Đề cương môn: Diễn tiến các thể thơ dân tộc trong văn học trung đại Việt
Nam
1. Đặc trưng thơ song thất lục bát
STLB là 1 thể thơ mang nhiều đặc trưng dân tộc, một “lối vần riêng của ta mà
Tàu k có”.
Thơ STLB có dung lượng phóng khoáng, nhịp điệu kết cấu ổn định, tạo cảm
giác lặp đi lặp lại thường phù hợp với nhu cầu miêu tả sự sâu sắc, phong phú
của tâm trạng trong những tác phẩm vãn, khúc ngâm.
Về cấu trúc, thơ STLB gồm nhiều khổ thơ, mỗi khổ thơ có 1 cặp thất và 1
cặp lục bát. Một khổ thơ STLB có 28 chữ, bằng số chữ một bài thơ thất ngôn
tứ tuyệt. Tuy nhiên, sự đan xen câu thất với câu lục, câu bát ở thơ STLB tạo
nên sự co duỗi nhịp nhàng, phù hợp để diễn tả những cung bậc tâm trạng liên
tiếp.
Về cách ngắt nhịp
- Nhịp cuối thường là nhịp chẵn. Hai câu thất thường ngắt nhịp 3-4, đôi khi là
2-3-2 hoặc 1-4-2.
- Dòng lục chia làm 3 nhịp 2, cũng có khi là 2-4
VD: Đưa chàng / lòng dặc dặc buồn
Có khi là 4-2: VD: Khéo vô duyên bấy / cửu trùng
- Câu bát thường được chia thành 4 nhịp 2,
có khi là 3-3-2 Hoa đèn kia với bóng người khá thương
hoặc 2-4-2: Bên đường / trông lá cờ bay / ngùi ngùi
Trong thơ STLB có sự kết hợp dòng thơ có số chữ lẻ với dòng thơ có số chữ
chẵn. Thơ STLB kết hợp 7-7-6-8 tức là kết hợp dòng thơ có số chữ lẻ với
dòng thơ có số chữ chẵn. Sự kết hợp này làm cho nhịp thơ phong phú, tiết
điệu trong khổ thơ đa dạng. Nhà nghiên cứu Nguyễn Phan Cảnh đã dùng 4
chữ căng thẳng – giải tỏa để hình dung sự thay đổi tiết điệu từ cặp thất đến
cặp lục bát. Hai câu thất thường gợi sự “căng thẳng”. Cặp lục bát lại gợi sự
Non Yên dù chẳng tới miền (vần chân)
Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời (vần lưng - chân)
Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu (vần lưng - chân)
Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong (vần lưng - chân)
Cảnh buồn người thiết tha lòng (vần chân)
Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun… (vần lưng)
Gieo vần ở các chữ: tiện – đến - Yên – miền – lên – / Trời – vời – thấu – đáu
– xong – lòng – trùng.
Về đối
Một trong những đặc điểm nghệ thuật cần phải nhắc đến khi nghiên cứu về
thơ STLB chính là đối, các chi tiết đối phải cân với nhau về nhiều bình diện.
Đối thường chia ra có bình đối, tiểu đối.
Bình đối: Chàng thì đi cõi xa mưa gió >< Thiếp thì về giường cũ chiếu chăn
Tiểu đối: Dây uyên kinh đứt >< phím loan ngại chùng
2. Ứng dụng phân tích một đoạn thơ STLB
Môn Văn học đương đại Việt Nam – diện mạo và đặc trưng
Câu 1: Phân tích khuynh hướng chủ đạo trong văn xuôi thời kì đổi mới
từ 1986 đến nay. Chứng minh qua 1 tác phẩm cụ thể.
Bài làm
1. Nhu cầu đổi mới (giống bài về thơ)
2. Khuynh hướng nổi bật của văn xuôi thời kì đổi mới từ 86 đến nay là
khuynh hướng đạo đức –thế sự.
Từ sau 1986, khuynh hướng sử thi – lãng mạn ngự trị văn học 45-75 đã
được thay thế bằng cảm hứng đạo đức – thế sự. Con người sử thi trong văn
học trước 75 được thay thế bằng con người “nếm trải’. Đề tài chủ đề
do nhiều nguyên nhân mà nó thường bị văn học xem nhẹ,bỏ qua. Nay
dường như để bù lại phần thiếu hụt ấy của văn học một thời, nhiều tác
phẩm đã đi vào khám phá và thể hiện phần bản năng tự nhiên của con
người và trong một số tác phẩm người ta đã thử thăm dò vào lĩnh vực tâm
linh,vô thức còn đầy bí ẩn. Nhấn mạnh phương diện bản thể tự nhiên của
con người là chỗ gặp gỡ của nhiều cây bít như Nguyễn Huy Thiệp, Ma
Văn KHáng, Phạm thị Hoài, Nguyễn Bản.
3. Chứng minh qua 1 tác phẩm
Câu 2: Phân tích khuynh hướng chủ đạo trong thơ thời kì đổi mới từ
1986 đến nay. Chứng minh qua 1 tác phẩm cụ thể.
Bài làm
Văn học VN trong 30 năm, từ 45-75 đã làm tròn sứ mệnh cao cả của 1 nền
VH phục vụ cách mạng, cổ vũ chiến đấu, vì TQ, dân tộc, nhân dân. ĐÓ là một
nền văn học theo khynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn. Nhưng từ sau
chiến tranh, nhất là sau 86, những thay đổi lớn trong đời sống chính trị, kinh
tế, xã hội, văn hóa đã dẫn đến nhu cầu phải đổi mới văn học. Đó là đỏi hỏi
chung của cả giới sáng tác, lí luận lẫn công chúng. Sự kiện ĐH Đảng toàn
quốc lần thứ 6 cùng những chỉ đạo trực tiếp của TBT NVL là những yếu tố
thúc đẩy trực tiếp sự đổi mới văn học.
+ Đại hội Đảng toàn quốc lần VI – 1986 là nỗ lực của Đảng và nhà nước đổi
mới đất nước trên nhiều phương diện, từ chính trị, kinh tế đến văn hóa, xã hội,
trong đó có những đổi mới về văn học. Đây cũng là thời kì chúng ta mở rộng
giao lưu, tiếp xúc với quốc tế, đưa đất nước đi vào quỹ đạo chung của quá
trình phát triển, họi nhập đang diễn ra khắp các quốc gia trên thế giới.
+ Cuộc gặp gỡ giữa Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh và gần 200 nghệ sĩ, trí
thức và các nhà khoa học tiêu biểu ở HN và các tỉnh lân cận vào ngày 67/10/1987. Tại cuộc gặp gỡ này TBT đã nhấn mạnh vấn đề đổi mới tư duy.
Đó là một yếu tố sống còn của văn nghệ. Văn nghệ sĩ phải cởi trói cho mình,
nhu cầu cá thể, khẳng định cá tính. Đi tìm lời đáp cho câu hỏi “Ta là ai” là
một khao khát nhận diện chính mình, là ý thức về vị trí của mình trong cuộc
đời này, dẫu sự tồn tại đó là nhỏ bé, thậm chí vô hình.
Trong thơ ca thời kì đổi mới, tình yêu là một chủ đề được thể hiện ở nhiều
góc độ. Thành thực đối diện với cuộc sống như chính bản thân nó đang tồn
tại, nhà thơ chấp nhận đối diện với tình yêu trong mọi dạng thức của nó, kể cả
cảm giác bị bỏ rơi, bị lãng quên, cảm giác k trọn vẹn của kẻ đến sau. Tình yêu
bao giờ cũng có 2 cung bậc; Tinh thần và vật chất. Thơ tình hiện nay tô đậm
nét cảm nhận về tình yêu trần thế, vấn đề tình dục được đặt ra một cách
nghiêm túc, vói tư cách là 1 yếu tố trong đời sống con người, là 1 nhu cầu
mang tính nhân văn (Vi Thùy Linh, Nguyễn Thanh Hà, Đoàn Thị Lam Luyến,
Dư Thị Hoàn..)
4. Chứng minh qua một tp
.. Cảm nhận bài thơ “Người dệt tầm gai” của Vi thùy Linh
Yêu thương, hạnh phúc, hờn ghen, nhớ nhung,…là những cung bậc cảm xúc
bất biến tạo nên sự hấp dẫn kì diệu của tình yêu. Bởi vậy tình yêu luôn trở
thành cảm hứng dồi dào nhất của thơ ca nói riêng và nghệ thuật nói chung.
Thơ tình yêu cũng muôn màu muôn vẻ, từ sự hờn ghen cao cả củaTôi yêu
em (Puskin), sự yêu thương trong sáng trong Thuyền và biển (Xuân quỳnh)
đến sự lâm li diễm lệ của Hai sắc hoa tigôn (TTKH),… tất thảy đều mục đích
chung khắc họa chân dung tình yêu. Đến thời điểm hiện nay, nữ thi sĩ trẻ Vi
Thùy Linh, bằng sức trẻ sôi nổi, cũng hăm hở đóng góp vào bộ sưu tập ấy
những chân dung tình yêu mới. Bài thơ Người dệt tầm gai là một bài thơ tiêu
biểu như thế của chị.
Nếu đánh giá bài thơ Người dệt tầm gai của Vi Thùy Linh, tôi không cho
rằng đây là một tác phẩm độc đáo to lớn về nội dung hay nghệ thuật. Trên
thực tế, để đánh giá một tác phẩm thơ cho đúng đắn thì cần thiết đòi hỏi
người con gái nào khi yêu cũng có thể tìm thấy một phần bản thân của mình
trong đó. Vi Thùy Linh đã nói thay, nói hộ cho tâm trạng của biết bao người
con gái.
Bài thơ mở đầu với sự xuất hiện của một không gian đặc biệt: Không gian xa
cách. Chỉ bằng một câu thơ duy nhất, nhà thơ đã vẽ lên một không gian xa
cách đầy thương nhớ giữa “em” và “anh”:
“Chúng mình ở hai miền”
Chúng mình là một đại từ nhân xưng chỉ sự kết hợp giữa em và anh. Nó nhất
quán thể hiện sự gắn bó gần gũi giữa hai con người yêu nhau. Nhắc tới chúng
mình là ta nghĩ ngay đến sự đoàn tụ. Vậy mà ở đây, chúng mình lại được đặt
trong không gian “hai miền” – không gian xa cách, chia lìa. Điều đó khiến
cho người con gái đau đớn và cô phải yếu đuối thú nhận:
“Ngày nào em cũng khóc”
Khi yêu tất yếu ai cũng có khao khát được ở bên cạnh người mình yêu
thương. Đối với người con gái, điều này còn quan trọng hơn cả bởi con gái
cần lắm sự chiều chuộng chở che. Vậy mà người con gái trong bài thơ phải
chịu đựng cảnh chia lìa. Nhưng cũng chính bởi vậy mà tình yêu trong cô càng
trở nên mãnh liệt hơn bao giờ hết. Tình yêu, nỗi nhớ, sự xa cách đã hợp lại tạo
nên sự khao khát mãnh liệt như những con sóng. Bởi vậy mà dường như lúc
này, không gì có thể ngăn cản cô gái hòa tan bản ngã trong tình yêu của mình:
“Anh yêu của em
Em yêu anh cuồng điên
Yêu đến tan cả em ra”
Ở mỗi thời đại khác nhau con người ta có cách thể hiện tình yêu khác nhau.
Qua rồi cái thời yêu thương nhung nhớ kín đáo nhẹ nhàng “thôn Đoài ngồi
nhớ thôn Đông, một người chín nhớ mười mong một người” (Nguyễn Bính),
thơ tình ngày nay có cách thể hiện tình yêu mạnh bạo hơn với những ý tưởng
ngày càng lạ hơn. “Yêu đến tan cả em ra” thể hiện một thứ tình yêu vô điều
hoa hồng, trái tim, sôcôla,..thì ta sẽ không khỏi ngạc nhiên khi bắt gặp biểu
tượng tình yêu trong bài thơ này. Đó là tầm gai. Tầm gai vốn là một loài cây
dùng để kéo sợi, hình dạng xấu xí lại vô cùng nhiều gai. Vậy mà Vi Thùy
Linh lại chọn nó làm biểu tượng của tình yêu. Nhưng nếu ta biết đến câu
truyện cổ tích về nàng Lidơ may áo bằng sợi tầm gai thì ta sẽ không còn ngạc
nhiên nữa. Xưa kia nàng công chúa Lidơ xinh đẹp tuyệt trần may áo bằng sợi
tầm gai để giải thoát các anh trai mình khỏi lốt chim thiên nga do lời nguyền
của mụ phù thủy độc ác. Áo may xong cũng là lúc nàng giải thoát cho các
anh, đồng thời đạt được hạnh phúc lớn nhất trong cuộc đời : có được người
mình yêu thương. Có lẽ câu truyện cổ tích cảm động này là nguồn cảm hứng
chính để Vi Thùy Linh viết Người dệt tầm gai. Biểu tượng tầm gai xuất hiện
trở đi trở lại nhiều lần trong bài thơ, trở thành nỗi ám ảnh không ngừng trong
tâm trí người đọc. Tầm gai trở thành biểu tượng cho tình yêu, cho hạnh phúc
mà cô gái đeo đuổi bằng tất cả sự nhiệt tình và khao khát của mình. Như nàng
Lidơ dệt áo tầm gai với những ngón tay rớm máu, nhân vật trữ tình trong bài
thơ khao khát dệt nên hạnh phúc bằng niềm vui và cũng bằng cả nỗi buồn, nỗi
đau:
“Em nhẫn nại chắt chiu từng niềm vui
Nhưng lại gặp rất nhiều nỗi khổ
Truân chuyên đè lên thanh thản
Ôi sự trái ngược – những sợi tầm gai !
Không kỳ vọng những điều lớn lao
Em lặng lẽ dệt hạnh phúc từ những nỗi buồn – những sợi tầm gai – không ai
nhìn thấy”
Có một nghịch lí đắng cay trong những câu thơ trên. Cô gái khao khát yêu
thương, khao khát hạnh phúc và gồng mình lên để đấu tranh cho hạnh phúc
ấy. Nhưng cuối cùng thì cô lại chỉ nhận được “rất nhiều nỗi khổ” bởi chính
thứ hạnh phúc cô đang đeo đuổi đã trở thành một camboorang, khi không thể
“Dệt tầm gai đến bao giờ?
Mỗi ngày dài hơn một mùa
Dệt tầm gai đến bao giờ?”
Sự lặp lại của câu hỏi là biểu hiện của một sự vô vọng. Vô vọng trong tình
yêu xa cách của người con gái đối với người con trai, vô vọng trong nỗi cô
đơn cùng cực. Bởi vậy câu “dệt tầm gai đến bao giờ?” lặp đi lặp lại thành nỗi
ám ảnh. Câu thơ cuối cùng lại là sự lặp lại của những câu thơ trước:
“Về đi anh!
Cài then những ngón tay trầy xước của em bằng Anh!”
Đây là sự thành công của tác giả trong sự vận dụng cấu trúc trùng điệp. Thủ
pháp nghệ thuật này phát huy hiệu quả cao độ trong việc khắc họa tâm trạng
rối ren phức tạp của nhân vật. Hai câu thơ cuối đã chuyển bài thơ từ trạng thái
khao khát mong nhớ sang trạng thái van lơn. Dường như lúc này nhân vật
trong bài thơ đã không thể tiếp tục gồng mình lên để chịu đựng được nữa mà
chấp nhận sự bất lực của mình và van lơn được lành lặn những nỗi đau xa
cách. Phải chăng đó là bi kịch của kiểu tình yêu “cho rất nhiều nhưng nhận
chẳng bao nhiêu”(Xuân Diệu)?
Bằng thủ pháp tạo dựng không gian, thời gian, biểu tượng cùng hệ thống ngôn
ngữ mang tính chọn lọc, Vi Thùy Linh đã khắc họa thành công thế giới tâm
trạng của một người con gái khi yêu. Chủ đề của bài thơ không mới nhưng
bằng cách thể hiện độc đáo, ta trực tiếp cảm nhận được một luồng không khí
văn thơ mới mẻ. Nếu đa phần trong số các bài thơ của chị nghiêng về bút
pháp diễn đạt tâm trạng bằng những hình ảnh giàu tính nhục thể thì bài thơ
này không thế. Đây là một bài thơ giản dị, trong sáng với những hình ảnh đẹp
và lạ. Chính bởi vậy mà bài thơ nhận được nhiều lời khen ngợi hơn là chê
trách. Bài thơ còn được nhạc sĩ Ngọc Đại phổ nhạc bằng những giai điệu
nồng nàn, nóng bỏng, đó là ca khúc Dệt tầm gai. Ca khúc được đông đảo bạn
trẻ biết đến và yêu mến.
sản phẩm do con người sáng tạo ra từ xa xưa cho tới nay. Một số học giả thì
cho rằng văn hoá là tấm gương nhiều mặt phản chiếu đời sống và nếp sống
của một cộng đồng dân tộc 2.
Năm 1952, hai nhà dân tộc học Mỹ A. Kroeber và Cl. Kluckhoh trong
cuốn Văn hóa: tổng quan về khái niệm và định nghĩa đã chỉ ra trên dưới 300
định nghĩa về văn hoá mà các tác giả khác nhau của nhiều nước từng đưa ra
trước đó.
Trong cuốn sách tiếp theo Văn hóa học, những lí thuyết nhân học văn
hóa, hai ông A. Kroeber và Cl. Kluckhohn đã đưa ra một trong những định
1Văn hóa học đại cương và cơ sở văn hóa Việt Nam. Đại học quốc gia Hà Nội, 1996, tr.52
2 Dẫn theo Trần Quốc Vượng: 1000 năm giao thoa văn hoá Đông Tây.
nghĩa về văn hoá như sau: “Văn hóa bao gồm những chuẩn mực nằm ở bên
trong lẫn biểu lộ ra bên ngoài, xác định hành vi ứng xử được tập nhiễm nhờ
các biểu tượng: văn hóa xuất hiện nhờ hoạt động của con người trong khi đưa
sự biểu hiện của nó vào các phương tiện (vật chất). Hạt nhân cơ bản của văn
hóa gồm các tư tưởng truyền thống (được hình thành trong lịch sử), đầu tiên
là những tư tưởng có giá trị đặc biệt. Hệ thống văn hóa có thể được xem xét,
một mặt như là kết quả của hoạt động người, mặt khác, như là những sự điều
chỉnh những hoạt động đó” 3
Học giả A.A.Belik đã định nghĩa về văn hóa: “Văn hóa là phương thức
hoạt động sống đặc biệt của con người, làm xuất hiện nhiều phong cách sống,
các dạng thức vật chất để biến đổi thiên nhiên và sáng tạo các giá trị tinh
thần” 4.
Theo Bách khoa toàn thư Pháp, văn hóa được định nghĩa: “ Văn hoá
theo nghĩa rộng là tập tục, tín ngưỡng ngôn ngữ, tư tưởng, thị hiếu thẩm mỹ,
những hiểu biết kỹ thuật cũng như toàn bộ việc tổ chuéc môi trường của con
người… những công cụ, nhà ở… và nói chung là toàn bộ công nghiệp có thể
truyền lại được, điều tiết những quan hệ và những ứng xử của một nhóm xã
tồn tại, phát triển, quá trình con người làm nên lịch sử ... cốt lõi của sức sống
dân tộc là văn hoá với nghĩa bao quát nhất của nó, bao gồm cả hệ thống giá
trị: tư tưởng và tình cảm, đạo đức và phẩm chất, trí tuệ và tài năng, sự nhạy
bén và sự tiếp thu cái mới từ bên ngoài, ý thức bảo vệ tài sản và bản lĩnh của
cộng đồng dân tộc, sức đề kháng và sức chiến đấu để bảo vệ mình và không
ngừng lớn mạnh” 6.
Nhiều nhà nghiên cứu văn hóa của Việt Nam cũng đã có nhiều cách định
nghĩa về văn hóa.
Định nghĩa về văn hoá của GS Trần Quốc Vượng: “Văn hoá là cái tự
nhiên được biến đổi bởi con người”.
Định nghĩa về văn hoá của GS Hà Văn Tấn như sau: “Văn hóa là hệ
thống ứng xử của con người với thiên nhiên và xã hội trong hoạt động sinh
tồn của mình. Nói khác đi, văn hóa là sản phẩm của con người trong mối quan
hệ tương tác với tự nhiên và xã hội diễn ra trong không gian, thời gian và
hoàn cảnh nhất định” .7
5Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, H, 1995, tr. 431
6Văn hoá và đổi mới. Nxb Chính trị quốc gia, H, 1994, tr.16
7 Hà Văn Tấn:Bản sắc văn hóa
Định nghĩa về văn hoá của GS Vũ Khiêu: “ Văn hoá thể hiện trình độ
“vun trồng” của con người xã hội… Văn hoá là trạng thái của con gười ngày
càng tách khỏi giới động vật để khẳng định những đặc tính của con người”.
Định nghĩa của GS Hoàng Trinh về văn hoá: “ Văn hoá là toàn bộ những
hoạt động sáng tạo, bảo vệ và phát huy những giá trị của một dân tộc về mặt
sản xuất vật chất và sản xuất tinh thần trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước
trên cơ sở một phương thức sản xuất nhất định. Văn hoá thể hiện trong lý
tưởng sống, trong lao động và đấu tranh, tổ chức xã hội, mức sống, lý tưởng
thẩm mỹ…”.
Trong công trình Cơ sở văn hóa Việt Nam, GS.TS.Trần Ngọc Thêm đưa
tổng quát, sống động mọi mặt của cuộc sống (của mỗi cá nhân và các cộng
đồng) đã diễn ra trong quá khứ, cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua
hàng bao thế kỷ, nó đã cấu thành nên một hệ thống các giá trị, truyền thống,
thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó, từng dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng
của mình” 10.
Các định nghĩa trên đã đem đến nhận thức phong phú về văn hóa, đồng
thời cho thấy việc xác định và sử dụng khái niệm văn hoá không đơn giản và
thay đổi theo thời gian. Nhưng các định nghĩa trên cũng đều thống nhất ở chỗ
đã chỉ ra văn hóa là hệ thống các giá trị văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần,
là kết quả của các hoạt động của con người trong mối quan hệ với thiên nhiên
và xã hội. Văn hóa còn gắn với một cộng đồng người nhất định (tộc người,
nhóm tộc người, dân tộc), được sáng tạo và tích lũy để trở thành bản sắc riêng
của cộng đồng đó.
Ngoài việc đưa ra những định nghĩa, thì việc chỉ ra nhận thức về nội
hàm, giá trị của văn hoá cũng trải qua nhiều giai đoạn với nhiều cách khác
nhau.
Theo GS Đặng Đức Siêu trong công trình Hành trình văn hoá Việt Nam,
ông cho rằng xét về mặt cội nguồn ngôn ngữ, văn hoá là một từ Việt gốc Hán.
Theo quan niệm của phương Đông mà cụ thể là của Trung Quốc, thông qua
10 Ủy ban Quốc gia về thập kỷ quốc tế phát triển văn hóa, H, Bộ Văn hóa Thông tin, 1992, tr.23.
những cứ liệu xa xưa nhất thì “Văn có nghĩa là đẹp (cái đẹp, vẻ đẹp) và hoá
có nghĩa là làm thay đổi, làm cho trở nên tốt, đẹp, hoàn thiện… Về sau, hai từ
văn và hoá đã kết hợp lại thành văn hoá, với hàm nghĩa: Dùng thể chế hợp
lòng người, lễ nhạc văn chương, sách vở ghi lời hay ý đẹp, gương sáng đạo
đức hiền tài… để cảm hoá dân chúng (đối lập với việc dùng vũ lực, cưỡng
bức… để chế ngự dân chúng). Ý nghĩa này của văn hoá đã tồn tại rất lâu dài
và được bổ sung mở rộng cùng với sự xuất hiện của loại “tân thư” bàn về cải
cách thể chế, đổi mới xã hội do “phong trào duy tân” khởi xướng…”11.
Hiện nay, văn hoá không chỉ là một lĩnh vực hoạt động tinh thần thuần
tuý mà nó còn chiếm địa vị quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Các hoạt
động văn hoá đã tham gia vào đời sống như một nguồn lực to lớn giải quyết
các vấn đề kinh tế của xã hội và điều đó ngày càng đúng khi xã hội đang
hướng tới nền kinh tế tri thức. Thực tế, lĩnh vực này đã mang lại những giá trị
to lớn cho giáo dục, phát triển xã hội và góp phần cho xây dựng công nghiệp,
nông nghiệp, cho du lịch lợi nhuận và công việc làm cho nhiều người, v.v…
Như vậy, các định nghĩa trên đều đã chỉ ra văn hóa là hệ thống các giá trị
văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần, là kết quả của các hoạt động của con
người trong mối quan hệ với thiên nhiên và xã hội. Văn hóa còn gắn với một
cộng đồng người nhất định (tộc người, nhóm tộc người, dân tộc), được sáng
tạo và tích lũy để trở thành bản sắc riêng của cộng đồng đó.
1.2. Khái niệm Văn hóa dân gian
Thuật ngữ quốc tế folklore - Văn hóa dân gian, được William.
J.Thoms(bút danh là Ambrotse Merton) sử dụng đầu tiên trong một bài báo
đăng trên tờ The Athenaeum số ra ngày 22 tháng 8 vào năm 1846 để chỉ "
những di tích của nền văn hóa vật chất và chủ yếu của nền văn hóa tinh thần
của nhân dân có liên quan với nền văn hóa vật chất như phong tục, tập quán,
nghi thức, mê tín, ca dao, tục ngữ... của người thời trước". Từ đó đến nay, bộ
môn văn hóa dân gian học đã ra đời và phát triển với ba trường phái lớn:
trường phái folklorenhân họcAnh - Mỹ, trường phái folklore xã hội học Tây
Âu (điển hình là Pháp - I-ta-li-a) và trường phái folklore ngữ văn học Nga.
Ở Việt Nam, thuật ngữ folklore đã được sử dụng từ lâu và tùy theo mỗi
thời kỳ được dịch ra tiếng Việt là "văn học dân gian", "văn nghệ dân gian" và
nay là "văn hóa dân gian". Việc quan niệm rộng hẹp và chuyển ngữ sang tiếng
Việt khác nhau như vậy là do sự thay đổi nhận thức của chúng ta về văn hóa
dân gian và cũng do sự tiếp thu ảnh hưởng của các quan niệm folklore từ các
trường phái khác nhau trên thế giới.
mẹ nuôi dưỡng nền văn học dân tộc Việt Nam.Nhiều thể loại văn học viết
được xây dựng và phát triển dựa trên sự kế thừa các thể loại văn học dân gian.
Nhiều tác phẩm , nhiều hình tượng do văn học dân gian tạo nên là nguồn cảm
hứng, là thi liệu, văn liệu của văn học viết. Nhiều nhà thơ , nhà văn lớn của
dân tộc (Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương,
Phan Bội Châu, Hồ Chí Minh,….) đã tiếp thu có kết quả văn học dân gian để
sáng tạo nên những tác phẩm văn chương ưu tú . Đây chính là sựthể hiện rõ
mối quan hệ gắn bó giữa văn học dân gian và văn học thành văn trong suốt
tiến trình phát triển của văn học dân tộc Việt Nam.Văn học dân gian là nền
tảng của văn học viết, là chặng đầu của nền văn học dân tộc. Khi chưa có chữ
viết, nền văn học dân tộc chỉ có văn học dân gian; khi có chữ viết nền văn học
này bao gồm hai bộ phận: văn học dân gian và văn học viết.
Văn học viết chịu ảnh hưởng văn học dân gian về nhiều phương diện,
từ nội dung tư tưởng đến hình thức nghệ thuật.Thí dụ: Ca dao sử dụng chủ
yếu thể thơ lục bát hoặc lục bát biến thể. Trong ca dao còn có thể thơ khác,
như : song thất lục bát, vãn bốn, vãn năm. Nguyễn Du đã rất tài tình trong
việc sử dụng thể thơ lục bát ở tác phẩm Truyện Kiều. Ngoài ra, còn có một số
tác phẩm văn học viết cũng được sử dụng thể thơ dân tộc này như Lục Vân
Tiên (Nguyễn Đình Chiểu), thơ lục bát của Tố Hữu, Nguyễn Bính, Nguyễn
Duy....Còn ngược lại, văn học viết cũng có ảnh hưởng trở lại đối với văn học
dân gian trên một số phương diện . Chẳng hạn, tác giả dân gian đã đưa những
chất liệu văn học viết vào ca dao ( những nhân vật trong Truyện Kiều , Lục
Vân Tiên ...)
Mối quan hệ giữa văn học dân gian với văn học cũng như vai trò, ảnh
hưởng của văn học dân gian đối với văn học thể hiện trọn vẹn hơn cả ở lĩnh
vực sáng tác và ở bộ phận thơ văn quốc âm. Có thể nói, mảng truyện thơ Nôm
khuyết danh là sự gặp gỡ của hai bộ phận văn học dân tộc.
Như vậy, trong quá trình phát triển, hai bộ phận văn học dân gian và