QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT về CON NGƯỜI TRONG văn học VIỆT NAM từ CÁCH MẠNG THÁNG tám năm 1945 đến NAY - Pdf 33

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU
NỘI DUNG
Chương 1: Cơ sở lí luận của vấn đề
I. Đối tượng trung tâm của văn học nghệ thuật
II. Quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học
Chương 2: Quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học VN từ CM

Trang
2
5
5
5
6
11

tháng Tám 1945 đến năm 1975
I. Hoàn cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa Việt Nam từ CM tháng Tám năm 1945

11

đến năm 1975
II. Đặc điểm cơ bản của văn học VN từ CM tháng Tám năm 1945 đến năm

13

1975
III. Quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học Việt Nam từ CM tháng

15

MỞ ĐẦU
1


I. Lí do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu
Văn học là nhân học – khoa học về con người. Ở bất kì thời đại nào, con
người cũng là đối tượng trung tâm trong sự phản ánh của văn học. Mọi phân tích,
khám phá trong văn chương cuối cùng cũng quy tụ vào sự lí giải về con người.
Tìm hiểu quan niệm nghệ thuật về con người trong sáng tác cuả mỗi nhà văn, trong
sáng tác của mỗi chặng đường, mỗi giai đoạn, mỗi thời kì văn học là nội dung cơ
bản của nghiên cứu văn học, cũng là một phạm trù quan trọng trong thi pháp học.
Thành quả của những nghiên cứu ấy sẽ giúp cho việc nhìn nhận và đánh giá nhân
vật văn học cũng như việc khám phá tư tưởng của nhà văn có căn cứ khoa học, có
sự chính xác và mang tính hệ thống.
Văn học Việt Nam thời kì từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay đã trải
qua nhiều giai đoạn, nhiều chặng đường. Ở mỗi giai đoạn, mỗi chặng đường, do
nhu cầu và quan niệm thẩm mĩ khác nhau, do những yêu cầu, đòi hỏi xã hội đặt ra
với văn chương khác nhau nên quan niệm nghệ thuật về con người ít nhiều cũng có
sự khác biệt. Chính sự đổi mới trong quan niệm về con người là một nhân tố quan
trọng thúc đẩy nền văn học vận động, là cơ sở quan trọng để phân chia các giai
đoạn, thời kì văn học.
Trong giảng dạy bộ môn ngữ văn ở trường phổ thông, trọng tâm của đọc hiểu
văn bản văn học là tìm hiểu hình tượng nghệ thuật. Có hình tượng thiên nhiên, hình
tượng loài vật, đồ vật, hình tượng con người,… Song tất cả đều được tìm hiểu
khám phá trong mối liên hệ với con người. Những năm gần đây, việc đổi mới trong
thi cử đòi hỏi học sinh phải có năng lực tư duy bao quát, hệ thống, có khả năng
phân tích nhân vật, tác phẩm trong sự đối chiếu, so sánh, nhiều dạng đề so sánh
văn học được đưa vào trong thi cử, kiểm tra đánh giá. Hệ thống hóa quan niệm
nghệ thuật trong cả một chặng đường gần một thế kỉ văn học hiện đại là một việc
làm cần thiết, có tính ứng dụng cao trong học tập và giảng dạy Ngữ văn ở phổ

hội thảo trao đổi chuyên môn giữa các trường THPT chuyên, chúng tôi không có
tham vọng giải quyết vấn đề trọn vẹn, thấu đáo như các nhà nghiên cứu chuyên
sâu. Ở đây, xin kế thừa thành quả nghiên cứu của người đi trước, cùng với một số
kết luận mới mẻ mà bản thân rút ra được trong quá trình giảng dạy và tự học, tự
3


bồi dưỡng đề hoàn thành đề tài. Khối lượng tác phẩm văn học ra đời từ năm 1945
đến nay là rất lớn, đó là cơ sở tư liệu nghiên cứu để rút ra những kết luận khoa học,
song chúng tôi chỉ xin đi sâu vào tư liệu là tác phẩm được giảng dạy trong nhà
trường và tác phẩm của các nhà văn gần gũi với trường phổ thông. Thêm nữa thời
điểm “đến nay” cũng chỉ xin dừng ở mốc hết thế kỉ XX. Văn học hơn mười năm
đầu thế kỉ XXI còn là một hiện tượng hết sức phức tạp, chưa được đưa vào giảng
dạy trong nhà trường nên với kiến thức còn hạn hẹp của giáo viên phổ thông,
chúng tôi xin phép chưa đề cập đến trong phạm vi đề tài này.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để tiến hành đề tài, chúng tôi sử dụng một số phương pháp nghiên cứu: phân
tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu.
5. Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài gồm ba chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận của vấn đề
Chương 2: Quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học Việt Nam từ
Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến năm 1975
Chương 3: Quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học Việt Nam từ
năm 1975 đến hết thế kỉ XX

NỘI DUNG
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ
I. ĐỐI TƯỢNG TRUNG TÂM CỦA VĂN HỌC NGHỆ THUẬT


nổi tiếng, phản ánh đúng được bản chất quan trọng của văn học: “Văn học là nhân
học”. Văn học tái hiện muôn mặt đời sống con người, từ đời sống xã hội đến đời
sống riêng tư, từ quan hệ đẳng cấp đến quan hệ giới tính, từ đời sống vật chất đến
tâm hồn, từ tâm lí, phong tục tập quán đến tín ngưỡng, thói quen, thị hiếu thẩm mĩ,
… Văn học là tấm gương soi muôn mặt của đời sống con người. Nhà văn Nguyễn
5


Minh Châu cũng đồng quan điểm khi khẳng định: “Văn học và đời sống là những
vòng tròn đồng tâm mà tâm điểm là con người”. Là “khoa học về con người”, lấy
con người làm đối tượng trung tâm, song không giống như sinh lí học nghiên cứu
mặt sinh học với đặc điểm về cấu trúc cơ thể, cơ chế hoạt động của các cơ quan, bộ
phận trên cơ thể người, văn học nghệ thuật quan tâm trước hết tới bản chất xã hội
của con người, nghiên cứu con người trong “tổng hòa các mối quan hệ xã hội”.
Con người trong văn chương là con người cụ thể - lịch sử, hiện lên trong không
gian và thời gian nhất định. Đó là con người với những tính cách riêng biệt độc
đáo, những số phận cụ thể.
Lựa chọn con người làm đối tượng trung tâm, luôn khám phá hiện thực trong
mối liên hệ với con người, đó chính là đặc thù của đối tượng nghệ thuật.
II. QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜI TRONG VĂN HỌC

Trong nghiên cứu văn học xưa nay, người ta quan tâm nhiều đến thi pháp học.
Đó là bộ môn khoa học nghiên cứu các phương thức và phương tiện thể hiện cuộc
sống bằng nghệ thuật, khám phá cuộc sống bằng hình tượng, là khoa học về hình
thức nghệ thuật. Cùng với việc nghiên cứu đặc điểm về thể loại, kiểu tác giả, ngôn
ngữ, các yếu tố không gian và thời gian nghệ thuật,… trong văn chương thì nghiên
cứu quan niệm nghệ thuật về con người được xem là một phạm trù rất quan trọng
của thi pháp học.
*Khái niệm “Quan niệm nghệ thuật về con người”
Từ điển Thuật ngữ văn học định nghĩa: Quan niệm nghệ thuật về con

quan niệm nghệ thuật không phải là bất cứ cách cắt nghĩa, lý giải nào về con người, mà là cách
cắt nghĩa có tính phổ quát, tột cùng mang ý vị triết học, nó thể hiện cái giới hạn tối đa trong việc
miêu tả con người. Mà chỉ ở trong giới hạn đó mới có khác biệt với các quan niệm thông
thường và mới có tính sáng tạo.
*Đặc điểm của quan niệm nghệ thuật về con người
Nghệ thuật là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, là sản phẩm có ý
thức của người nghệ sĩ, kết tinh tài năng, tư tưởng, tình cảm của người nghệ sĩ. Do
vậy, quan niệm nghệ thuật về con người mang dấu ấn sáng tạo của cá nhân người
nghệ sĩ, gắn liền với thế giới quan nghệ sĩ trong sáng tác. Chẳng hạn, chúng ta có
thể nhận thấy sự khác biệt trong quan niệm nghệ thuật về con người trong sáng tác
7


của Nam Cao so với Vũ Trọng Phụng và Ngô Tất Tố, trong sáng tác của Nguyễn
Thi so với Nguyễn Trung Thành hay Nguyễn Minh Châu,…
Văn học gắn liền với cuộc sống, thời đại nào văn học ấy. Quan niệm nghệ
thuật về con người cũng mang dấu ấn thời đại, gắn liền với sự vận động của lịch
sử. Cách nhìn, cách cảm, cách nghĩ, cách lí giải về con người của nhà văn đều là
sản phẩm của lịch sử, xã hội và văn hóa thời đại nhà văn sáng tác. Cho nên, ở mỗi
thời kì, giai đoạn văn học khác nhau, quan niệm nghệ thuật về con người cũng có
sự khác nhau. Dễ thấy quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học trung đại
khác xa với quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học hiện đại. Quan niệm
nghệ thuật về con người trong văn học giai đoạn chống Pháp cũng khác ít nhiều so
với giai đoạn chống Mỹ, và khác với con người trong văn học giai đoạn đổi mới.
Là một hình thái ý thức xã hội, văn học tác động qua lại với các hình thái ý
thức khác như chính trị, đạo đức, tôn giáo, triết học. Quan niệm nghệ thuật về con
người cũng là sản phẩm của văn hoá, tư tưởng. Cho nên dù quan niệm con người trong mỗi
thời có thể đa dạng, nhưng vẫn mang dấu ấn của quan niệm thống trị trong thời ấy. Chẳng hạn,
thời trung đại phương Tây, người ta xem con người là sản phẩm sáng tạo của Chúa trời; từ thời
Phục hưng đến Khai sáng thì con người được xem là sản phẩm của tự nhiên – con người trần

con cờ trên ván cờ tư tưởng, tất nhiên rất xem nhẹ việc khám phá về con người. Tác giả của
chúng bằng lòng với một quan niệm thông dụng nào đó, cho nên nội dung nhân văn trong sáng
tác của họ thường nghèo nàn. Nghệ sĩ đích thực là người suy nghĩ về con người, cho con người,
nêu ra những tư tưởng mới để hiểu về con người, do đó càng khám phá quan niệm nghệ thuật
về con người thì càng đi sâu vào thực chất sáng tạo của họ, càng đánh giá đúng thành tựu của họ.
* Những biểu hiện của quan niệm nghệ thuật về con người
Nhân vật văn học chính là mô hình về con người của tác giả, biểu hiện tập trung nhất
quan niệm nghệ thuật về con người của tác giả. Theo tác giả Trần Đình Sử trong Dẫn luận Thi
pháp học, quan niệm nghệ thuật về con người được biểu hiện qua các phương diện cơ bản như
sau:
Trước hết là cách xưng hô, gọi tên nhân vật của nhà văn. Các tác giả Khái Hưng, Nhất
Linh gọi nhân vật bằng “chàng, nàng” thể hiện một quan niệm khác với cách gọi “hắn, y, thị”
của Nam Cao, và gọi “anh, chị, ông” trong Tắt đèn của Ngô Tất Tố. Mà người ta không thể tuỳ
tiện thay đổi nếu không thay đổi luôn cả cách cảm thụ cuộc sống tương ứng với cách xưng hô
9


ấy trong văn học.
Cách miêu tả chân dung, số phận nhân vật cũng là một biểu hiện của quan niệm về con
người. Miêu tả chân dung con người như Từ Hải của Nguyễn Du, quan phủ trong Tắt đèn
(Ngô Tất Tố), Thị Nở trong Chí Phèo (Nam Cao) đều gợi lên những quan niệm về con người
chứ không phải giản đơn là đặc điểm riêng cá biệt của nhân vật hoặc là đặc điểm chủng loại của
các nhân vật đó.
Quan niệm về con người của nhà văn còn bộc lộ qua hành động được lặp đi lặp lại của
nhân vật , thái độ của nhân vật đối với sự sống, cái chết, qua các chi tiết nghệ thuật,
ngôn ngữ ,… Song chúng chỉ biểu hiện trong tính hệ thống, trong sự lặp lại có quy luật, có sự
liên hệ chi phối lẫn nhau.
Tóm lại:
− Lịch sử của văn học nhân loại là lịch sử luôn luôn đổi thay quan niệm nghệ
thuật về con người.

mặt với hàng loạt khó khăn: Chính phủ mới ra đời chưa được nước nào trên thế
giới công nhận. Nền kinh tế kiệt quệ, tài chính cạn kiệt, kho bạc nhà nước hầu như
trống rỗng. Trong giáo dục thì có tới 90% dân số mù chữ. Chính quyền cách mạng
ở vào tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”.
Ngày 23/9/1945, thực dân Pháp nổ súng ở Sài Gòn, rồi liên tiếp gây hấn ở
nhiều nơi, vi phạm các bản Hiệp định sơ bộ 6/3 và Tạm ước 14/9 kí với Việt Nam.
Trước những yêu sách ngày càng không thể chấp nhận được của thực dân Pháp,
đúng 20h ngày 19 tháng 12 năm 1946, Bác Hồ phát lời kêu gọi toàn quốc kháng
chiến. Toàn thể dân tộc Việt Nam chính thức bước vào cuộc trường kì chín năm
chống thực dân Pháp lần thứ hai.
Chiến dịch Điện Biên Phủ 1954 kết thúc thắng lợi, “được ghi vào lịch sử dân
tộc như một Bạch Đằng, một Chi Lăng hay một Đống Đa ở thế kỉ XX, và đi vào
lịch sử thế giới như một chiến công chói lọi, đột phá vào thành trì của hệ thống nô
dịch thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc” (Lê Duẩn). Hiệp định Giơ-ne-vơ được kí
kết, đất nước tạm thời bị chia cắt hai miền với hai chế độ khác nhau: miền Bắc
hoàn toàn giải phóng, đi lên chủ nghĩa xã hội; miền Nam bị đế quốc Mĩ và các lực
lượng tay sai thống trị.
11


Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc những năm 1954 đến 1964
đạt được nhiều thành tựu. Từ năm 1965, miền Bắc vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội,
thực hiện nghĩa vụ hậu phương lớn đối với miền Nam, vừa phải chiến đấu chống
các cuộc chiến tranh leo thang phá hoại của đế quốc Mĩ. Cùng với những thành tựu
đáng kể, trong công tác lãnh đạo, ta còn có những sai lầm, đặc biệt ở lĩnh vực cải
cách ruộng đất. Thái độ chủ quan, nóng vội dẫn đến gò ép, vi phạm nguyên tắc tự
nguyện đã gây bức xúc trong nhân dân, tạo kẽ hở để kẻ thù lợi dụng phá hoại, chia
rẽ nhân dân với chính quyền, chia rẽ khối đoàn kết dân tộc.
Ở miền Nam, đế quốc Mĩ thay chân Pháp. Chúng lập ra chính phủ bù nhìn do
Ngô Đình Diệm làm thủ tướng, liên tiếp thực hiện chiến lược Chiến tranh đặc biệt

học Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến năm 1975 là nền văn học
của chế độ mới, vận động và phát triển dưới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng
Cộng sản nên có tính thống nhất về khuynh hướng tư tưởng, tổ chức và kiểu nhà văn.
Ngay sau khi đất nước giành độc lập, Hội Văn hóa cứu quốc đã tổ chức Đại hội lần
thứ nhất (tháng 9/1945), tiếp đó là Hội nghị văn hóa toàn quốc lần thứ nhất diễn ra
tại Hà Nội vào tháng 11/1946. Theo ngọn cờ tư tưởng Hồ Chí Minh, các văn nghệ
sĩ đã hướng vào cuộc sống xây dựng và chiến đấu của dân tộc. Trào lưu văn học
cách mạng đóng vai trò chủ đạo, thúc đẩy sự phát triển nền văn học mới của dân tộc.

Trong những năm kháng chiến chống Pháp, chống Mĩ và xây dựng chủ nghĩa
xã hội ở miền Bắc, văn nghệ sĩ cũng lên đường ra trận tham gia chiến dịch. Họ
theo sát bước chân người lính xung kích, dân công, thanh niên xung phong ra hỏa
tuyến, theo người công nhân vào nhà máy, theo người nông dân ra cánh đồng.
Cuộc sống chiến đấu của dân tộc và sự dấn thân vào thực tế của nhà văn đã cho ra
đời nhiều tác phẩm giàu tính hiện thực và tính chiến đấu. Văn hóa nghệ thuật thực
sự là một mặt trận mà anh chị em nghệ sĩ là chiến sĩ trên mặt trận ấy. Các nhà văn
đã quán triệt tinh thần khẩu hiệu của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Kháng chiến hóa văn
hóa, văn hóa hóa kháng chiến”.
Nhìn đại thể, văn học Việt Nam từ 1945 đến 1975 có ba đặc điểm cơ bản:
Thứ nhất, nền văn học chủ yếu vận động theo hướng cách mạng hóa, gắn bó
sâu sắc với vận mệnh chung của đất nước. Nội dung và đề tài phản ánh của văn

13


học theo sát các sự kiện, diễn biến của cách mạng, đáp ứng nhu cầu phục vụ kịp
thời các nhiệm vụ cách mạng.
Thứ hai, nền văn học hướng về đại chúng. Đại chúng vừa là đối tượng phản
ánh, vừa là công chúng, vừa là lực lượng sáng tác chủ yếu của văn học. Hướng về
đại chúng nên văn học cũng tìm đến những hình thức thể hiện giản dị, trong sáng,

là “đại đồng tiểu dị” – bên cạnh những đặc điểm chung cũng có đôi chút khác biệt.
Con người trong văn học chặng đường chống Pháp 1945 – 1954 là con
người tập thể, con người quần chúng. Họ xuất thân từ các thành phần giai cấp khác
nhau, đến từ các miền quê khác nhau lần đầu được giác ngộ lí tưởng cách mạng,
thức tỉnh về sức mạnh của cộng đồng. Với tấm lòng trong sáng, vô tư, với tinh thần
sẵn sàng hi sinh vì lí tưởng, họ từ giã gia đình, quê hương ra đi, tham dự vào các
biến cố lịch sử, tự nguyện ghé vai gánh vác trách nhiệm với lịch sử, với dân tộc.
Đó có thể là những người lính nông dân tiếp nối truyền thống các nghĩa sĩ Cần
Giuộc khi xưa“vì dân ấp, dân lân, mến nghĩa làm quân chiêu mộ”. Từ những miền
quê nghèo trên khắp mọi miền đất nước, họ tụ hội về đây dưới ngọn cờ đại nghĩa,
sẵn sàng hi sinh thân mình cho lí tưởng hòa bình dân tộc, đặt lợi ích của dân tộc,
của nhân dân lên trên lợi ích cá nhân.
Quê hương anh nước mặn đồng chua
Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá
Tôi với anh hai người xa lạ
Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau
(Đồng chí, 1948 – Chính Hữu)
Lũ chúng tôi
Bọn người tứ xứ
Gặp nhau hồi chưa biết chữ
Quen nhau từ buổi “một, hai”
[…] Ba năm rồi gửi lại quê hương
Mái nhà tranh, tiếng mõ đêm trường
Luống cày đất đỏ
Ít nhiều người vợ trẻ
Mòn chân bên cối gạo canh khuya
15


(Nhớ, 1948 – Hồng Nguyên)


cái gì? Họ từ bỏ cả trái hạnh phúc đang ửng hồng trong vườn nhà mình để chiến
đấu cho mục đích gì?” Từ những năm 1965, rất nhiều thanh niên miền Bắc đã tự
nguyện gác bỏ giấc mơ học đường, xếp vào ba lô những ước mơ đẹp đẽ nhất để
vào Nam chiến đấu vì lí tưởng hòa bình, thống nhất tổ quốc. Đó là sự hi sinh lớn
lao nhưng hoàn toàn chân thành, tự nguyện. Việt, Chiến (Những đứa con trong gia
đình, Nguyễn Thi), Khuê, Lữ, Cận (Dấu chân người lính, Nguyễn Minh Châu) là
những thanh niên đều ở lứa tuổi mười tám, đôi mươi, sống cùng thời đại, cùng
chung lí tưởng. Họ đại diện cho thế hệ trẻ Việt Nam thời chống Mĩ từ tuổi thơ đi
thẳng tới chiến trường, vẫn còn những nét hồn nhiên ngây thơ trong cuộc sống
hàng ngày nhưng lại cực kì nghiêm túc trong tư cách người chiến sĩ gánh vác trên
vai trách nhiệm với tổ quốc, với nhân dân. Nói như nhân vật Khuê trong Dấu chân
người lính: “Lớp tuổi chúng mình chưa kịp bước vào đời thì thằng giặc Mĩ đã đến
gọi chúng mình ngay trước cửa trường học”.
Hình tượng nhân vật trong văn học chống Mĩ tiêu biểu cho quan niệm nghệ
thuật về con người trong văn học cách mạng của cả giai đoạn 1945 – 1975 mà
chúng tôi sẽ trình bày dưới đây.
2. Quan niệm nghệ thuật về con người trong nền văn học cách mạng từ 1945
đến 1975 có sự vận động qua các chặng đường, song trên đại thể có những đặc
điểm chung cơ bản như sau:
- Hình tượng nhân vật trung tâm là người chiến sĩ – anh hùng trên mặt trận
vũ trang và những lực lượng trực tiếp phục vụ chiến trường như dân quân du kích,
thanh niên xung phong, dân quân hỏa tuyến,… Trong những năm miền Bắc xây
dựng chủ nghĩa xã hội, văn học còn tập trung viết về những con người mới xã hội
chủ nghĩa, những người anh hùng trên mặt trận lao động sản xuất. Họ gánh vác
trên vai những nhiệm vụ nặng nề mà cao cả của dân tộc, mang trong mình những
phẩm chất cao đẹp, kết tinh vẻ đẹp tinh thần và lí tưởng cao cả của cộng đồng.
- Điểm khác biệt cơ bản của con người trong văn học chống Pháp và chống
Mĩ so với con người trong các giai đoạn văn học trước đó và trong văn học đổi mới
là con người mang đậm tính sử thi. GS Nguyễn Đăng Mạnh nhận định: “Xu

yêu “Chia tay trong đêm Hà Nội” đã có cử chỉ thân mật: “Anh ôm chặt em và ôm
18


cả khẩu súng trường bên vai em”. Nhân vật trữ tình trong thơ Tố Hữu cũng không
ngần ngại thổ lộ với người bạn gái:
Chào xuân đẹp! Có gì vui đấy
Hỡi em yêu? Mà má em đỏ dậy
Như buổi đầu hò hẹn, say mê
Anh nắm tay em, sôi nổi, vụng về
Mà nói vậy: “Trái tim anh đó
Rất chân thật chia ba phần tươi đỏ:
Anh dành riêng cho Đảng phần nhiều
Phần cho thơ, và phần để em yêu…”
(Bài ca xuân 1961)
+ Trong sử thi, nhân vật người anh hùng kết tinh cho vẻ đẹp, sức mạnh, phẩm
chất cao cả của cộng đồng ở thời đại mà tác phẩm ra đời. Trong văn học cách
mạng cũng vậy, nhân vật chính thường tiêu biểu cho lí tưởng và đạo đức chung
của dân tộc, đại diện cho tinh hoa, khí phách của toàn dân tộc, gắn bó số phận
mình với số phận đất nước. Nhân vật ở mọi tầng lớp, mọi thành phần, mọi lứa
tuổi luôn được nhìn nhận, khám phá và miêu tả trong cuộc sống chiến đấu của cả
dân tộc. Chính ngọn lửa hai cuộc chiến tranh đã soi tỏ khuôn mặt các thế hệ anh
hùng của dân tộc Việt Nam. Họ chính là hiện thân đẹp đẽ của dân tộc và thời đại.
Nhân vật Nguyệt trong truyện ngắn Mảnh trăng cuối rừng của Nguyễn Minh
Châu, như mọi cô gái Việt Nam khác, có một tình yêu thủy chung, một niềm tin
mãnh liệt vào tương lai. Sống giữa sự tàn phá của chiến tranh, bao năm cô vẫn chờ
đợi người con trai chưa hề gặp mặt, chưa hứa hẹn một điều gì, bởi vì trong lòng
cô “cái sợi chỉ xanh nhỏ bé và óng ánh, qua thời gian và bom đạn vẫn không phai
nhạt, không hề đứt”. Chỉ là câu nói đùa nhưng người đọc thấy được cách Nguyệt
hành xử rất phù hợp với truyền thống đạo lí của dân tộc, sống có trước có sau, trọn

động, anh từ giã quê hương làng bản ra đi kháng chiến, tham gia lực lượng quân
đội giải phóng. Đôi bàn tay đau thương ấy đã biến thành đôi bàn tay căm thù, bàn
tay giết giặc. Anh chiến đấu để trả thù nhà, nợ nước, cũng là để giữ cho cánh rừng
xà nu mãi một màu xanh bất tận.
20


Trung với nước, hiếu với dân, sẵn sàng phấn đấu hi sinh vì độc lập dân tộc, vì
chủ nghĩa xã hội chính là tiêu chuẩn đạo đức cao nhất của con người thời đại. Mô
hình nhân cách người anh hùng trong văn học cách mạng, nói như GS Nguyễn
Đăng Mạnh là phải đủ “yêu, căm, chiến, lạc”. Trong tác phẩm Ăn mày dĩ vãng,
nhà văn Chu Lai cũng thừa nhận quan niệm nghệ thuật một thời về con người: “Có
một thời, giá trị nhân phẩm con người không phụ thuộc vào những khuyết tật lặt
vặt, những cá tính khó xài, những khôn ngoan lọc lõi, mà chỉ phụ thuộc vào
chuyện anh có dám hết mình thủy chung với cách mạng, với bạn bè, có dám xả
thân ăn thua đủ với kẻ thù đang ở thế mạnh không. Đó là hạt nhân của nhân cách,
của lòng cao thượng và vị tha.” Tiêu chuẩn định giá con người ấy đã chi phối cách
xây dựng hình tượng người anh hùng của cả một giai đoạn văn học. Con người ít
được xem xét ở phương diện con người cá nhân, con người đời tư thế sự trong
những mối quan hệ phồn tạp đan xen, con người nhân bản với cả những tốt – xấu,
thiện – ác, cao cả - thấp hèn,… Hình tượng do vậy mà cũng thiếu đi tính chân thực.
Người anh hùng trong văn học cách mạng luôn đặt tình cảm cách mạng lên
trên lợi ích cá nhân. Trong những hoàn cảnh cấp bách, họ thậm chí “lạnh lùng” hi
sinh tình cảm cá nhân, gia đình cho lợi ích dân tộc mà không phải dằn vặt, day dứt,
đau khổ nhiều. Ta nhớ hình ảnh chị Út Tịch trong tác phẩm Người mẹ cầm súng
của Nguyễn Thi với những câu nói đầy khẩu khí của người phụ nữ miền Nam anh
hùng: “- Đánh Tây sướng bằng tiên chớ cực gì!” và “Còn cái lai quần cũng
đánh”. Vợ chồng chị đi công tác cách mạng vắng nhà như cơm bữa. Đàn con của
anh chị từ nhỏ đã sống tự lập, thừa kế phẩm chất và lí tưởng anh hùng từ cha mẹ.
Chị Út có thai đến tháng thứ bảy vẫn nhất định đòi theo chồng đi đánh bót Đường

cách mạng và kháng chiến. Trước khi hòa mình vào tập thể, họ thường có hoàn
cảnh eo le, bế tắc, có số phận bất hạnh. Nhưng khi hòa vào cuộc đời chung, họ cảm
thấy tự tin và trưởng thành, lại tìm thấy hạnh phúc. Họ tìm thấy sự đổi đời, sự hồi
sinh nhờ cách mạng.
Nhân vật trữ tình trong thơ Chế Lan Viên cũng không giấu giếm niềm vui khi
giác ngộ ra chân lí cách mạng:
Tâm hồn tôi khi Tổ quốc soi vào
Thấy nghìn núi trăm sông diễm lệ
22


(Chim lượn trăm vòng)
Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ
Cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa
Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa
Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa
(Tiếng hát con tàu)
Về với nhân dân, với Chế Lan Viên, là tìm về với bến đậu bình yên trong tâm
hồn, về với cội nguồn sức sống, về với mạch nguồn sáng tạo không bao giờ vơi
cạn. Cách mạng không chỉ tái sinh cuộc đời mà còn làm hồi sinh một hồn thơ đã có
lúc tưởng như bế tắc.
Đọc những trang văn ở phần đầu của truyện ngắn Vợ chồng A phủ (Tô Hoài),
người đọc không khỏi xót xa, thương cảm cho số phận cô Mị. Người con gái miền
núi trẻ trung, đầy bản lĩnh, yêu đời và phơi phới xuân tình ấy cuối cùng cùng phải
rơi vào kiếp sống nô lệ, vùi chôn cả tuổi thanh xuân với bao khát vọng trong những
tháng ngày “lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa”. Còn A Phủ, cái mầm sống
khỏe đã vượt qua được sự sàng lọc nghiệt ngã của tự nhiên, sống tự do giữa đất trời
khi rơi vào tay bọn thống trị xảo quyệt cũng trở thành người nô lệ ngoan ngoãn. Cả
Mị và A Phủ không từng nghĩ sẽ tự giải thoát cho mình khỏi kiếp sống nô lệ, kiếp
sống bị “vật hóa” ấy. Cho đến một ngày sự đè nén áp bức bị đẩy đến cùng cực, họ

tình ấm áp, trang trọng và đẹp một cách tráng lệ, hào hùng. Đây là lời của nhân vật
Trần Văn nói với Loan trong tiểu thuyết Sống mãi với thủ đô của Nguyễn Huy
Tưởng: “Tôi không băn khoăn rằng tôi sẽ sống hay chết trong cuộc chiến đấu này.
Điều quan trọng là mình có mặt. Sống, chúng ta sẽ được trông thấy thủ đô ngàn
năm không còn bóng giặc; chết, chúng ta sẽ có cái tự hào của một thế hệ đã hi
sinh lần cuối cùng cho tự do của tổ quốc.” Tác phẩm viết về Hà Nội những ngày
đầu tiên của cuộc kháng chiến chống Pháp, nhưng được sáng tác năm 1958, khi
cuộc kháng chiến đã kết thúc thắng lợi. Nhân vật nói với người khác mà như nói
với chính mình, như một lời thề thiêng liêng với Tổ quốc trong thời khắc sinh tử.
Câu nói trang trọng, xúc động, hào hùng mà tô đậm được cái nét phi thường của
con người trong hoàn cảnh không bình thường của đất nước.
24


Cũng bằng bút pháp sử thi và cảm hứng lãng mạn, Nguyễn Đình Thi đã viết
những câu thơ tráng lệ về tượng đài người lính, cũng là tượng đài của cả dân tộc:
Súng nổ rung trời giận dữ
Người lên như nước vỡ bờ
Nước Việt Nam từ máu lửa
Rũ bùn đứng dậy sáng lòa.
(Đất nước)
+ Con người trong văn học cách mạng thường “nhất phiến, đơn trị”. Thường
hoàn toàn tốt hoặc hoàn toàn xấu, không có những đấu tranh nội tâm day dứt, ám
ảnh. Nhân vật “thường là những mô hình giản đơn được miêu tả theo nguyên tắc
đồng nhất một chiều. Biểu hiện bên ngoài phù hợp với bản chất bên trong, số phận
là hệ quả của tính cách, các điểm nhìn định giá thống nhất trong hệ quy chiếu cộng
đồng.” [6, tr.37].
Chiến tranh đặt ra vấn đề sống còn của dân tộc, mọi quyền lợi, mọi ứng xử
phải nhìn theo quan điểm “địch – ta”, sự thống nhất muôn người như một trở thành
nguyên tắc tối thượng. Cá nhân tự nguyện hòa tan trong cộng đồng. Con người


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status