BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
TRƯỜNG BỒI DƯỠNG CÁN BỘ QUẢN LÝ
VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
TÀI LIỆU BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC
VĂN HÓA - XÃ HỘI XÃ
(Khu vực Đồng bằng)
QUYỂN II: KỸ NĂNG TÁC NGHIỆP
Hà Nội, năm 2012
MỤC LỤC
TT
TÊN BÀI
TRANG
Bài 1
Quy trình xây dựng kế hoạch quản lý, tổ chức các hoạt động
văn hóa, gia đình, thể thao và du lịch trên địa bàn xã.
Bài 2
Kỹ năng giao tiếp và phối hợp của công chức văn hóa - xã
hội xã với các cơ quan, tổ chức và cá nhân trên địa bàn xã.
Bài 7
Kỹ năng quản lý, hướng dẫn tổ chức phong trào văn hóa văn
nghệ thuật quần chúng trên địa bàn xã khu vực Đồng bằng.
132
Bài 8
Kỹ năng quản lý, hướng dẫn tổ chức phong trào thể dục thể
thao quần chúng trên địa bàn xã.
153
Bài 9
Kỹ năng quản lý, hướng dẫn khai thác giá trị các di sản văn
hóa phục vụ hoạt động du lịch trên địa bàn xã.
171
Bài 10
Kỹ năng quản lý, hướng dẫn và tổ chức công tác gia đình trên
địa bàn xã.
183
Bài 11
về hoạt động văn hóa, gia đình, thể thao và du lịch trên địa
bàn xã.
266
Bài 15
Kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin đối với công chức
văn hóa - xã hội xã.
281
Bài 16
Kỹ năng soạn thảo văn bản đối với công chức văn hóa - xã hội xã.
309
3
QUY TRÌNH XÂY DỰNG KẾ HOẠCH QUẢN LÝ, TỔ CHỨC
CÁC HOẠT ĐỘNG VĂN HÓA, GIA ĐÌNH, THỂ THAO
VÀ DU LỊCH TRÊN ĐỊA BÀN XÃ
TS. NSƯT. NGUYỄN VĂN KHÁNH
Ths. HOÀNG THỊ BÌNH
Thời lượng: 8 tiết(*)
A. MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU
1. Mục đích:
Cung cấp cho học viên những kiến thức cơ bản về quy trình xây dựng Kế hoạch
- Lý thuyết; 4 tiết; Thảo luận: 4 tiết
1
đông đảo quần chúng nhân dân tích cực hưởng ứng tham gia. Nhiều hoạt động văn
hóa, thể thao, gia đình và du lịch mang tính truyền thống: Lễ hội tín ngưỡng, tôn giáo,
dân ca, dân vũ, thơ ca, hò, vè, trò diễn dân gian, mỹ thuật, âm nhạc, ẩm thực, văn hóavăn nghệ, thể dục-thể thao quần chúng... của các dân tộc không những được phục hồi
mà còn phát triển mạnh mẽ, khơi dậy tinh thần yêu nước, yêu quê hương, phát huy
tính gắn kết cộng đồng, dân chủ làng xã, truyền thống đoàn kết các dân tộc, tưởng nhớ
và tôn vinh những người có công với nước, có nghĩa với dân, năng lực sáng tạo văn
hóa của nhân dân được chú trọng, làm cho đời sống tinh thần của nhân dân ngày càng
ổn định và diện mạo văn hóa của từng địa phương thêm khởi sắc.
1.2. Nhược điểm:
Bên cạnh những kết quả đạt được, việc quản lý và tổ chức các hoạt động văn hóa,
thể thao, gia đình và du lịch tại các địa phương trong thời gian qua cũng đã bộc lộ
nhiều vấn đề bất cập. Đáng lưu ý là khuynh hướng thương mại hóa lễ hội, bệnh thành
tích, cá độ trong các hoạt động thể dục, thể thao… các hoạt động liên quan đến lĩnh
vực gia đình chưa được quan tâm đúng mức, các hoạt động văn hóa-du lịch khi tổ
chức đã coi nhẹ các yếu tố văn hóa tinh thần, mà nghiêng về các hoạt động dịch vụ,
đặt trọng tâm vào mục tiêu kinh tế. Do đó vấn nạn ăn xin, cướp giật, mất an ninh trật
tự, tệ nạn xã hội, mê tín dị đoan, và vệ sinh môi trường tại nơi diễn ra các hoạt động
văn hóa, thể thao, gia đình và du lịch ở các địa phương chưa được quan tâm, giải quyết
triệt để gây phản cảm đối với nhân dân và bức xúc dư luận xã hội.
Nguyên nhân có nhiều nhưng tựu trung lại là do đội ngũ cán bộ công chức văn
hóa-xã hội xã chưa có khả năng tham mưu với Cấp uỷ, UBND xã về việc xây dựng Kế
hoạch Quản lý và Kế hoạch Tổ chức các hoạt động văn hóa, thể thao, gia đình và du
lịch, nên có lúc, có nơi không tránh khỏi sự lúng túng bị động và kém hiệu quả. Nhìn
chung trình độ và năng lực thực tiễn của đội ngũ cán bộ công chức văn hóa - xã hội xã
hiện nay rất ít người có trình độ, năng lực để có thể chủ động, tích cực trong công tác
gia đình và du lịch của từng địa phương, nhằm đạt được các mục tiêu chủ yếu đã đề ra.
Kế hoạch hay, có chất lượng là kế hoạch sát với nhu cầu thực tế khách quan, góp phần
thực hiện thắng lợi Nghị quyết của cấp Uỷ, Hội đồng nhân dân và UBND xã đối với
các hoạt động này.
2.1.1 Nội dung của kế hoạch bao gồm các yếu tố sau:
- Xác định mục tiêu, yêu cầu công việc (Vì mục đích gì phải làm công việc này?
Công việc này mang lại lợi ích gì?)
- Xác định nội dung công việc ( Nội dung công việc đó là gì?)
- Xác định mức độ công việc ( Quan trọng, không quan trọng, khẩn cấp )
- Xác định cách thức thực hiện công việc (Làm bằng cách nào?)
- Xác định phương pháp kiểm soát, kiểm tra ( Ai kiểm tra, kiểm tra tổng thể hay
kiểm tra từng bộ phận trọng yếu của công việc?)
- Xác định nguồn lực thực hiện ( Nhân lực, vật lực và tài lực?)
- Xác định thời gian, thời hạn công việc (Khi nào bắt đầu, khi nào kết thúc?)
- Xác định địa điểm (Làm ở đâu ?)
2.1.2 Phân loại Kế hoạch:
a) Kế hoạch ngắn hạn
Kế hoạch ngắn hạn thường được giới hạn từ 3 tháng đến 6 tháng hoặc 1 năm và
chia nhỏ kế hoạch ra theo ngày, tuần, tháng, quý, 6 tháng, cả năm. Kế hoạch ngắn hạn
thường có mối quan hệ hữu cơ với kế hoạch trung hạn và dài hạn. Đây là dạng kế hoạch
mang tính thực tế và có những nhiệm vụ cụ thể.
b) Kế hoạch trung hạn và dài hạn
Kế hoạch trung hạn và dài hạn là dạng kế hoạch có mục tiêu và thời gian thực hiện từ 3 đến 5
năm, mang tính tổng hợp, cần phải huy động và sử dụng các nguồn lực để tham gia thực hiện.
2.2. Khái niệm về Quản lý
3
Quản lý là thuật ngữ chỉ “Hoạt động có ý thức của con người nhằm sắp xếp tổ
lượng, sát với thực tế. Mối quan hệ giữa kế hoạch và quản lý là mối quan hệ biện chứng,
hữu cơ, khắng khít với nhau không thể tách rời. Do đó, để công tác quản lý có hiệu quả,
đòi hỏi người cán bộ công chức văn hóa-xã hội xã phải có kỹ năng xây dựng kế hoạch
quản lý và kế hoạch tổ chức các hoạt động văn hóa, thể thao, gia đình và du lịch trên địa
bàn xã.
Kế hoạch Quản lý và Kế hoạch Tổ chức có vai trò và tầm quan trọng như một
kim chỉ nam hướng các hoạt động văn hóa, thể thao, gia đình và du lịch ở mỗi địa
phương đi đúng quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Pháp luật
của Nhà nước; Đồng thời còn là động lực thúc đẩy các hoạt động này phát triển đi lên
trong hiện tại cũng như tương lai. Với vai trò là người “giúp Ủy ban nhân dân xã trong
4
việc quản lý và tổ chức các hoạt động thể dục, thể thao, văn hóa văn nghệ quần chúng,
các câu lạc bộ, lễ hội truyền thống, bảo vệ các di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng
cảnh ở địa phương, điểm vui chơi giải trí và xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn
hóa, ngăn chặn việc truyền bá tư tưởng phản động, đồi trụy dưới hình thức văn hóa,
nghệ thuật và các tệ nạn xã hội khác ở địa phương” người cán bộ công chức văn hóavăn hội xã cần phải nắm vững và sử dụng thành thạo các quy trình về việc xây dựng Kế
hoạch Quản lý, Kế hoạch Tổ chức các hoạt động văn hóa, thể thao, gia đình và du lịch.
3. Quy trình xây dựng Kế hoạch Quản lý các hoạt động văn hóa, thể thao,
gia đình và du lịch trên địa bàn xã.
Quản lý các hoạt động văn hóa, thể thao, gia đình và du lịch trên địa bàn xã là
hoạt động có ý thức của UBND xã, cán bộ công chức văn hóa-xã hội xã và các thành
viên có liên quan nhằm sắp xếp, tổ chức, chỉ huy, điều hành, hướng dẫn thực hiện,
kiểm tra quá trình diễn ra các hoạt động văn hóa, thể thao, gia đình và du lịch trên địa
bàn xã sao cho đúng với quan điểm đường lối, chủ trương chính sách của Đảng và
pháp luật của Nhà nước, định hướng phát triển kinh tế-xã hội của địa phương, phù hợp
với đời sống văn hóa và thuần phong mỹ tục của dân tộc nhằm nâng cao đời sống tinh
thần cho nhân dân.
3.1. Quy trình xây dựng Kế hoạch Quản lý ngắn hạn (hằng năm).
thảo hiền.
- Lịch mời đoàn văn nghệ chuyên nghiệp, đội chiếu bóng lưu động.
- Các hội nghị tôn vinh những người tốt, việc tốt, những người có mô hình làm
nông nghiệp giỏi, những người có nhiều đóng góp xây dựng đời sống văn hóa - xã hội
ở địa phương…
- Các diễn đàn quảng bá tuyên truyền về sức khỏe sinh sản, sức khỏe giới tính,
phòng chống HIV/AIDS, phòng chóng ma túy, mại dâm, bạo lực gia đình và các tệ
nạn xã hội khác.
- Các sự kiện quảng bá tuyên truyền về việc lập Quỹ khuyến học. Phát động
phong trào thi đua khen thưởng, tôn vinh các em học sinh, sinh viên ở xã có nhiều
thành tích trong học tập và trao học bổng cho các em.
- Phối hợp với Ban Văn hóa xã, Ban chỉ đạo toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống
văn hóa, tổ chức Hội nghị quán triệt và động viên quần chúng nhân dân thực hiện nếp
sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội.
- Các hoạt động dịch vụ văn hóa, dịch vụ du lịch phục vụ đời sống văn hóa - xã
hội tại địa phương.
-Các hoạt động thông tin tuyên truyền quan điểm đường lối của Đảng và Chính
sách Pháp luật của Nhà nước tại địa phương
- Phát động phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa, gia đình,
thôn, xóm, ấp, bản, làng, xã văn hóa.
- Các hoạt động khác thuộc lĩnh vực văn hóa, thể thao gia đình và du lịch mới
phát sinh tại địa phương vào những năm gần đây…
Bước 2: Lập báo cáo tổng thể trình UBND xã xem xét phê duyệt
Sau khi hoàn thiện bảng kế hoạch quản lý, cán bộ công chức văn hóa - xã hội xã
có trách nhiệm lập bản báo cáo tổng thể Kế hoạch quản lý các hoạt động trong năm
trình UBND xã xem xét phê duyệt, trên cơ sở đó triển khai thực hiện.
Bước 3: Xây dựng phương án quản lý
Căn cứ vào mục đích, ý nghĩa, nội dung, hình thức, quy mô tổ chức và tầm quan
trọng của mỗi hoạt động mà xây dựng phương án quản lý sao cho phù hợp, nhằm đảm
bảo an toàn cho các hoạt động. Trên cơ sở Bảng Kế hoạch quản lý các hoạt động văn
căn cứ vào chiến lược xây dựng và phát triển kinh tế-xã hội 5 năm của địa phương, khi
xây dựng kế hoạch quản lý 3 năm hoặc 5 năm đối với các hoạt động văn hóa, thể thao, gia
đình và du lịch, yêu cầu người cán bộ công chức xã hội xã phải có trình độ nhận định,
phân tích, đánh giá hoạt động nào gắn liền với các sự kiện chính trị, kỷ niệm các ngày lễ
lớn của đất nước, dân tộc, hoạt động nào hướng tới mục đích quảng bá tuyên truyền các
thế mạnh của địa phương, để chủ động xây dựng phương án quản lý. Để việc xây dựng kế
hoạch quản lý các hoạt động văn hóa, thể thao, gia đình và du lịch từ 3 năm đến 5 năm đạt
kết quả tốt, người cán bộ công chức văn hóa-xã hội xã cần phải nắm vững quy trình xây
dựng kế hoạch quản lý tổng thể có thời hạn từ 3 đến 5 năm theo các bước sau:
Bước 1: Xây dựng bảng kế hoạch quản lý trung hạn và dài hạn
Nhận định, phân tích, đánh giá, chọn lựa và xác định những hoạt động văn hóa,
thể thao, gia đình và du lịch trọng tâm của từng năm, trên cơ sở đó xây dựng bảng kế
hoạch quản lý tổng thể từ 3 năm đến 5 năm để tham mưu cho UBND xã. Các yếu tố để
nhận xét, đánh giá, chọn lựa và xác định các hoạt động trọng tâm:
1.1 Mục đích, ý nghĩa, tầm quan trọng và sự cần thiết của hoạt động,
1.2 Chủ thể quản lý
7
1.3 Hoạt động thuộc lĩnh vực gì?
1.4 Tên của hoạt động.
1.5 Nội dung, hình thức, quy mô.
1.6 Mục tiêu đề ra:
1.7 Khó khăn, thuận lợi, nguồn nhân lực, nguồn kinh phí.
1.8 Kế hoạch và tiến độ triển khai thực hiện theo từng năm.
Bước 2: Phân loại các loại hình hoạt động tiêu biểu từng năm, và bất cứ loại
hình nào cũng lần lượt theo các trình tự sau đây mà xây dựng kế hoạch tổng thể 3 năm
hoặc 5 năm.
a) Các hoạt động văn hóa
Ví dụ:
- Năm 2013: Dự kiến tập trung tổ chức những hoạt động Thể dục, Thể thao quan
trọng gì? Những hoạt động ấy hướng tới việc huy động mọi nguồn lực xã hội để xây
dựng quê hương ngày càng giàu đẹp? Dự kiến kế hoạch quản lý, kèm theo các phương
án quản lý.
- Năm 2014: Dự kiến tập trung tổ chức những hoạt động Thể dục, Thể thao tiêu
biểu gì? Những hoạt động tiêu biểu ấy có giá trị gì cho sự phát triển kinh tế văn hóaxã hội ở địa phương? Dự kiến kế hoạch quản lý, kèm theo các phương án quản lý.
- Năm 2015: Dự kiến tập trung tổ chức những hoạt động Thể dục, Thể thao trọng
tâm gì? Những hoạt động trọng tâm ấy có tác dụng gì đến niềm tự hào của xứ sở quê
hương? Dự kiến kế hoạch quản lý, kèm theo các phương án quản lý.
c) Các hoạt động gia đình:
Ví dụ:
- Năm 2011: Dự kiến tập trung tổ chức những hoạt động lĩnh vực gia đình tiêu
biểu gì? Những hoạt động gia đình tiêu biểu ấy có giá trị gì về việc phòng chống bạo
lực gia đình, xây dựng gia đình văn hóa? Dự kiến kế hoạch quản lý, kèm theo các
phương án quản lý.
- Năm 2012: Dự kiến tập trung tổ chức những hoạt động Gia đình trọng tâm gì?
Những hoạt động ấy có giá trị thúc đẩy đời sống tinh thần và vật chất của người dân
trong thời kỳ xây dựng nông thôn mới? Dự kiến kế hoạch quản lý, kèm theo các
phương án quản lý.
- Năm 2013: Dự kiến tập trung tổ chức những hoạt động Gia đình quan trọng gì?
Những hoạt động ấy hướng tới việc huy động mọi nguồn lực xã hội để xây dựng quê
hương ngày càng giàu đẹp? Dự kiến kế hoạch quản lý, kèm theo các phương án quản lý.
- Năm 2014: Dự kiến tập trung tổ chức những hoạt động Gia đình tiêu biểu gì?
Những hoạt động tiêu biểu ấy có giá trị gì cho sự phát triển tình làng, nghĩa xóm và
đời sống kinh tế văn hóa- xã hội ở địa phương? Dự kiến kế hoạch quản lý, kèm theo
các phương án quản lý.
- Năm 2015: Dự kiến tập trung tổ chức những hoạt động Gia đình trọng tâm gì?
Những hoạt động trọng tâm ấy có tác dụng gì đến niềm tự hào của dòng tộc, xứ sở quê
hương? Dự kiến kế hoạch quản lý, kèm theo các phương án quản lý.
d) Các hoạt động du lịch:
các tổ chức chính trị, đoàn thể…đảm bảo an toàn.
- Tăng cường công tác kiểm tra giám sát các hoạt động diễn ra theo kế hoạch.
- Xây dựng các phương án quản lý dự phòng, để kịp thời giải quyết các sự cố bất
ngờ có thể xảy ra như hỏa hoạn, mất điện đột xuất, hư hỏng trang thiết bị, tình trạng
cấp cứu, mất an ninh trật tự, tai nạn nghề nghiệp …..
Quản lý các hoạt động văn hóa, thể thao, gia đình và du lịch tại địa phương là trách
nhiệm của Cấp ủy, chính quyền và toàn thể cộng đồng dân cư sinh sống tại địa phương.
Người cán bộ công chức văn hóa, xã hội xã không thể một mình mà có thể quán xuyến
hết các hoạt động cần phải quản lý. Nhưng cán bộ, công chức xã hội xã có một vị trí và
vai trò rất quan trọng là tham mưu đề xuất cho cấp ủy và chính quyền địa phương cách
thức quản lý các hoạt này sao cho ngày càng đi vào nề nếp, văn minh, tiến bộ, trên cơ sở
kế thừa những giá trị truyền thống tốt đẹp, phát triển đi lên, góp phần thúc đẩy các hoạt
động văn hóa, thể thao, gia đình và du lịch ở địa phương phát triển ngày càng phong
phú, sinh động và hấp dẫn, phục vụ đắc lực đời sống tinh thần của quần chúng nhân dân
trong thời kỳ xây dựng nông thôn mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Muốn làm được điều đó người cán bộ công chức văn hóa-xã hội xã phải tự
trang bị cho mình những kiến thức hiểu biết cần thiết để có thể phận loại các loại
hình hoạt động nêu trên một cách chính xác, rõ ràng. Trên cơ sở đó căn cứ vào
nội dung, hình thức và quy mô hoạt động tham mưu cho Cấp ủy và chính quyền
địa phương loại hình nào Chính quyền địa phương trực tiếp quản lý, loại hình
hoạt động nào UBND xã giao cho các tổ chức đoàn thể chính trị xã hội quản lý,
10
Loại hình nào giao cho các tổ chức xã hội nghề nghiệp quản lý; Loại hình hoạt
động nào giao cho các doanh nghiệp quản lý; Loại hình hoạt động nào do chính
bản thân người cán bộ công chức văn hóa-xã hội xã trực tiếp theo dõi và quản lý.
Kèm theo kế hoạch quản lý các hoạt động này người cán bộ công chức văn hóaxã hội xã có trách nhiệm cung cấp và hướng dẫn cho các chủ thể quản lý sử dụng
các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước thực hiện nhiệm vụ quản lý các
hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch ở địa phương ngày càng đạt hiệu quả cao.
quán, đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân địa phương hay không? Nếu là hoạt động
có tài trợ thì cần xác định xem đối tượng tài trợ là ai? Quyền lợi Nhà tài trợ như thế nào?
Hoạt động được tổ chức có làm ảnh hưởng đến thuần phong mỹ tục của dân tộc hay
11
không? Mang lại lợi ích tinh thần và vật chất như thế nào cho quần chúng nhân dân ở
địa phương?
Nhận xét, đánh giá ưu điểm, khuyết điểm của kế hoạch, kịch bản, nội dung chương
trình tổ chức do chủ thể tổ chức xây dựng. Nếu thấy có điều gì bất cập, trực tiếp góp ý và
hướng dẫn chủ thể tổ chức chỉnh sửa bổ sung hoàn thiện Kế hoạch Tổ chức. Báo cáo xin
ý kiến chỉ đạo và quyết định của UBND xã.
Bước 2: Xây dựng kế hoạch tổng thể
Từ mục đích, ý nghĩa, nội dung hoạt động chuẩn bị tổ chức xác định mục tiêu của
hoạt động đó, tiến hành xây dựng kế hoạch tổng thể, có sự sắp xếp, bố trí hợp lý và
khoa học cho từng loại công việc. Cần phải xác định rõ chủ đề của từng loại hình hoạt
động mà trọng tâm là nội dung, hình thức và quy mô của kế hoạch tổ chức: Phong trào
văn hóa văn nghệ quần chúng, Lễ hội dân gian hay giải đua thuyền truyền thống… Đối
với hoạt động được tổ chức mới cần phải được quan tâm đến quyền lợi, nghĩa vụ và
trách nhiệm của Nhà tổ chức đối với chính quyền địa phương.
Bước 3: Xây dựng kế hoạch chi tiết, phân chia tiến độ triển khai thực hiện
hoạt động từ đầu cho đến khi kết thúc
Đây là công cụ giúp cho việc kiểm tra, giám sát tiến độ triển khai thực hiện các
công việc có hiệu quả nhất. Đảm bảo cho những người thực hiện các công việc trong
cùng một kế hoạch tổng thể không để bất cứ một giai đoạn nào của công việc bị trễ hạn,
hoặc kém chất lượng, từ đó gây ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến chất lượng các
công việc khác trong cùng một Kế hoạch tổng thể.
Bảng kế hoạch về tiến độ triển khai thực hiện sự kiện không chỉ là một bảng danh
sách thật dài với những công việc cần phải làm mà nó còn là một thời khóa biểu liệt kê
những công việc chủ yếu, thời gian thực hiện được miêu tả phân tích một cách cụ thể, để
trong việc tổ chức, cán bộ công chức văn hóa - xã hội xã căn cứ mục tiêu chương
trình, thời gian tổ chức chương trình, quy mô chương trình để xây dựng kịch bản nội
dung chương trình.
Xây dựng kịch bản chương trình cho mỗi hoạt động phải súc tích, diễn đạt ngắn
gọn, hàm chứa nhiều ý nghĩa văn hóa, nhân văn nhưng phải mang sắc thái riêng, đặc
trưng của hoạt động đó…
- Phân công, phân nhiệm cho các thành viên trong Ban Tổ chức sao cho phù hợp
với trình độ, năng lực của từng người.
Vì quỹ thời gian có hạn, Ban tổ chức sẽ không cùng một lúc làm được tất cả mọi
công việc cần làm. Vì vậy điều cần thiết là phải biết phân chia công việc cho các thành
viên trong Ban tổ chức rành mạch, rõ ràng, tránh sự chồng chéo, ảnh hưởng đến công việc
chung. Cũng có những thành viên năng lực hạn chế, thực hiện công việc không đạt yêu
cầu… Nhưng sẽ thật lãng phí và sai lầm nếu Trưởng Ban tổ chức ôm đồm quá nhiều việc,
thậm chí phải ngồi xếp từng gói quà hay ghi từng tờ giấy mời trong khi việc của Trưởng
ban cần làm là theo dõi, quản lý, giám sát, đôn đốc tiến độ thực hiện kế hoạch của các
thành viên để không có hạng mục nào, nhân sự nào đi chệch hướng ra khỏi kế hoạch đã
xác định.
- Lập phương án dự phòng và phương án giải quyết các sự cố bất ngờ có thể xảy ra.
Các vấn đề hỏa hoạn, mất điện đột xuất, hư hỏng trang thiết bị, tình trạng cấp
cứu, mất an ninh trật tự, tai nạn nghề nghiệp… Đó là những vấn đề thường hay gặp
phải trong quá trình tổ chức triển khai thực hiện các sự kiện. Người cán bộ công chức
văn hóa-xã hội xã khi tổ chức các hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch trên địa bàn
xã cần phải lưu ý tính đến các phương án dự phòng, để kịp thời giải quyết các sự cố
bất ngờ có thể xảy ra.
- Dự kiến về tài chính cho hoạt động chuẩn bị tổ chức.
Cần phải dự kiến về tài chính và lên dự toán cho các hoạt động chuẩn bị được tổ
chức tại địa phương. Đặt câu hỏi về tài chính lấy từ nguồn nào? Có cá nhân, đơn vị, tập
thể nào hỗ trợ, tài trợ hay không? Dự kiến về tài chính là một khâu vô cùng quan trọng
trong quá trình tổ chức các hoạt động văn hóa, thể thao, gia đình và du lịch tại địa
13
Bất luận như thế nào thì đó là một cá tính và thói quen xấu. Hãy kiểm tra giám sát và
có biện pháp khắc phục những cá tính và thói quen xấu ấy của các thành viên cùng
tham gia trong Ban tổ chức (nếu có) để công việc được thuận lợi.
- Tiến hành tổ chức hoạt động.
- Kết thúc hoạt động.
Bước 5. Kết thúc hoạt động
Ban Tổ chức họp để nhận xét đánh giá ưu khuyết điểm và mức độ thành công hay
thất bại của hoạt động đó. Rút ra những bài học kinh nghiệm từ những việc làm được đến
những việc chưa làm được. Lập Báo cáo gửi UBND xã kết quả của hoạt động. Báo cáo
cần nêu rõ ưu điểm nổi bật và những hạn chế cần phải khắc phục, kèm theo là những kiến
nghị, đề xuất (nếu có).
14
Câu hỏi thảo luận
1. Kế hoạch là gì? Nội dung của Kế hoạch, phân loại kế hoạch (Liên hệ trong
việc xây dựng kế hoạch các hoạt động văn hóa, thể thao, gia đình và du lịch thực tế tại
địa phương)?
2. Quản lý là gì? Tổ chức là gì? Việc xây dựng Kế hoạch quản lý, Kế hoạch tổ
chức các hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch trên địa bàn xã có tầm quan trọng như
thế nào?
3. Trình bày Quy trình xây dựng kế hoạch quản lý các hoạt động văn hóa, thể
thao và du lịch trên địa bàn xã (Liên hệ thực tế tại địa phương).
4. Trình bày Quy trình xây dựng kế hoạch Tổ chức các hoạt động văn hóa, thể
thao và du lịch trên địa bàn xã (Liên hệ thực tế tại địa phương).
Tài liệu tham khảo
1. TS. Nguyễn Hữu Thức: Khắc phục những lệch chuẩn trong tổ chức và quản lý
lễ hội Tạp chí Tuyên giáo, số 3, Trang điện tử Tuyên giáo ngày 26 tháng 05 năm 2011
2. Nhật Anh: Quản lý lễ hội: “Nước chảy đá … chưa mòn”, Theo www.
Giao tiếp là một quá trình dựa trên sự trao đổi giữa hai hay nhiều người sử dụng
một mã cử chỉ, từ ngữ để có thể hiểu được thông tin được chuyển từ người phát tin đến
người nhận tin.
1.2. Đặc điểm của giao tiếp hành chính
Quá trình xác lập mối quan hệ và sự tiếp xúc giữa hai hay nhiều người với nhau
nhằm thỏa mãn nhu cầu nhất định của quản lý hành chính. Trên cơ sở thu nhận thông
tin, hai bên sẽ xây dựng, điều chỉnh mục tiêu, hành vi qua sự tác động lẫn nhau nhằm
đem lại lợi ích nhiều nhất.
Các loại giao tiếp: Nghe, nói, đọc, viết
Hoạt động giao tiếp trong hành chính diễn ra qua hai mối quan hệ hành chính cơ bản:
Thứ nhất, giao tiếp trong nội bộ cơ quan hành chính nhà nước: gồm giao tiếp
giữa cấp trên với cấp dưới và giao tiếp giữa cán bộ, công chức với nhau.
Thứ hai, giao tiếp giữa cán bộ, công chức đại diện cho cơ quan hành chính nhà
nước với tổ chức và công dân.
Giao tiếp hành chính cần đảm bảo về hình thức và cách thức giao tiếp: Không ba
hoa, luộm thuộm, ăn nói tuỳ tiện, xuê xoa, gia đình chủ nghĩa, cũng như thói hách
(*)
- Lý thuyết; 4 tiết; Thảo luận: 4 tiết
16
dịch, cửa quyền, nạt nộ nhân dân...mà phải luôn tuân theo những chuẩn mực xác định,
hướng tới những hành vi giao tiếp chuẩn mực, văn hoá, văn minh, lịch sự, luôn phải có
thái độ vui vẻ, hoà nhã, “kính trọng nhân dân, hoà nhã và thân ái với đồng sự”, giải
quyết công việc cho dân một cách khách quan, minh bạch vẫn là những chuẩn mực
giao tiếp của một nền hành chính hiện đại.
Giao tiếp trong quản lý hành chính nhà nước luôn cần được cân nhắc, tính toán,
chọn lọc thông điệp ngắn gọn, súc tích, dễ hiểu, đồng thời luôn phải chọn những loại
tâm lý cho những yêu cầu, đề nghị của họ. Khi không đạt được những điều như đã dự
định, người dân thường có những phản ứng ở những mức độ khác nhau (có thể bực tức,
17
buồn bã, chán nản, mất lòng tin, tỏ thái độ bất hợp tác thậm chí lăng nhục, chửi bới cán
bộ, công chức). Chính vì vậy, một nguyên tắc cơ bản trong giao tiếp là phải cố gắng
đảm bảo sự hài hòa về lợi ích của hai bên tham gia giao tiếp. Nguyên tắc này đòi hỏi
phải chú ý những điểm cơ bản như sau:
- Người cán bộ, công chức phải hiểu tâm lý của người dân khi đến giao tiếp, dành
thời gian để tìm hiểu mục đích của đối tượng giao tiếp, đồng thời trong hoạt động giao
tiếp này, cơ quan đơn vị mình cần đạt được mục đích gì.
- Nếu là giao tiếp gián tiếp, công chức cần dành thời gian giúp cơ quan và thủ trưởng
thu thập những thông tin về phía đối tác và những lợi ích mà họ hướng tới.
- Trong quá trình giao tiếp, công chức phải hướng tới việc sao cho mục đích của
cơ quan mình đạt và lợi ích của đối tượng tham gia giao tiếp (người dân) cũng được
thỏa mãn một phần hay toàn bộ. Ngược lại, nếu trong giao tiếp chỉ chú trọng tới lợi ích
của cơ quan mình mà không chú ý tới hoặc gạt bỏ hoàn toàn lợi ích của người dân thì
hoạt động giao tiếp này chưa hẳn đã là thành công (ngay cả khi kết quả được phía bên
kia chấp thuận).
- Trong trường hợp lợi ích của đối tượng giao tiếp không được thỏa mãn thì công chức
cần phải tỏ thái độ cảm thông, chia sẻ, không có thái độ hiếu thắng hoặc thờ ơ.
b) Đảm bảo nguyên tắc bình đẳng trong giao tiếp
Cần đảm bảo rằng mọi đối tượng giao tiếp đều phải được tôn trọng và đối xử tốt.
Trong hoạt động giao tiếp, công chức có khi gặp tình huống khó xử: một bên là công
việc, một bên là những quan hệ có ảnh hưởng đến cơ quan hoặc bản thân mình. Nguyên
tắc này giúp cho công chức tránh được những sai lầm trong giao tiếp khi họ có quan
niệm “người này không quan trọng”, không có ảnh hưởng gì đến bản thân mình, cơ quan
mình thì thờ ơ, thậm chí coi thường.
Tránh trường hợp có hai người dân liên hệ làm việc, người công chức đon đả giải
Căn cứ vào mục tiêu của hoạt động nghe, người ta có thể chia “nghe” thành 5
kiểu như sau:
Kiểu nghe
1. Giao tiếp
xã hội: nghe
để giao kết
Tính chất
Môi trường
sử dụng
Người ta giao tiếp với nhau đơn giản là Giữa bạn bè, gia
giao kết xã hội, không nhằm mục tiêu trao đình... Thí dụ: lời
đổi thông tin chuyên biệt nào đó
chào xã giao...
2. Giải trí: nghe Chủ yếu nhằm giải trí, thưởng thức, không Nghe ca nhạc
để thưởng thức nhằm đánh giá hay phân tích
3. Nhận thông Trao đổi thông tin nhằm mục tiêu để hiểu Trong nhiều hoàn cảnh
tin: nghe để học người khác nuốn nói gì, chứ không để phê
phán hay phán quyết gì
4. Thuyết phục: Nhằm thuyết phục người khác làm gì đó, Quản lý; thương mại,
nghe để quyết do đó cần nghe có phân tích, đánh giá
v.v...
định
5. Đồng cảm: Cảm nhận độ biểu cảm của thông điệp để Trong nhiều hoàn cảnh
nghe để thấu hiểu và thông cảm nhau hơn; có thể là để
hiểu
tiếp nhận thông tin hoặc giao kết đơn
hoặc cách ứng xử của những người khác trong phòng.
- Người nghe không quan sát người nói nên không thấy hết được cách diễn đạt bằng điệu
bộ, cử chỉ hay các tín hiệu khác nhằm giúp người nghe hiểu thêm về thông tin.
- Người nghe có thể làm nhiều việc cùng một lúc, chẳng hạn như vừa soạn thảo
một văn bản vừa lắng nghe người khác trình bày, vừa suy nghĩ tiếp về một điều gì đó.
Thứ tư: Nguyên nhân sinh lí. Do tuổi tác, người nghe có vấn đề về thính giác,
người nghe có thói quen nghe nhanh hơn nói…
Vấn đề quan trọng trong hoạt động giao tiếp là biết nhận ra sự thiếu tập trung thì
cũng có nghĩa là đã định hướng được cách khắc phục tình trạng này. Đó cũng chính là
một biểu hiện dẫn đến thành công trong giao tiếp.
Khi người khác nói, chúng ta thường nghe ở bốn cấp độ:
- Làm ngơ: Không nghe
- Giả vờ: Không thực sự nghe
- Nghe một phần: Chỉ nghe một số nội dung nhất định
- Chú ý: Nghe từng từ
20
- Nghe thấu cảm: là nghe với mục đích để hiểu sâu tri thức và tình cảm, để nhìn
nhận thế giới theo cách của người nói. Các chuyên gia giao tiếp cho rằng người ta chỉ
giao tiếp 10% bằng lời. 30% thông qua các tiếng động, và 60% do ngôn ngữ cơ thể.
Người ta không chỉ nghe bằng tai mà còn nghe bằng mắt và cả trái tim. Cần cảm thấy,
có linh cảm về vấn đề; nghe để cảm, để hiểu ý nghĩa, để có hành vi, ngoài nội dung
được truyền tải từ người nói thì người nghe phải quan sát cả thái độ người nói cộng với
phán đoán, sự trải nghiệm trong cuộc sống, hoặc cần có sự đồng cảm giao thoa giữa
người nói với người nghe thì mới có thể thấu hiểu được “ý tại ngôn ngoại” của thông tin
người nói phát ra.
2.1.3 Rèn luyện kỹ năng nghe hiệu quả
Khi rèn luyện kỹ năng nghe để đảm bảo giao tiếp có hiệu quả, chúng ta nên chú ý
thể hiện với người nói rằng: “Tôi đang chú ý một cách nghiêm túc với những gì mà
anh đang nói”.
- Khuyến khích bằng lời: Khi muốn họ tiếp tục nói: Vâng; xin ông (bà) cứ tiếp tục
nói; Thế à! Tôi biết; Tôi hiểu; Ông (bà) hãy nói cho tôi biết thêm về điều này…Khi người
nói tỏ ra khó bắt đầu cuộc giao tiếp hoặc đang ngập ngừng, lưỡng lự, người nghe có thể hỏi:
“Bây giờ ông (bà) muốn nói điều gì?; “Tại sao ông (bà) lại lưỡng lự khi nói điều này?”.
Khi muốn hiểu phạm vi rộng hơn: “Ông (bà) có thể nói rõ hơn về vấn đề …”
“Thế còn vấn đề này…”
Khi muốn biết về các vấn đề, ý tưởng hay cảm tưởng của người nói:“Ông (bà) có thể cho
biết cảm tưởng của mình về…”;”Ông (bà) gặp vấn đề gì khi giải quyết việc…”
Khi muốn người nói tự khám phá một điều gì đó ở chính họ: “Ông (bà) nghĩ thế
nào về vụ việc?”;“Ông (bà) thấy tình hình này thế nào?…”
Khi muốn làm rõ một điều gì đó: “Ông (bà) nói… có ý nghĩa gì”; "Ông (bà) có
thể cho biết thêm về?…”
Khi muốn kiểm soát cuộc nói chuyện hoặc chuyển sang một chủ đề cụ thể nào đó.
“Xin ông (bà) quay trở lại vấn đề…”;“Xin ông (bà) cho biết thêm thông tin chi tiết về…”;
Khi thời gian của người nghe hạn chế: “Ông (bà) có câu hỏi nào nữa về vấn đề này ?”
Khi muốn biết tình hình, số liệu, thông tin mà người nghe đang cần:“Ông (bà) có
chấp nhận đề nghị của chúng tôi không?”
Khi Người nói tỏ ra lan man hoặc lạc chủ đề “Xin ông (bà) nên nói thẳng vào
vấn đề này…”
Khi người nghe cần tìm ra vấn đề hay mối lo ngại chính:“Tại sao ông (bà) lại nói
với chúng tôi như vậy?”
Khi người nghe muốn tìm hiểu kỹ hơn về những cảm nghĩ sâu xa đằng sau những
gì được nói ra: “Tôi có cảm giác rằng: ông (bà) thật sự không hài lòng việc này
nhưng ông (bà) lại tỏ ra bình thường. Tại sao vậy?” đây là loại câu hỏi này mang tính
phòng thủ và đôi khi còn coi là ”đe dọa”, cho nên tốt nhất là ít dùng nó mà điều cơ
bản phải tạo ra được môi trường thân thiết, gần gũi tạo nên sự tự tin cho người nói.
c) Ghi lại ý chính trong khi nghe