hướng 4, 5, 6, 7 để sáng tạo nên những phương pháp dạy học mới.
Việc đổi mới phương pháp dạy học bộ môn Hóa học cũng tuân theo 7 hướng nêu trên,
nhưng trước mắt là tập trung vào 2 hướng chính: dạy học lấy người học làm trung tâm (dạy
học định hướng vào người học) và dạy học theo hướng hoạt động hóa người học.
Dạy học lấy người học làm trung tâm

5


1.3. THỰC TRẠNG BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC SÁNG TẠO CHO HỌC SINH KHI
DẠY HỌC PHẦN HÓA HỌC VÔ CƠ LỚP 11 Ở MỘT SỐ TRƯỜNG THPT Ở
HÀ NỘI
Chúng tôi đã tiến hành điều tra việc dạy và học hóa học ở 4 trường THPT.
- Qua việc điều tra cho thấy rằng có đến 62.5% GV có những nỗ lực đáng kể trong việc
nâng cao chất lượng DH, thường xuyên chú ý đến yêu cầu bồi dưỡng năng lực sáng tạo cho
HS. Tuy nhiên, còn 37.5% GV đôi khi mới chú ý đến việc bồi dưỡng năng lực sáng tạo cho
HS. - Một số GV trong giờ học bài mới, thường chỉ đặt những câu hỏi có tính dẫn dắt, gợi
mở kiến thức, ít khi đặt những câu hỏi liên hệ giữa chất này với chất khác hoặc mối liên hệ
giữa kiến thức đã học với thực tế đời sống làm cho môn hóa học xa rời thực tế đời sống và
sản xuất.
- Trong giờ luyện tập hay ôn tập tổng kết nhiều khi GV chỉ ôn lại kiến thức cũ theo SGK
không có những câu hỏi mở hay cho những BT có nhiều phương án trả lời, chỉ giải BT theo
phương án đã định sẵn, ít khi khuyến khích HS nêu nhiều cách giải từ đó rút ra cách giải
hay nhất. Thậm chí một số GV còn áp đặt cách giải đối với HS của mình. Vì thế HS thường
chỉ xem xét vấn đề theo một con đường nhất định không chịu đào sâu suy nghĩ.
- Nghiệp vụ sư phạm đặc biệt là kỹ năng thí nghiệm và hướng dẫn thí nghiệm, kỹ năng sử
dụng các phương tiện DH hiện đại như máy chiếu , máy vi tính… còn lúng túng chưa thành
thạo. Việc sử dụng các PPDH tích cực còn hạn chế.
- Việc dạy của GV còn nhiều tồn tại nên tạo cho HS phương pháp học tập thụ động, chỉ cần
học thuộc những gì thầy cô cho ghi chép, không chịu suy luận, động não. Do vậy, khi gặp
phải những tình huống mới, những bài tập đòi hỏi phải có tư duy sáng tạo thì HS lúng túng
không trả lời được.
- Hầu như các GV đều chưa nắm được hết các biện pháp cần dùng để rèn luyện năng lực
sáng tạo cho HS. Các GV được hỏi đều không nêu được biện pháp nào cụ thể mà chỉ nói
chung chung, hay chỉ nêu được một biện pháp.
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

hệ giữa cấu tạo với tính chất vật lý và tính chất hóa học, mối quan hệ giữa cấu tạo – tính
chất – điều chế, tính chất hóa học – hiện tượng tự nhiên,… để phát hiện ra mâu thuẫn, lôi
cuốn HS vào vấn đề nghiên cứu một cách tự giác.
Bước 2: Phát biểu vấn đề
GV hướng dẫn HS phát biểu các vấn đề cần giải quyết.
Bước 3: Xác định phương hướng giải quyết – đề xuất giả thuyết
GV đưa ra phương hướng giải quyết, nêu giả thuyết hoặc đưa ra các câu hỏi để HS tự đề
xuất giả thuyết.
Bước 4+5: Lập kế hoạch giải và giải theo giả thuyết
GV hướng dẫn HS nghiên cứu tài liệu, phân tích, tổng hợp, so sánh, và trả lời các câu hỏi,
phủ nhận điều này, xác định điều kia để đi đến thống nhất một vấn đề.
Bước 6: Đánh giá kế hoạch giải quyết
Kiểm tra hệ thống câu trả lời về nội dung và logic lập luận để xác định xem giả thuyết đúng
hay sai.
Bước 7: Kết luận về lời giải
GV nêu lên các kiến thức cần lĩnh hội, kiến thức cần hệ thống và ghi nhớ.
Bước 8: Kiểm tra lại kiến thức vừa tiếp thu ở các ví dụ khác
Tập luyện cho HS phát hiện và giải quyết vấn đề trong các bài học có sử dụng thí nghiệm
hóa học.
1
Vai trò của thí nghiệm trong việc tạo các tình huống có vấn đề trong dạy học hóa
học.
2
Các ví dụ về sử dụng thí nghiệm để giải quyết các tình huống có vấn đề
Chúng tôi đã nêu ra 4 ví dụ về sử dụng thí nghiệm để giải quyết các tình huống có
vấn đề, ở đây xin nêu ra 1 ví dụ:
Ví Dụ 1: Giải quyết vấn đề tính oxi hóa của axit nitric HNO 3
Trước hết GV nêu vấn đề lớn cho cả bài học: Axit nitric loãng có tác dụng với kim loại
đứng sau hidro trong dãy điện hóa của kim loại không? Nếu xảy ra thì có cần điều kiện gì
không? Axit nitric đặc thì có phản ứng được với kim loại đứng sau hidro không? Nếu có thì

muối đồng không?
- Hãy viết phương trình phản ứng? nhận xét bản chất của phản ứng? Chất nào là chất khử?
Chất nào là chất oxi hóa? Từ đó, kết luận gì thêm về tính chất của dung dịch HNO 3?
Bước 4: Xác định một giả thuyết đúng
- Dung dịch HNO3 loãng không tác dụng với Cu, chỉ tác dụng khi đun nóng. Dung dịch
HNO3 đặc có thể tác dụng với Cu kể cả khi không đun nóng.
- Chất khi sinh ra ở ống nghiệm 1 là khí không màu, bị hóa nâu trong không khí không phải
là khí H2 mà là khí NO. Còn khí sinh ra ở ống nghiệm 2 có màu nâu đỏ là khí NO 2.
- Dung dịch tạo thành màu xanh là dung dịch đồng nitrat Cu(NO 3)2.
- HS viết phương trình phản ứng:
3Cu + 8HNO3 loãng, nóng → 3Cu(NO3)2 + 2NO↑ + 4H2O
Cu + 4HNO3 đặc → Cu(NO3)2 + 2NO2↑ + 2H2O
Trong cả 2 phương trình phản ứng Cu đóng vai trò là chất khử, HNO 3 đóng vai trò là chất
oxi hóa.

8


1.3.1.

GV: dung dịch HNO3 là một trong những axit có tính oxi hóa mạnh. Đây là tính chất mới
khác với những tính chất của axit mà chúng ta đã biết. Phản ứng giữa kim loại với axit nitric
là phản ứng oxi hóa – khử.
Bước 5: Kết luận về lời giải
GV chỉnh lý, bổ sung mà đưa ra những kiến thức cần lĩnh hội:
- Ngoài tính axit HNO3 còn có tính oxi hóa mạnh, nó có thể oxi hóa hầu hết các kim loại
(trừ Au, Pt). khi đó kim loại sẽ bị oxi hóa đến mức hóa trị cao nhất tạo muối nitrat.
- Tùy nồng độ axit và bản chất của chất khử mà axit HNO 3 có thể bị khử đến các sản phẩm
khác nhau của nitơ. Chẳng hạn: tác dụng với các kim loại có tính khử yếu như Cu, Ag,…
axit HNO3 đặc bị khử đến NO2, còn axit HNO3 loãng thì bị khử đến NO. Còn đối với những

gọn, độc đáo nhất.

1.3.2.
1.3.3.

Sử dụng bài tập hóa học có nhiều cách giải trong các tiết luyện tập, ôn tập cuối chương
Sử dụng bài tập hóa học có nhiều cách giải trong việc kiểm tra và đánh giá.

9


1.3.4.
1.3.5.

Sử dụng bài tập hóa học có nhiều cách giải trong việc dạy học các tiết tự chọn.
Lựa chọn và xây dựng hệ thống bài tập nhiều cách giải về sự điện ly để phát triển năng
lực sáng tạo cho học sinh.
Bài tập: Cho 0,5 lít dung dịch X gồm NaOH 0,04M và Ba(OH)2 0,03M được trung hòa
bằng V lit dung dịch HCl 0,05M. V có giá trị là?
Các cách giải:
,
Cách 1: Phương pháp tính theo phương trình hóa học
NaOH + HCl → NaCl + H2O
0,02
0,02
Ba(OH)2 + 2HCl → BaCl2 + 2H2O
0,015
0,03
Ta có
Vậy

Fe2O3 + 6 HNO3

Fe(NO3)3 + NO2 + 2 H2O (1)
3 Fe(NO3)3 + NO2 + 5 H2O (2)

2 Fe(NO3)3 + 3 H2O (3)

nNO = 0,2 mol ; nFe ( NO ) = 0,6 mol
2

3 3

Giả thiết cho
Theo phương trình (1) ; (2) ; (3) ta có :
x + 3y + 2z = 0,6 => 10x + 30 y + 20 z = 6 (*)
Và x + y = 0,2 (**)
Lấy (*) – (**), ta được : 9x + 29 y + 20 z = 5,8
=> 72x + 232 y + 160 z = 46,4 g.
10


Vậy m = 46,4 g.
Cách 2: Áp dụng định luật bảo toàn mol electron và bảo toàn khối lượng đối với hỗn hợp
X:
Theo định luật bảo toàn khối lượng : mX = m Fe + mO

nFe ( NO ) = 0,6 mol
3 3

Mặt khác, ta có

n H2 O =

1
1
n HNO3pu => m H2 O = 18. .(3.0, 6 + 0, 2) = 18 g
2
2

m X = 145, 2 + 0, 2.46 + 18 − 126 = 46, 4 g

=>
Cách 4: Qui đổi hỗn hợp X thành hỗn hợp X’ : FeO và Fe2O3 hoặc Fe và Fe2O3 hoặc FeO và
Fe3O4 ; hoặc Fe và FeO hoặc Fe và Fe3O4.
Ở đây ta giải chi tiết trường hợp qui đổi hỗn hợp X thành hỗn hợp X’ gồm FeO và
Fe2O3.
Gọi x, y lần lượt là số mol của FeO và Fe2O3 trong X’
Phản ứng :
FeO + 4 HNO3
x




Fe(NO3)3 + NO2 + 2 H2O (1)
→x
→ x





Áp dụng định luật bảo toàn điện tích 2 vế ta có :
Ta lại có :
Từ (1) và (2) suy ra
Vậy :
Cách 7: Giải theo hóa trị trung bình của sắt :
Gọi hóa trị trung bình của sắt trong cả hỗn hợp X là . Khi đó công thức của X là :
Áp dụng định luật bảo toàn mol- e cho phản ứng của X với HNO 3, ta có :

Ta lại có :
Nên :
Mặt khác, theo bảo toàn nguyên tố Fe, ta có
Vậy :
Cách 8: Giải theo bảo toàn nguyên tố oxi
Ta có
Suy ra



Hỗn hợp X ( FeO,Fe2O3, Fe3O4) + HNO3
Fe(NO3)3 + NO2 + H2O
Áp dụng định luật bảo toàn nguyên tố O, ta có :
Suy ra :
=>
1.3.7.

Lựa chọn và xây dựng hệ thống bài tập nhiều cách giải về Cacbon – Silic để phát triển
năng lực sáng tạo cho học sinh .
Bài tập 1: Hòa tan hoàn toàn 23,8 gam hỗn hợp gồm một muối cacbonat của kim loại kiềm
và một muối cacbonat của kim loại kiềm thổ bằng dung dịch HCl thu được 0,2 mol CO2 và
dung dịch A. Cô cạn dung dịch A thu được bao nhiêu gam chất rắn?

x

2HCl

2ACl +

2x

BCO3

+

2HCl

A2CO3 +

2HCl

BCO3 +

2HCl










Vậy nếu số mol CO2 sinh ra là 0,2 mol thì khối lượng muối giải phóng ra sẽ tăng lên 0,2.11
= 2,2g. Khối lượng muối sau phản ứng là: 23,8 + 2.2 = 26 g.
1.4. Cho học sinh đề xuất bài tập hóa học mới, dựa theo bài tập gốc để phát triển NLST
cho học sinh
Giới thiệu một số bài toán hóa học vô cơ lớp 11 có nhiều cách giải tương tự như các bài đã
nêu ở mục 2.2. Trong luận văn chúng tôi đã nêu được 10 bài; dưới đây xin nêu 4 bài đề
xuất:
Bài tập gốc: Cho 11,2 lit khí CO2 (đktc) hấp thụ hết vào dd chứa 28 gam NaOH. Tính khối
lượng muối thu được sau phản ứng
Các phản ứng có thể xảy ra:
CO2 + NaOH → NaHCO3

(1)

CO2 + 2NaOH → Na2CO3 + H2O (2)
Theo số liệu đầu bài ta dễ dàng tính được: , .

13


→ Bài toán xảy ra cả 2 phương trình. Gọi x, y lần lượt là số mol CO2 tham gia phản ứng (1)
và (2) ta có: x + y = 0,5 và x + 2y = 0,7 → x = 0,3 và y = 0,2
Khối lượng các muối thu được:

Bài tập đề xuất của HS:
Bài đề xuất 1: Tính thể tích tối thiểu của dd NaOH 1M cần dùng để hấp thụ hết 3,36 lít CO 2
(đktc).
Bài đề xuất 2: Cho V lít CO2 (đktc) vào dd chứa a mol Ba(OH)2 và b mol dung dịch NaOH.
Tìm mối quan hệ giữa V, a, b để kết tủa thu được là lớn nhất.
Bài đề xuất 3: Cho 4,48 lít CO2 (đktc) vào m gam dd NaOH 8% thu được dd X trong đó có

Về mặt kiến thức: Ở nhiệt độ cao C khử được một số oxit kim loại, tạo kim loại và khí
CO2, khí CO2 làm đục nước vôi trong.
C

+

2CuO

CO2

+

Ca(OH)2

t0

2Cu

+

CO2

CaCO3

+ H2O

Thí nghiệm 2: Nhiệt phân muối NaHCO3.
Lấy một thìa nhỏ NaHCO3 vào ống nghiệm, đun nóng ống nghiệm trên ngọn lửa đèn
cồn. Quan sát hiện tượng xảy ra trên thành ống nghiệm và sự thay đổi ở ống nghiệm đựng
dung dịch Ca(OH)2

1.6. Sử dụng một số câu hỏi TNKQ và đề kiểm tra trong chương trình hóa vô cơ lớp 11
Chúng tôi đã giới thiệu 239 câu hỏi TNKQ, và 4 đề kiểm tra 45 phút; dưới đây là một số ví
dụ.
Bài 5. LUYỆN TẬP AXIT, BAZƠ VÀ MUỐI

Câu hỏi TNKQ (15 phút):
Câu 1: Dung dịch H2SO4 có pH = 2 thì nồng độ mol của H2SO4 trong dung dịch là
A. 0,010M.
B. 0,10M. C. 0,005M.
D. 0,050M.
2+
Câu 2: Dung dịch bazơ mạnh Ba(OH)2 có [Ba ] = 5.10–4. Dung dịch này có pH là:
A. 9,3
B. 8,7
C. 14,3
D. 11
Câu 3: Trộn 40ml dung dịch HCl 0,75M vào 160ml dung dịch gồm Ba(OH)2 0,08M và
KOH 0,04M. Màu của quỳ tím khi cho vào dung dịch sau khi trộn:
A. không đổi màu B. hoá xanh C. hoá đỏ
D. đỏ rồi xanh.
Câu 4: Độ điện li α của axit fomic, biết dung dịch 0,46% (D = 1g/ml) của axit này có pH=
3, là
A. 1%
B. 10%
C. 3%
D. 100%
Câu 5. Hoà tan 25g CuSO4.5H2O gam vào nước cất được 500ml dung dịch X.
pH và nồng độ mol của dung dịch X là
A. pH = 7; [CuSO4] = 0,20M
B. pH > 7; [CuSO4] = 0,3125M

Trường THPT
Bài kiểm tra số 2- Năm học 2012-2013
Tổ Hóa - Sinh
Môn: Hóa Học 11 Ban CB
Thời gian: 45 phút
Mã đề: 143
Họ tên học sinh: . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . ..Lớp: 11A . . .
I. TRẮC NGHIỆM: (3Đ)
Câu 1. Trong công nghiệp người ta điều chế N2 trực tiếp từ:
A. không khí
B. NH3 C. NH4NO2
D. HNO3
Cu 2. Hãy chọn câu đúng nhất:
A. Nitơ là một chất oxi hóa
B. Nitơ vừa là chất oxi hóa vừa là chất khử
C. Nitơ là một chất khử
D. Tất cả đều sai
Câu 3. Số oxi hóa của photpho trong các ion hay hợp chất P 2O3, PO43-, K2HPO4, PCl3 lần
lượt là
A. +3, +5, -5, +3. B. -3, +5, +5, +3. C. +3, +5, +5, +3. D. +3, +5, +5, -3.
Cu 4. Ion NH4+ có tên gọi:
A. Amoni B. Nitric
C. Hidroxyl
D. Amino
Cu 5. Công thức của phân urê là:
A. (NH4)2CO3.
B. (NH2)2CO3.
C. (NH2)2CO.
D. NH2CO.
Câu 6. Chất khí nào khi tan trong nước tạo thành dung dịch bazơ:

4NO + 6H2O
C. NH3 + HCl
NH4Cl
D. 8NH3 + 3Cl2
6NH4Cl + N2
Câu 13. Trong dd axit photphoric có các ion và phân tử:
A. H+, H2PO4-, HPO42-, PO43-, H3PO4. B. H2PO4-, HPO42-, PO43-, H3PO4.
C. H+, H2PO4-, HPO42-, PO43-.
D. H+, H2PO4-, PO43-, H3PO4.
Câu 14. Số oxi hóa của nitơ trong các hợp chất và ion : NH 4+, HNO3, NO2, NaNO2.lần lượt
là:
A. -3, +5, +2, +3. B. -3, +5, +4, +4. C. -3, +3, +4, +5. D. -3, +5, +4, +3.
Câu 15. Muối nào sau đây không tan trong nước?
A. Ca(HPO4). B. (NH4)3PO4. C. Na3PO4. D. Na2HPO4.
II. TỰ LUẬN : ( 7Đ):
Câu 1: (1,5đ) Viết phương trình hóa học của các phản ứng thực hiện dãy chuyển hóa sau
đây: Ghi rõ điều kiện (nếu có )
(1)
→

( 2)
→

(3)



(4)



xây dựng hệ thống bài tập có nhiều cách giải và có cách giải ngắn gọn, độc đáo nhất; Cho
học sinh đề xuất bài tập hóa học mới, dựa theo bài tập gốc để phát triển NLST cho học sinh;
Cho học sinh đề xuất giải pháp thay thế trong thí nghiệm thực hành để phát triển NLST cho
học sinh.
18


2. Đã lựa chọn và xây dựng một hệ thống gồm nhiều bài tập phong phú, đa dạng về nội
dung và hình thức thể hiện để phát triển NLST cho HS ở 3 chương của phần hóa học vô cơ
lớp 11.
3. Đã cho HS đề xuất bài tập mới dựa trên bài tập gốc với nhiều cách giải để phát triển
NLST cho HS.
4. Đã sử dụng bài tập vận dụng kiến thức giải quyết các vấn đề thực tiễn, tăng cường sử
dụng bài tập thực nghiệm hóa học.

1

2

CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM
6 Mục đích và nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm
Mục đích của thực nghiệm sư phạm
- Đánh giá hiệu quả của một số biện pháp mang tính phương pháp luận đã đề xuất, hệ thống
các dạng bài tập hóa học vô cơ lớp 11 đã nêu ra, thông qua xây dựng tiến trình luận giải mà
rèn luyện, phát triển NLST cho học sinh.
- Đối chiếu kết quả của lớp thực nghiệm với kết quả của lớp đối chứng để đánh giá khả năng
áp dụng những biện pháp đã đề xuất vào quá trình dạy học hóa học.
Nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm
Trên cơ sở những nội dung đã đề xuất ở chương 2, chúng tôi đã tiến hành thực nghiệm sư
phạm, nhằm giải quyết một số vấn đề sau:

lượng.
- Lựa chọn GV: Các GV có trình độ chuyên môn tốt, nhiệt tình hăng hái...
- Dạy ở 3 chương hóa học vô cơ lớp 11 và 3 bài kiểm tra 15 phút và 3 bài kiểm tra 45 phút ,
tương ứng các bài dạy TNSP.
- Đánh giá năng lực sáng tạo qua bảng kiểm, hồ sơ.....
Tổ chức thực nghiệm sư phạm
Để kết quả thực nghiệm chính xác hơn ở mỗi trường thực nghiệm chúng tôi đều chọn ra
2 lớp có sĩ số, có trình độ tương đương nhau và đều do một GV giảng dạy.
- Lớp đối chứng: giáo viên tiến hành dạy bình thường theo phân phối chương trình của
Bộ giáo dục .
- Lớp thực nghiệm: GV tiến hành dạy học sinh cũng theo phân phối chương trình có kết
hợp sử dụng hệ thống bài tập, đề kiểm tra đã biên soạn và những biện pháp đề xuất phát
huy năng lực sáng tạo cho học sinh mà chúng tôi yêu cầu đưa vào quá trình dạy học.
- Tiến hành kiểm tra: Để đánh giá kết quả TNSP, chúng tôi cho HS hai lớp đối chứng và
thực nghiệm làm 1 bài kiểm tra viết 15 phút sau mỗi bài và 1 bài kiểm tra viết 45 phút
sau mỗi chương.
Lập kế hoạch thực hiện
- Bước 1: Tác giả trao đổi với GV dạy thực nghiệm về mục đích của giáo án thực
nghiệm.
- Bước 2: GV trực tiếp dạy nghiên cứu giáo án thực nghiệm và nếu có thắc mắc hoặc bổ
sung thì thảo luận với tác giả.
- Bước 3: Tiến hành dạy.
Tại lớp đối chứng : GV dạy bình thường.
Tại lớp thực nghiệm : GV dạy theo hướng bồi dưỡng rèn luyện năng lực sáng tạo cho
HS theo giáo án thực nghiệm.
- Bước 4: Tiến hành khảo sát.
Cho 2 lớp đối chứng và thực nghiệm cùng làm một đề kiểm tra. Chấm bài kiểm tra và xử
lý điểm theo PP thống kê.
7


TN

ĐC

TN

ĐC

TN

ĐC

0

0

0

0.0

0.0

0.0

0.00

1

0


0.0

2.2

0.0

4.4

4

1

6

2.2

13.3

2.2

17.8

5

3

7

6.5


50.0

71.1

8

6

5

13.0

11.1

63.0

82.2

9

13

6

28.3

13.3

91.3


17.8

28.3

31.1

32.6

33.3
17.8

37.0

2
Bảng 3.1b: Bảng tính phương sai S ,độ lệch chuẩn S, hệ số biến thiên V và đại lượng kiểm
định T (bài luyện tập tính chất của cacbon, silic và các hợp chất của chúng – trường THPT
Phùng Khắc Khoan).
Lớp

XTB

S2

S

V

T

TN

loại học sinh theo kết quả
điểm (Bài Luyện tập về tính
chất của cacbon, silic và các
hợp chất của chúng – trường
Phùng Khắc Khoan)

30.0
TN
ĐC

20.0
10.0
0.0
YK

TB

K

G

120.0
100.0
80.0
60.0
40.0
20.0
0.0

TN

3
3
5
8
9
7
4
4
2
3
11A DC
45
3
3
5
6
9
7
6
3
2
1
5
* Thống kê chất lựợng kiểm tra:
Lớp Giỏi (9-10đ) Khá (7-8đ)
Số
%
Số
%
HS

24,4

Kém (1-2đ)
Số
%
HS
4
8,69
6

13,33


5

5

4

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3
Trong chương 3 chúng tôi đã thực hiện:
- Xác định mục đích, nhiệm vụ và nội dung của TNSP, lập kế hoạch TNSP.
- Tiến hành TNSP tại 4 trường trên địa bàn TP Hà Nội.
- Thu thập, xử lí, thống kê kết quả TNSP và phân tích kết quả TNSP.
- Nhiều HS ở các lớp thực nghiệm đã có được những biểu hiện của NLST như: biết giải
bài tập bằng nhiều cách, biết chọn những cách giải ngắn gọn, độc đáo; biết đề xuất những
bài tập mới dựa theo bài tập mẫu; biết đề xuất giải pháp thay thế trong khi làm thí
nghiệm thực hành; biết phát hiện và giải quyết một số vấn đề trong học tập hay trong
cuộc sống.





Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status