BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
LÊ THỊ TRINH
MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỢP
TÁC CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC
PHẦN VÔ CƠ LỚP 11
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGHỆ AN 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
LÊ THỊ TRINH
MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỢP
TÁC CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC
PHẦN VÔ CƠ LỚP 11
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Chuyên nghành: Lí luận và phương pháp dạy học bộ môn hóa học
Mã số: 60.14.01.11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học
A. KẾT LUẬN...............................................................................................................122
1. Đã nghiên cứu lí luận và thực tiễn làm cơ sở cho đề tài bao gồm: Phương hướng đổi
mới PPDH hóa học cùng với cơ sở phương pháp luận cho việc đổi mới PPDH, PPDH
tích cực...........................................................................................................................122
KÍ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
BTHH
TV
TNSP
TNKQ
TBDH
SGK
PTN
PTHH
PPDH
PP
HS
HH
GV
GD
DHHH
DH
THPT
GQVĐ
ĐC
TN
PHT
DHDA
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
UNESCO xác định bốn trụ cột của giáo dục thế kỷ XXI là: “ Học để biết, học để
làm, học để tự khẳng định mình và học để chung sống” có ý nghĩa rất quan trọng trong sự
thành công của mỗi cá nhân, góp phần tạo nên sức mạnh tổng hợp cho toàn xã hội. Mục
tiêu giáo dục của thế giới cho thấy rõ giáo dục không chỉ cung cấp kiến thức mà còn phải
hình thành cho người học những kĩ năng, thái độ để họ có thể sống và làm việc trong xã
hội luôn thay đổi sau khi hoàn thành chương trình giáo dục phổ thông.
Đi cùng với xu hướng đó, Đảng và Nhà nước ta cũng đã xác định: “Đầu tư cho giáo
dục là quốc sách hàng đầu”.
Trong luật Giáo dục của Việt Nam, phần mục tiêu giáo dục phổ thông ghi rõ: “Mục
tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể
chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động, sáng
tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa,…”
Sự phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế với những
ảnh hưởng của xã hội tri thức và toàn cầu hoá tạo ra những cơ hội nhưng đồng thời đặt
ra những yêu cầu mới đối với giáo dục trong việc đào tạo đội ngũ lao động. Đặc biệt là trong
thời đại ngày nay, khi mà công nghệ khoa học đang phát triển như vũ bão trên quy mô toàn
cầu, tri thức nhân loại không ngừng tăng lên thì vai trò của giáo dục ngày càng quan trọng
trong công tác đào tạo nguồn lực con người đáp ứng yêu cầu của xã hội mới.
Mặt khác thị trường lao động luôn đòi hỏi ngày càng cao ở đội ngũ lao động về năng
lực hành động, khả năng sáng tạo, sự linh hoạt, tính trách nhiệm, năng lực cộng tác làm
việc, khả năng giải quyết các vấn đề phức hợp trong những tình huống thay đổi. Trong
xã hội tri thức, việc phát triển kinh tế - xã hội dựa vào tri thức. Vì vậy giáo dục đóng vai
trò then chốt trong việc phát triển kinh tế xã hội thông qua việc đào tạo con người, chủ
thể sáng tạo và sử dụng tri thức. Việc gia nhập WTO của Việt Nam trước hết sẽ làm tăng
nhu cầu của thị trường lao động đối với đội ngũ nhân lực có trình độ cao.
năng lực hợp tác cho học sinh trong dạy học phần hóa vô cơ lớp 11 trung học phổ
thông" nhằm đóng góp một phần tư liệu cho việc giảng dạy bộ môn hóa học phù hợp với
xu hướng phát triển năng lực của học sinh theo xu hướng đổi mới ở nước ta hiện nay.
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Cho đến nay đã có một số đề tài nghiên cứu về vấn đề phát triển năng lực hợp tác
cho học sinh THPT trong dạy học hóa học. Tuy nhiên mỗi đề tài nghiên cứu ở một phần
khác nhau trong chương trình dạy học hóa học THPT và đang còn ở mức độ chưa được
sâu sắc. Ví dụ như một số đề tài sau:
- Đề tài "Sử dụng PPDH hợp tác theo nhóm nhỏ để nâng cao hiệu quả dạy học hoá
học lớp 10 THPT" của Lê Thị Cầm trường đại học Vinh – 2014
- Đề tài "Sử dụng phương pháp dạy học hợp tác nhóm nhỏ trong dạy học hóa học
lớp 11– chương trình nâng cao ở trường THPT" của Trần Thị Thanh Huyền -Trường Đại
học sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đề tài " Vận dụng phương pháp dạy học hợp tác theo nhóm trong các bài luyện
tập, ôn tập hóa học lớp 11 THPT" của Nguyễn Thị Khánh Chi - Trường Đại học sư phạm
Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đề tài "Sử dụng kỹ thuật mảnh ghép trong dạy học môn hóa lớp 11 ở trường trung
học phổ thông nhằm hình thành và phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sin h"
của Trịnh Thị Minh Tâm – Trường Đại học sư phạm Vinh.
3. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu và đề xuất một số biện pháp nhằm rèn luyện, phát huy năng lực hợp tác
cho HS thông qua việc dạy học hoá học phần hóa vô cơ 11 THPT, góp phần thiết thực
nâng cao chất lượng DH hoá học ở trường THPT.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài về phát triển năng lực hợp tác của
học sinh THPT.
- Nghiên cứu các PPDH theo hướng tích cực nhằm phát triển năng lực hợp tác cho
học sinh THPT.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Xu hướng đổi mới phương pháp dạy học hoá học [4], [6], [25]
1.1.1. Nhu cầu đổi mới phương pháp dạy học hóa học
Giáo dục phổ thông nước ta đang thực hiện bước chuyển từ chương trình giáo dục
tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, nghĩa là từ chỗ quan tâm đến
việc học sinh học được cái gì đến chỗ quan tâm học sinh vận dụng được cái gì qua việc
học. Để đảm bảo được điều đó, nhất định phải thực hiện thành công việc chuyển từ
phương pháp dạy học theo lối "truyền thụ một chiều" sang dạy cách học, cách vận dụng
kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành năng lực và phẩm chất; đồng thời phải chuyển
cách đánh giá kết quả giáo dục từ nặng về kiểm tra trí nhớ sang kiểm tra, đánh giá năng
lực vận dụng kiến thức giải quyết vấn đề, coi trọng cả kiểm tra đánh giá kết quả học tập
với kiểm tra đánh giá trong quá trình học tập để có thể tác động kịp thời nhằm nâng cao
chất lượng của các hoạt động dạy học và giáo dục.
Trước bối cảnh đó và để chuẩn bị cho quá trình đổi mới chương trình, sách giáo
khoa giáo dục phổ thông sau năm 2015, cần thiết phải đổi mới đồng bộ phương pháp dạy
học và kiểm tra đánh giá kết quả giáo dục theo định hướng phát triển năng lực người học.
1.1.2. Đổi mới phương pháp dạy học nhằm chú trọng phát triển năng lực của học sinh
Phương pháp dạy học theo quan điểm phát triển năng lực không chỉ chú ý tích cực
hoá học sinh về hoạt động trí tuệ mà còn chú ý rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề gắn
với những tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp, đồng thời gắn hoạt động trí tuệ với
hoạt động thực hành, thực tiễn. Tăng cường việc học tập trong nhóm, đổi mới quan hệ
giáo viên – học sinh theo hướng cộng tác có ý nghĩa quan trọng nhằm phát triển năng lực
xã hội. Bên cạnh việc học tập những tri thức và kỹ năng riêng lẻ của các môn học chuyên
môn cần bổ sung các chủ đề học tập phức hợp nhằm phát triển năng lực giải quyết các
vấn đề phức hợp.
Những định hướng chung, tổng quát về đổi mới phương pháp dạy học các môn học
thuộc chương trình giáo dục định hướng phát triển năng lực là:
- Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của người học, hình thành và phát
triển năng lực tự học (sử dụng sách giáo khoa, nghe, ghi chép, tìm kiếm thông tin,...), trên
cơ sở đó trau dồi các phẩm chất linh hoạt, độc lập, sáng tạo của tư duy.
điều kiện cho học sinh nghĩ nhiều hơn, làm nhiều hơn và thảo luận nhiều hơn”. Điều đó
có nghĩa, mỗi học sinh vừa cố gắng tự lực một cách độc lập, vừa hợp tác chặt chẽ với
nhau trong quá trình tiếp cận, phát hiện và tìm tòi kiến thức mới. Lớp học trở thành môi
trường giao tiếp thầy – trò và trò – trò nhằm vận dụng sự hiểu biết và kinh nghiệm của
từng cá nhân, của tập thể trong giải quyết các nhiệm vụ học tập chung.
(4) Chú trọng đánh giá kết quả học tập theo mục tiêu bài học trong suốt tiến trình
dạy học thông qua hệ thống câu hỏi, bài tập (đánh giá lớp học). Chú trọng phát triển kỹ
năng tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau của học sinh với nhiều hình thức như theo lời
giải/đáp án mẫu, theo hướng dẫn, hoặc tự xác định tiêu chí để có thể phê phán, tìm được
nguyên nhân và nêu cách sửa chữa các sai sót.
1.2. Vấn đề phát triển năng lực: [7], [12], [30],
1.2.1. Khái niệm về năng lực và phát triển năng lực
1.2.1.1. Khái niệm về năng lực
Theo tác giả Trần Trọng Thuỷ và Nguyễn Quang Uẩn (1998): “Năng lực là tổng hợp
những thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu đặc trưng của một hoạt
động nhất định, nhằm đảm bảo việc hoàn thành có kết quả tốt trong lĩnh vực hoạt động
ấy, Howard Gardner (1999): “Năng lực phải được thể hiện thông qua hoạt động có kết
quả và có thể đánh giá hoặc đo đạc được”. F.E.Weinert (2001) cho rằng: “Năng lực là
những kĩ năng kĩ xảo học được hoặc sẵn có của cá thể nhằm giải quyết các tình huống
xác định, cũng như sự sẵn sàng về động cơ xã hội…và khả năng vận dụng các cách giải
quyết vấn đề một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong những tình huống linh hoạt”.
Denys Tremblay (2002), nhà tâm lý học người Pháp quan niệm rằng: “Năng lực là
khả năng hành động, đạt được thành công và chứng minh sự tiến bộ nhờ vào khả năng
huy động và sử dụng hiệu quả nhiều nguồn lực tích hợp của cá nhân khi giải quyết các
vấn đề của cuộc sống”.
OECD (Tổ chức các nước kinh tế phát triển) (2002): “Năng lực là khả năng cá nhân
đáp ứng các yêu cầu phức hợp và thực hiện thành công nhiệm vụ trong một bối cảnh cụ
thể”.
ra nó.
Tuy nhiên, năng lực con người không phải là sinh ra đã có, nó không có sẵn mà nó
được hình thành và phát triển trong quá trình hoạt động và giao tiếp.
1.2.3. Phân loại năng lực
Phân loại năng lực là một vấn đề rất phức tạp. Kết quả phụ thuộc vào quan điểm và
tiêu chí phân loại. Nhìn vào các chương trình thiết kế theo hướng tiếp cận năng lực
của các nước, có thể thấy năng lực được phân thành 2 loại chính: năng lực chung (general
competence) và năng lực chuyên biệt (subject-specific competencies)
1.2.3.1. Năng lực chung
Năng lực chung là năng lực cơ bản, thiết yếu giúp cá nhân có thể sống, làm việc và
tham gia hiệu quả trong nhiều hoạt động và các bối cảnh khác nhau của đời sống xã hội,
như năng lực nhận thức, năng lực trí tuệ, năng lực về ngôn ngữ và tính toán; năng lực
giao tiếp, năng lực vận động….Các năng lực này được hình thành và phát triển dựa trên
bản năng di truyền của con người, quá trình giáo dục và trải nghiệm trong cuộc sống; đáp
ứng yêu cầu của nhiều loại hình hoạt động khác nhau
- Các nhà giáo dục ở các nước (OECD) đề xuất các tiêu chí xác định các năng lực
cốt lõi như sau:
+ Phải cần thiết đối với tất cả mọi thành viên của xã hội;
+Phải tuân theo các giá trị văn hoá và kinh tế, đạo đức và tập quán, quy ước của xã
hội.
+ Bối cảnh áp dụng không riêng cho các phong cách sống cá biệt, mà là những tình
huống phổ biến nhất mà người công dân sẽ gặp phải trong cuộc sống.
Năng lực này được hình thành và phát triển do nhiều môn học, liên quan đến nhiều
môn học và không chỉ các môn học mà còn ở các hoạt động giáo dục khác (nhà trường,
gia đình, các đoàn thể, xã hội). Vì thế có nước gọi là năng lực xuyên CT (Crosscurricular competencies). Hội đồng châu Âu gọi là năng lực chính (key competence).
Cũng cần lưu ý là khái niệm năng lực chính được nhiều nước trong khối EU sử dụng với
các thuật ngữ khác nhau như: năng lực nền tảng (soclesde compétences), năng lực chủ
yếu (essential competencies), kỹ năng chính (key skills), kỹ năng cốt lõi (core skills),
* Năng lực của HS phổ thông do tổ chức OEDC gồm:
Năng lực giải quyết vấn đề. Năng lực xã hội. Năng lực linh hoạt, sáng tạo. Năng
lực sử dụng thiết bị một cách thông minh.
* Năng lực của HS PT của một số nước như Australia: Năng lực đọc hiểu. Năng lực
làm toán. Năng lực giao tiếp. Năng lực giải quyết vấn đề. Năng lực ứng dụng CNTT.
* Một số năng lực chung cần phát triển cho HS THPT trong môn hoá học:
Từ việc nghiên cứu mục tiêu giáo dục trong Luật giáo dục, mục tiêu giáo dục THPT
trong chương trình GDPT, các quan điểm về phát triển năng lực HS của các tác giả trong
và ngoài nước, các đề tài nghiên cứu gần đây và đặc biệt là bản đề án của Bộ Giáo dục và
Đào tạo về đổi mới chương trình sách giáo khoa giáo dục phổ thông sau năm 2015,
chúng tôi đã quan niệm rằng: Phát triển năng lực cho HS THPT là cụ thể hoá mục tiêu
giáo dục.
+ Các năng lực chung cần ưu tiên phát triển cho HS THPT thông qua bộ môn hoá
học bao gồm:
- Năng lực độc lập, sáng tạo.
- Năng lực phát hiện-giải quyết vấn đề.
- Năng lực hợp tác.
+ Năng lực chuyên biệt của môn hóa học trong nhà trường THPT
Bảng mô tả những năng lực chuyên biệt của môn hóa học
NĂNG LỰC
CHUYÊN BIỆT
1. Năng lực sử dụng
ngôn ngữ hóa học
Mô tả các năng lực
Các mức độ thể hiện
2. Năng lực thực
hành hóa học bao
gồm:
- Năng lực tiến hành thí
nghiệm, sử dụng TN an toàn;
- Năng lực quan sát, mô tả ,
giải thích các hiện tượng TN
và rút ra kết luận.
- Năng lực xử lý thông tin
liên quan đến TN
3. Năng lực tính
toán
Tính toán theo khối lượng
chất tham gia và tạo thành
sau phản ứng.
- Hiểu và thực hiện đúng nội quy,
quy tắc an toàn PTN
- Nhận dạng và lựa chọn được dụng
cụ và hóa chất để làm TN
- Hiểu được tác dụng và cấu tạo của
các dụng cụ và hóa chất cần thiết để
làm TN
- Lựa chọn các dụng cụ và hóa chất
cần thiết chuẩn bị cho các TN.
- Lắp các bộ dụng cụ cần thiết cho
b) Xác định mối tương quan giữa các
chất hóa học tham gia vào phản ứng
với các thuật toán để giải được với
các dạng bài toán hóa học đơn giản.
Tìm ra được mối quan hệ và
thiết lập được mối quan hệ
giữa kiến thức hóa học với
các phép toán học.
c) Sử dụng được thành thạo phương
pháp đại số trong toán học và mối
liên hệ với các kiến thức hóa học để
giải các bài toán hóa học.
Vận đụng các thuật toán để
tính toán trong các bài toán
hóa học.
d) Sử dụng hiệu quả các thuật toán
để biện luận và tính toán các dạng
bài toán hóa học và áp dụng trong
các tình huống thực tiễn.
a) Phân tích được tình huống
trong học tập môn hóa học ;
Phát hiện và nêu được tình
huống có vấn đề trong học
tập môn hóa học
- Thực hiện kế hoạch độc lập sáng
tạo hoặc hợp tác trong nhóm.
5) Năng lực vận
dụng kiến thức hoá
học vào cuộc sống
d) Thực hiện giải pháp giải
quyết vấn đề và nhận ra sự
phù hợp hay không phù hợp
của giải pháp thực hiện đó.
Đưa ra kết luận chính xác và
ngắn gọn nhất.
a) Có năng lực hệ thống hóa
kiến thức.
d) Thực hiện và đánh giá giải pháp
giải quyết vấn đề; suy ngẫm về cách
thức và tiến trình giải quyết vấn đề
để điều chỉnh và vận dụng trong tình
huống mới.
a) Có năng lực hệ thống hóa kiến
thức , phân loại kiến thức hóa học ,
hiểu rõ đặc điểm, nội dung, thuộc
tính của loại kiến thức hóa học đó.
Khi vận dụng kiến thức chính là việc
lựa chọn kiến thức một cách phù hợp
với mỗi hiện tượng, tình huống cụ
e) Năng lực độc lập sáng tạo
trong việc xử lý các vấn đề
thực tiễn
e) Chủ động sáng tạo lựa chọn
phương pháp, cách thức giải quyết
vấn đề. Có năng lực hiểu biết và
tham gia thảo luận về các vấn đề hóa
học liên quan đến cuộc sống thực
tiễn và bước đầu biết tham gia
nghiên cứu khoa học để giải quyết
các vấn đề đó.
1.2.5. Vấn đề năng lực hợp tác và phát triển năng lực hợp tác cho học sinh THPT
1.2.5.1. Khái niệm về hợp tác
Hợp tác là một yếu tố không thể thiếu trong cuộc sống lao động của con người; nó
diễn ra thường xuyên trong gia đình, trong xã hội; do vậy "hợp tác mang bản chất sinh
học tự nhiên của mỗi con người trong xã hội".
* Theo từ điển tiếng Việt (1997): Hợp tác là cùng chung sức giúp nhau trong một
công việc, trong một lĩnh vực hoạt động nào đó nhằm đạt được mục đích chung .
* Theo từ điển Tâm lý học (2008): Hợp tác là hai hay nhiều bộ phận trong một
nhóm cùng làm việc theo cùng một cách thức để tạo ra một kết quả chung .
* Các tác giả Johnson D, Johnson R. và Holubee E. (1990), Johnson D.W. và
Johnson R.T (1991), Nguyễn Thanh Bình (1998) cũng đưa ra các định nghĩa khác nhau
về hợp tác. Các định nghĩa về hợp tác đều thống nhất về nội hàm với những dấu hiệu cơ
bản sau đây:
- Có mục đích chung trên cơ sở mọi người cùng có lợi.
- Công việc được phân công phù hợp với năng lực của từng người.
- Bình đẳng, tin tưởng lẫn nhau, chia sẻ nguồn lực và thông tin, tự nguyện hoạt động.
- Các thành viên trong nhóm phụ thuộc lẫn nhau, trên cơ sở trách nhiệm cá nhân cao.
+ Phân tích được khả năng của từng thành viên để tham gia đề xuất phương án phân
công công việc; dự kiến phương án phân công, tổ chức hoạt động hợp tác.
+ Theo dõi tiến độ hoàn thành công việc của từng thành viên và cả nhóm để điều
hoà hoạt động phối hợp; khiêm tốn tiếp thu sự góp ý và nhiệt tình chia sẻ, hỗ trợ các
thành viên khác.
+ Căn cứ vào mục đích hoạt động của nhóm để tổng kết kết quả đạt được; đánh giá
mức độ đạt mục đích của cá nhân và của nhóm và rút kinh nghiệm cho bản thân và góp ý
cho từng người trong nhóm.
1.2.5.3.Vai trò và khả năng hợp tác trong đời sống hiện đại
a. Hợp tác là yêu cầu tự thân của cuộc sống:
Để tồn tại và phát triển, từ bao đời nay, mỗi cá nhân và mỗi cộng đồng dù muốn hay
không vẫn không ngừng hợp tác với nhau để chinh phục thiên nhiên hay giải quyết các
vấn đề xã hội. Thực tế lịch sử cho thấy có nhiều cộng đồng mặc dù thiếu tài nguyên
nhưng vẫn phát triển rất nhanh và ngược lại nhiều cộng đồng sở hữu nguồn tài nguyên
phong phú nhưng vẫn rơi vào tình trạng trì trệ, kém phát triển. Nguyên nhân dẫn đến
thành công thì có nhiều nhưng có thể nói rằng, tất cả các cộng đồng rơi vào tình trạng
biệt lập đều kém phát triển, nghèo nàn và lạc hậu còn những cộng đồng phát triển đều
biết hợp tác và hiện hợp tác ở mức độ rất cao với các cộng đồng khác.
Điều cần nói là xã hội loài người hiện đã phát triển đến trình độ cao, với sự xuất
hiện của nền kinh tế tri thức và xã hội tri thức, con người không thể tiếp tục hợp tác một
cách rời rạc và nhiều khi là do tình thế thúc ép như trước nữa. Ngày nay, hợp tác không
chỉ là nhu cầu tăng thêm sức lực hoặc trí lực để hoàn thành những mục tiêu chung, mà
quan trọng hơn do mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng đang ngày càng phụ thuộc vào nhau hơn
bao giờ hết, vì vậy nhu cầu hợp tác đã trở nên bức thiết với mọi cá nhân và cộng đồng.
Cự tuyệt hợp tác hoặc thiếu khả năng hợp tác đồng nghĩa với trì trệ và kém phát triển.
Cuộc sống mới đòi hỏi phải nhận thức lại vai trò và khả năng hợp tác như là một giải
pháp chủ yếu để nhân loại chung sống và phát triển.
b. Hợp tác như là triết học nhân văn hiện đại
cộng đồng đó, nó hấp dẫn các cộng đồng khác khiến họ xích lại gần nhau, muốn hợp tác
và hợp tác có hiệu quả với nhau. Năng lực hợp tác của cộng đồng chủ yếu nằm trong nền
văn hoá mở của nó. Nhiều quan điểm cực đoan luôn nhấn mạnh quá đáng các yếu tố dị
biệt về văn hoá của cộng đồng mình và coi đó là những "bản sắc cao quý". Theo chúng
tôi, điều làm cho các cộng đồng tin cậy và hợp tác hiệu quả với nhau chủ yếu vì nền văn
hoá của họ có cái chung, tức cái phổ biến chứ không phải cái dị biệt. Một nền văn hoá
mở là nền văn hoá sẵn sàng chấp nhận và tiếp thu các yếu tố văn hoá tích cực của cộng
đồng khác. Ngày nay mỗi dân tộc phải ý thức và biết cách làm cho nền văn hoá của dân
tộc mình thành nền văn hoá mở. Các nhà văn hoá lớn của dân tộc như Nguyễn Trãi, Phan
Bội Châu, Hồ Chí Minh là tấm gương sáng về vấn đề này, trong khi kiên quyết chống
xâm lược vẫn cổ vũ xây dựng một nền văn hoá mở, tiếp thu các tinh hoa văn hóa của các
cộng đồng khác. Thực tế là các cộng đồng có nền văn hoá mở đều phát triển thuận lợi và
ngược lại những cộng đồng có nền văn hoá kém tính mở, khu trú và dị biệt đến cực đoan
đều sa lầy trong lạc hậu và kém phát triển. Lịch sử cho thấy các chính sách "bế quan toả
cảng" của các quốc gia Châu Á như Trung Quốc, Việt Nam trong các thế kỷ trước đã dẫn
tới hậu quả thảm hại như thế nào.
Con người ngày nay không còn đơn độc, thụ động như những thế kỷ trước, nhờ tiến
bộ của khoa học kỹ thuật, không gian của mỗi con người và cộng đồng đã trở nên rộng
mở. Năng lực hợp tác không còn được nắm một cách thô thiển như khả năng cùng hành
động giữa các cá nhân hoặc các cộng đồng để tiến hành những công việc mà mỗi cá nhân
hoặc cộng đồng đơn lẻ không thể tự hoàn thành. Ngày nay con người đã sáng tạo ra nhiều
máy móc giúp con người vượt qua được những hạn chế về cơ bắp cũng như trí tuệ hữu
hạn của con người riêng lẻ, nghĩa là mỗi cá nhân và cộng đồng ngày nay đã mạnh lên gấp
bội, nhưng chúng ta vẫn cần và phải hợp tác chặt chẽ với nhau hơn bao giờ hết. Năng lực
hợp tác đã trở thành vẻ đẹp, thành đạo đức, lối sống của con người trong xã hội hiện đại.
Năng lực hợp tác nằm trong tính văn hoá mở của cộng đồng, đặc trưng của thời đại. Khả
năng hợp tác được coi như thước đo phẩm chất văn hoá cá nhân và cộng đồng, năng lực
hợp tác là cái đẹp lớn nhất của con người.
1.2.5.4. Nâng cao năng lực hợp tác
tập hợp tác có hiệu quả. Hoạt động hợp tác theo nhóm đòi hỏi ở học sinh tính tổ chức, sự
xây dựng và duy trì không khí tin tưởng lẫn nhau, kĩ năng giao tiếp có hiệu quả, cách giải
quyết mâu thuẫn trên tinh thần xây dựng, đó là năng lực tư duy hội thoại có phê phán.
Trong học tập hợp tác, học sinh càng có nhiều kĩ năng xã hội, giáo viên càng quan
tâm và động viên khen thưởng việc sử dụng các kĩ năng đó thì thành tích học tập đạt
được sẽ càng cao hơn. Các kĩ năng xã hội đó là: kĩ năng lãnh đạo, kĩ năng quyết đoán, kĩ
năng tạo lòng tin, kĩ năng giải quyết các bất đồng như biết cách lắng nghe, biết cách kiềm
chế, biết cách lập luận cho quan điểm của mình một cách thuyết phục.
1.2.5.6. Dấu hiệu của sự hợp tác.
- Có chung mục đích
- Cộng đồng trách nhiệm
- Công việc được phân công phù hợp với năng lực của từng người
- Chấp hành kỷ luật, tuân theo những quy định chung và theo sự chỉ đạo, hướng dẫn
của người đứng đầu.
- Một người vì mọi người, mọi người vì một người.
- Chia sẻ nguồn lực và thông tin.
- Khích lệ tinh thần tập thể hơn là đề cao sự ganh đua.
- Hành động nhiều hơn lời nói.
1.2.5.7. Năm yếu tố thành công trong hợp tác.
Có thể khái quát bằng từ BUILD (Xây dựng)
B: (Biuld) Xây dựng mục tiêu chung để tất cả cùng biết.
U: (Unite) Đoàn kết, tin cậy
I: (Insure) Đảm bảo mọi người đều có việc vừa tầm, vừa sức, phù hợp với khả năng.
L: (Look) Nhìn người khác làm và lắng nghe người khác nói để phối hợp nhịp
nhàng.
D: (Develop) Phát triển các kỹ năng khác trong hợp tác như kỹ năng giao tiếp, kỹ
năng làm việc nhóm, kỹ năng xây dựng và duy trì mối quan hệ liên cá nhân.
1.2.5.8. Ba điều lợi của hợp tác (so với cạnh tranh, thi đua)
kịp thời với sự phát triển của xã hội.
- Là những phương pháp dạy học chú trọng đến việc tổ chức các hoạt động học tập
cho học sinh, học tập hợp tác thông qua tương tác giữa giáo viên – học sinh, giữa học
sinh – học sinh. Qua sự trao đổi, tranh luận, thể hiện quan tâm của từng cá nhân, sự nhận
xét đánh giá mà học sinh sẽ nắm được kiến thức, cách tư duy, sự hợp tác trong một tập
thể và có sự ghi nhớ kiến thức lâu hơn.
- Là những phương pháp dạy học có sự phối hợp, sử dụng các phương tiện trực quan
như: máy vi tính, phần mềm hoá học… giúp các em học sinh tiếp cận với các phương
tiện hiện đại và các tri thức mới.
- Là những phương pháp dạy học sử dụng các phương pháp kiểm tra đánh giá đa
dạng, khách quan, tạo điều kiện cho học sinh tham gia tích cực vào hoạt động tự đánh giá
và đánh giá lẫn nhau. Qua đó, phản ánh trung thực tình trạng kiến thức của học sinh và
hiệu quả của quá trình dạy học
1.3.3. Một số PP dạy học tích cực
1.3.3.1. PP dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề
Bản chất của dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề là GV đặt ra trước HS các vấn
đề của khoa học (các bài toán nhận thức) và mở ra cho các em những con đường giải
quyết những vấn đề đó.
1.3.3.2. Dạy học hợp tác
Trong dạy học hợp tác, giáo viên tổ chức cho HS hoạt động trong những nhóm nhỏ
để HS cùng thực hiện một nhiệm vụ nhất định trong một thời gian nhất định. Trong
nhóm, dưới sự chỉ đạo của nhóm trưởng, HS kết hợp giữa làm việc cá nhân, làm việc
theo cặp, chia sẻ kinh nghiệm và hợp tác cùng nhau để giải quyết nhiệm vụ được giao.
1.3.3.3. Dạy học theo góc
Dạy học theo góc (corner work or working in corners) là một PP dạy học theo đó
HS thực hiện các nhiệm vụ khác nhau tại vị trí cụ thể trong không gian lớp học nhưng
cùng hướng tới chiếm lĩnh một nội dung học tập theo các phong cách học khác nhau.
1.3.3.4. Dạy học theo hợp đồng
Dạy học theo hợp đồng (contract work) là một cách tổ chức học tập trong đó HS làm
việc theo một gói các hoạt động trong một khoảng thời gian nhất định.