Quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học trung đại việt nam - Pdf 38

Quan niệm về con người trong văn học trung đại Việt Nam
QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜI TRONG
VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM

Quan niệm nghệ thuật về con người là một phạm trù rất quan
trọng, được nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong thi pháp học. Mặc dù hiện
nay, khái niệm này chưa được các nhà nghiên cứu định nghĩa một cách
thống nhất và chặt chẽ, nhưng nó đã phần nào gợi mở cho chúng ta
hướng đến đối tượng chủ yếu của văn học. Theo đó, “Văn học nghệ thuật
là một sự ý thức về đời sống, nên nó mang tính chất quan niệm rất cụ
thể” và “Hình tượng nghệ thuật một khi đã hình thành là mang tính chất
quan niệm, ngay cả vô thức cũng là quan niệm về cái vô thức. Nhà văn
không thể miêu tả đối tượng mà không có quan niệm về đối
tượng”[4;23]. Có thể khẳng định, quan niệm chính là một phương tiện
thiết yếu của sáng tạo nghệ thuật. Do vậy, tìm hiểu quan niệm nghệ thuật
về con người trong văn học trung đại nói riêng và văn học Việt Nam nói
chung, chính là bước đi thiết thực để đến với chiều sâu của các tác phẩm,
của các giai đoạn văn học.
1. Quan niệm về con người trong văn học
Macxim Gorki đã từng khẳng định: “Văn học là nhân học”.
Đó là nghệ thuật miêu tả, biểu hiện con người. Do vậy, con
người chính là đối tượng chủ yếu của văn học. Dù miêu tả thần linh, ma
quỉ, đồ vật, hoặc đơn giản là miêu tả các nhân vật, văn học đều nhằm
mục đích miêu tả và thể hiện vào con người.
Thực tế cho thấy, không có một tác phẩm, một tác giả hay một
nền văn học nào lại chỉ đơn thuần nói về thiên nhiên mà không liên quan
đến con người. Nói cách khác, mục đích miêu tả của nhà văn là nhằm
hướng đến thể hiện con người.

1


phẩm của mình”[5;15]. Tức, quan niệm nghệ thuật về con người sẽ đi
2


Quan niệm về con người trong văn học trung đại Việt Nam
vàophân tích, mổ xẻ đối tượng con người đã được hóa thân thành các
nguyên tắc, phương tiện, biện pháp thể hiện con người trong văn học của
tác giả, từ đó, tạo nên giá trị nghệ thuật và thẩm mỹ cho các hình tượng
nhân vật trong đó. Vì vậy, chúng ta sẽ thấy được giá trị của hình tượng
nghệ thuật trong các tác phẩm.
Giáo sư Huỳnh Như Phương cũng góp tiếng nói của mình bằng
một cách nhìn khá bao quát: “Quan niệm nghệ thuật về con người thể
hiện tầm nhìn của nhà văn và chiều sâu triết lí của tác phẩm”.
Cũng với vấn đề về quan niệm nghệ thuật về con người, Từ
điển Thuật ngữ văn học định nghĩa như sau: “Quan niệm nghệ thuật về
con người là hình thức bên trong, là hệ quy chiếu ẩn chìm trong hình
thức tác phẩm. Nó gắn với các phạm trù khác như phương pháp sáng
tác, phong cách của nhà văn, làm thành thước đo của hình thức văn học
và cơ sở của tư duy nghệ thuật.”
Nhìn chung, tuy khác nhau về cách diễn đạt nhưng những khái
niệm trên đều nói lên được cái cốt lõi của vấn đề quan niệm nghệ thuật về
con người. Từ đó, chúng ta có thể đi đến khái quát cách hiểu quan niệm
nghệ thuật về con người như sau:
Quan niệm nghệ thuật về con người được hiểu là cách nhìn,
cách cảm, cách nghĩ, cách cắt nghĩa lí giải về con người của nhà văn.
Đó là quan niệm mà nhà văn thể hiện trong từng tác phẩm. Quan
niệm ấy bao giờ cũng gắn liền với cách cảm thụ và biểu hiện chủ quan
sáng tạo của chủ thể, ngay cả khi miêu tả con người giống hay không
giống so với đối tượng.
Như vậy, vì trung tâm của văn học là con người nên con người

nhiên là bạn tri âm tri kỷ của con người. Người phương Đông
xưa cũng quan niệm: thiên nhiên có mối giao hòa, giao cảm với con
người bởi con người là một "tiểu vũ trụ" có quan hệ tương thông tương
cảm với "đại vũ trụ"- thiên nhiên ngoại giới (Thiên nhân tương cảm,
thiên nhân hợp nhất). Con người là một yếu tố trong mô hình vũ trụ:
Thiên - Địa - Nhân hợp thành "Tam Tài". Con người sống trong
vòng "Thiên phú địa tái" (Trời che, đất chở). Cho nên, quan niệm “Thiên
4


Quan niệm về con người trong văn học trung đại Việt Nam
– Địa – Nhân” hay “Thiên Nhân tương cảm” cổ xưa ấy đã chi phối nhiều
đến sự biểu hiện trong tác phẩm nghệ thuật. Do đó thơ văn trung đại
thường chỉ xuất hiện một con người đứng trước trời đất.
Chẳng hạn, thi đề quen thuộc của thơ trữ tình trung đại chính là
con người một mình đối diện, đàm tâm với thiên nhiên vũ trụ. Người anh
hùng được nhắc đến với tầm vóc sánh ngang vũ trụ:
“Trí chủ hữu hoài phù địa trục
Tẩy binh vô lộ vãn thiên hà.”
(Phò vua bụng những mong xoay đất,
Gột giáp sông kia khó vạch trời)
(Đăng Dung – Cảm Hoài)
Hay trong bài thơ Thuật hoài (Phạm Ngũ Lão), không gian nghệ
thuật hiện lên là một không gian vũ trụ khoáng đạt, rộng lớn và hoành
tráng, mà trong đó, con người dù nhỏ bé song vẫn cố gắng vươn lên
ngang tầm và có khát vọng làm chủ trời đất, vũ trụ, chinh phục thiên
nhiên. Tác giả đã phóng lớn ngọn giáo của mình cho tương xứng với kích
thước của đất nước, của vũ trụ:
“Hoành sóc giang san cáp kỷ thu,
Tam quân tì hổ khí thôn Ngưu”

Dầm dề giọt ngọc thẫn thờ hồn mai.”
(Nguyễn

Du

- Truyện

Kiều –

Câu 2795-2796)
Sự miêu tả gián tiếp trong thơ trung đại chính là bị sự chi phối của
quan niệm vũ trụ đó. Con người không được miêu tả như một hiện tượng
xã hội mà được như là một bộ phận của thiên nhiên, của vũ trụ. Chẳng
hạn như khi nói sự bình phục của Kiều, thì Nguyễn Du viết:
“ Vừa tuần nguyệt sáng, gương trong”
(Nguyễn Du - Truyện Kiều – Câu 1191)
về tình yêu của từ Hải và Kiều, thì:
“ Trai anh hùng, gái thuyền quyên
Phỉ nguyền sánh phượng, đẹp duyên cưỡi rồng”
6


Quan niệm về con người trong văn học trung đại Việt Nam
(Nguyễn Du - Truyện Kiều – Câu 2211,2212)
Ngoài ra, do quan niệm vũ trụ trong văn học ta bắt nguồn từ rất xa
xôi, gắn liền với những quan niệm thần bí, tướng số. Cho nên, đặc biệt
đối với những nhân vật xuất chúng, tác giả thường miêu tả thành những
con người dị tướng, phi thường, hun đúc một sức mạnh nào đó của vũ
trụ. Đó là những con người “chịu mệnh trời”. Từ Hải chính là nhân vật
được Nguyễn Du xây dựng dựa trên quan niệm này:

được coi là chân chính; còn những người sống theo xúc cảm, theo những
luân lí trần thế, nhân bản thì bị coi thường, chê trách.
Bên cạnh đó, con người trong văn học trung đại còn là con người
của tấm lòng, con người của chí khí và việc tỏ lòng, tỏ chí khí là nét đặc
trưng của họ. Bởi vậy, cái có giá trị nhất của con người thuộc về tấm
lòng, muốn đánh giá về một con người là xem tấm lòng của họ như thế
nào. Trong Truyện Kiều, để “tỏ lòng” hiếu thảo, Kiều đã bán mình chuộc
cha. Đó là một hành động phi thường, trên thực tế nàng có thể vay tiền
chuộc cha, nhưng như thế thì quá bình thường. Tương tự, Kiều Nguyệt
Nga cũng thể hiện tấm lòng trinh liệt của mình khi ôm bức chân dung
Vân Tiên nhảy xuống sông tự vẫn.
Như vậy, sự “tỏ lòng” là rất quan trọng trong văn học trung đại.
Chính nó đã làm cho hệ thống sự kiện trở nên gay gắt, căng thẳng hơn
chứ không hề xây dựng được cốt truyện đơn thuần trên những việc bình
thường hàng ngày.
Nguyễn Trãi, vị anh hùng dân tộc, vào thế kỷ thứ XV, là một nhà
quân sự thiên tài, nhà chính trị lỗi lạc, một nhà văn hóa vĩ đại của dân
tộc. Trong tác phẩm Gia huấn ca, ông đã đề cao đạo đức luân lí trong
mối quan hệ giữa cá nhân, gia đình và xã hội. Đạo hiếu được nhấn mạnh
rất rõ:
“Dù nội ngoại bên nào cũng vậy
Đừng tranh giành bên ấy, bên này
Cù Lao đội đức cao dày,
Phải lo hiếu kính đêm ngày khăng khăng.”
Còn phận làm con đối với cha mẹ thì:
“Khi ấm lạnh ta hầu săn sóc
Xem cháo cơm thay thế mọi bề
Ra vào thăm hỏi từng khi
8



9


Quan niệm về con người trong văn học trung đại Việt Nam
Như vậy, con đường đi đến chủ nghĩa hiện thực của Nguyễn Du rất
độc đáo, theo kiểu phương Đông. Cách “quan niệm về con người” này
chi phối một giai đoạn rất dài của Văn học Việt Nam gần mười thế kỷ.
3.4. Con người có ý thức cá nhân
Con người cá nhân trong văn học chính là sự phản ánh cái tôi, là sự
giãi bày, diễn tả thế giới tư tưởng, tình cảm riêng tư của tác giả. Nói cách
khác, con người cá nhân trong văn học chính là sự tự khắc họa tâm tư,
tình cảm, ý chí của tác giả được thể hiện thông qua những tác phẩm mà
họ sáng tác. Tùy theo từng giai đoạn, thời kỳ văn học, mà con người cá
nhân có những đặc điểm khác nhau.
Riêng đối với văn học trung đại con người cá nhân cũng được thể
hiện ở mức độ đậm nhạt và qua nhiều bình diện khác nhau. Cụ thể, ý thức
về con người cá nhân trong văn học trung đại Việt Nam trải qua hai giai
đoạn với những hình thái khác nhau. Từ thế kỉ X đến thế kỉ XVIII về cơ
bản con người cá nhân được “khẳng định trên bình diện tinh thần, như
một thực thể tinh thần, siêu nghiệm dưới các hình thức tu dưỡng, lựa
chọn xuất xử, hoàn thiện nhân cách, tự hạn chế nhu cầu vật chất, tự đối
lập với thói tục. Con người cá nhân tự khẳng định mình bằng cách gắn
mình với đạo, với tự nhiên, với nghĩa vụ trong sự nghiệp chung của của
cộng đồng. Yếu tố quyền lợi cá nhân chưa được chú ý [3;194]. Còn từ thế
kỉ XVIII đến hết thế kỉ XIX, “con người trong văn học đã kêu to lên nhu
cầu về quyền sống cá nhân, quyền hưởng hạnh phúc cá nhân như một
quyền tự nhiên” [3;194].
Ví như, con người cá nhân với ý thức khẳng định vẻ đẹp và tài
năng (thơ Hồ Xuân Hương); con người với nhu cầu bộc lộ tình cảm riêng





Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status