lời nói đầu
Hiện nay trên thế giới đang diễn ra quá trình cải cách kinh tế sâu rộng ở
hầu hết các nớc XHCN. Việc chuyển sang các quan hệ thị trờng ở những nớc này
đã đợc xác định và tiến hành. Mỗi nớc đều tiến hành những biện pháp cải cách
mang sắc thái riêng phù hợp với đặc điểm kinh tế, xã hội và địa lí của mình
nhằm xây dựng một nền kinh tế thị trờng định hớng XHCN đích thực. Mặc dù có
nhiều khó khăn nhng một số nớc đã đạt đợc những thành công nhất định trong
các lĩnh vực phát triển kinh tế khác nhau nh quản lý kinh tế, quan hệ sở hữu, t
nhân hoá và cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc
Không phải ngẫu nhiên mà giới khoa học kinh tế rất quan tâm đến cái gọi
là con đờng Trung Quốc (Chinas road). Quả thật Trung Quốc có sức hấp dẫn
đặc biệt với những nớc định hớng XHCN. ở đây ngời ta thấy cùng hoàn cảnh
xuất phát điểm t duy kinh tế mới và tính chân lý của nó sau một thời gian cải
cách và mở cửa nền kinh tế. Những thành công của Trung Quốc về cải cách kinh
tế nói chung và các đặc khu kinh tế (ĐKKT) nói riêng đã đợc thừa nhận rộng rãi
ở bên trong cũng nh bên ngoài nớc này. Sự trỗi dậy của nền kinh tế Trung Quốc
và sự phát triển thần kỳ của các ĐKKT đợc coi là một hiện tợng nổi bật của kinh
tế thế giới cuối thế kỷ XX. ĐKKT một loại hình khu kinh tế tự do mang tính
chất tổng hợp đợc tổ chức theo hình thức cao nhất, đầy đủ nhất về khu kinh tế tự
do ngày càng thể hiện rõ u thế của mình trong thu hút đầu t nớc ngoài, là nơi
hội tụ tốt nhất các yếu tố bên trong và các nguồn lực bên ngoài, là giải pháp về
vốn, công nghệ và kỹ năng quản lý để công nghiệp hoá- hiên đại hoá (CNHHĐH) đất nớc. Đẩy mạnh cải cách và phát triển mô hình kinh tế hớng ra bên
ngoài với biện pháp xây dựng các ĐKKT theo mô hình của Trung Quốc đang là
một trong những vấn đề đợc nhiều nớc quan tâm nghiên cứu thực hiện.
Việt Nam đang trong tiến trình hội nhập vào nền kinh tế thế giới. Để đạt
đợc các chỉ tiêu kinh tế chung của các nớc trong khu vực và trên thế giới, Việt
Nam cần mở cửa hơn nữa, đẩy mạnh hơn nữa CNH-HĐH hớng về xuất khẩu.
Để CNH-HĐH đất nớc hớng về xuất khẩu cần một lợng vốn đầu t rất lớn nhng
khả năng của Việt Nam chỉ tự đáp ứng đợc một phần trong khi hỗ trợ phát triển
chính thức và tài trợ của các tổ chức quốc tế đều có hạn, vì vậy chúng ta cần có
những hình thức thích hợp hơn để thu hút đầu t phát triển kinh tế, đúng nh Đại
chơng i: khái quát chung về đặc khu kinh tế
chơng ii: thành công của Trung Quốc trong thành
lập các đặc khu kinh tế
chơng iii: bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam
mục lục
Trang
lời nói đầu................................................................................. 1
Chơng I. khái quát chung về đặc khu kinh tế........................5
I.Sự hình thành và phát triển của ĐKKT ...................................5
1.Sự ra đời của khu kinh tế tự do.......................................................................5
2.Các loại hình khu kinh tế tự do.......................................................................9
2.1. Nhóm các khu kinh tế tự do mang tính chất thơng mại
.............................................................................................................................
10
2.1.1 Khu thơng mại tự do.....................................................................................10
2.1.2. Cảng tự do.....................................................................................................11
2.2. Nhóm các khu kinh tế tự do mang tính chất công nghiệp.............................11
2.2.1. KCN tập trung..............................................................................................12
2.2.2. KCX..............................................................................................................12
2.2.3. Trung tâm khoa học-công nghệ...................................................................13
2.3. Nhóm các khu kinh tế tự do mang tính tổng hợp
.............................................................................................................................
13
3. ĐKKT Hình thức đặc thù của khu kinh tế tự do.....................................15
3.1. Khái niệm
.............................................................................................................................
15
3.2. Đặc điểm
.............................................................................................................................
35
2.4. Quản lý nhà nớc về hải quan và kiểm tra biên giới
.............................................................................................................................
36
3. Các chính sách u đãi tại các ĐKKT .............................................................37
3.1. Các chính sách u đãi về thuế
.............................................................................................................................
38
3.2. Chính sách về lao động và tiền lơng
.............................................................................................................................
41
3.3. Các chính sách u đãi về tiền tệ ,tín dụng, ngân hàng, ngoại hối
.............................................................................................................................
42
3.4. Chính sách đất đai
.............................................................................................................................
43
3.5. Chính sách về thị trờng tiêu thụ sản phẩm
.............................................................................................................................
45
II. Đánh giá thành công của các ĐKKT Trung Quốc...........46
1.Khái quát chung các thành tựu.......................................................................46
1.1. Thành công trong xây dựng cơ sở hạ tầng
.............................................................................................................................
46
1.2. Thành công trong thu hút đầu t nớc ngoài
.............................................................................................................................
48
1.3.Thành công trong thúc đẩy xuất khẩu
61
1.2. Nhợc điểm
.............................................................................................................................
63
2. Sự cần thiết hình thành ĐKKT tại Việt Nam..............................................64
3. Thuận lợi và khó khăn ....................................................................................68
3.1. Thuận lợi
.............................................................................................................................
68
3.2. Khó khăn
.............................................................................................................................
71
4. Chủ trơng thành lập ĐKKT của Việt Nam..................................................72
II. Kinh nghiệm cho Việt Nam từ thành công của Trung
Quốc trong thành lập các ĐKKT....................................................75
1. Sự quyết tâm cao độ của Chính phủ..............................................................75
2.Chuẩn bị một môi trờng đầu t tốt...................................................................78
3.Dịch vụ một cửa.................................................................................................78
4.Tận dụng u thế...................................................................................................79
5.Tận dụng thời cơ................................................................................................83
Kết luận..............................................................................................................85
Chơng I
khái quát chung về đặc khu kinh tế
I. Sự hình thành và phát triển của ĐKKT
1. Sự ra đời của khu kinh tế tự do
ven biển. Những hải cảng lớn nằm trên đờng trung chuyển của các tuyến đờng
hàng hải là các khu vực lý tởng cho việc hình thành các khu kinh tế tự do mà tên
gọi gắn liền với giai đoạn này gọi là các cảng tự do (free port). Cùng với sự phát
triển của sản xuất và trao đổi hàng hóa, hàng rào thuế quan và phi thuế quan của
các nớc đã ngăn cản hoạt động ngoại thơng. Chính điều này đã thúc đẩy hoạt
động tại các cảng tự do ngày càng mạnh mẽ hơn. Các cảng tự do đợc miễn khỏi
các quy định chung và đặt ra ngoài biên giới hải quan, hàng hoá trao đổi ở đây
hầu nh không phải chịu ảnh hởng của các biện pháp bảo hộ, có chăng là một vài
sắc thuế ở mức rất thấp. Legborn đợc ý làm thành cảng tự do năm 1547, sau đó
là Giơnoa năm 1595. Về sau lần lợt các thành phố Naple, Vienna, Marseille,
BagonDuyrich, Ghibrantaở các nớc cũng lần lợt đa ra các quy chế tơng tự. Thời
kỳ này đã hình thành một loạt các thơng cảng nổi tiếng nh Rotecdam (Hà Lan),
Liverpool (Anh), Hamburg (Đức) Một số quốc gia và vùng lãnh thổ có lợi thế
về vị trí địa lý cũng đã lợi dụng và khai thác tối đa lợi thế này, tạo nên những khu
vực trung chuyển hàng hoá nh Hồng Kông, Singapore hai ví dụ điển hình cho
các cảng tự do. Ban đầu là những hải cảng nhỏ, Hồng Kông và Singapore đã trở
thành những thơng cảng tự do khổng lồ và kéo theo một loạt các ngành nghề
khác phát triển.
Do sự phát triển của công nghiệp, ngành vận tải mất tính chất quan trọng
hàng đầu trong nền kinh tế nên phong trào thành lập các cảng tự do nửa đầu thế
kỷ XIX giảm đi và chúng bị mất quyền u đãi. Nhng đến đầu thế kỷ XX, cảng tự
do lại hồi sinh do sự tăng trởng của thơng mại quốc tế cùng với cuộc cách mạng
trong vận tải container ra đời. Hàng loạt các khu thơng mại tự do, khu buôn
bán miễn thuế đợc thành lập và phát triển nhanh chóng cả về số lợng và chất lợng. Với lu lợng hàng hoá khổng lồ đợc tập trung và với tất cả các u đãi, thơng
mại quốc tế bị cuốn hút vào đây. Bên cạnh các hoạt động thuần tuý về kinh
doanh thơng mại, trao đổi hàng hoá, tại các khu này đã xuất hiện các hoạt động
kinh tế khác nh lắp giáp, gia công, chế biến hàng hoá. Sự phát triển của khu thơng mại tự do kéo theo một loạt các hình thức kinh doanh miễn thuế khác ra đời
nh kho ngoại quan, cửa hàng miễn thuế, kho bảo thuế
Năm 1979, hình thức tổ chức cao nhất của khu kinh tế tự do đã đợc thành
lập tại Trung Quốc với tên gọi đặc khu kinh tế (special economic zone). Nó
bao gồm tất cả các hoạt động kinh tế theo cơ cấu ngành nh của một nền kinh tế
quốc dân nh: công, nông, lâm, ng nghiệp, tài chính, ngân hàng, y tế, giáo dục, du
lịch, dịch vụ với các điều kiện hoàn toàn thuận lợi và mang tính chất mở cho
các nhà đầu t nớc ngoài.
Thực ra các ĐKKT không phải là sáng kiến riêng của Trung Quốc. Trong
thực tiễn kinh tế thế giới sau chiến tranh ở một số nớc thuộc thế giới thứ ba đã
xuất hiện những khu kinh tế tự do có những đặc trng giống nh các ĐKKT của
Trung Quốc sau này. Đó thật sự là những quốc gia trong những quốc gia nh
báo chí phơng Tây gọi. Những nớc thuộc thế giới thứ ba dùng các khu này làm
đầu cầu thu hút vốn đầu t, công nghệ và kỹ năng quản lý tiên tiến của các nớc t
bản phát triển nhằm mục đích phát triển nền kinh tế còn lạc hậu của mình.
ở các nớc XHXN, các ĐKKT theo kiểu đó cũng đợc đề xớng vào cuối
những năm 70, đầu những năm 80 của thế kỷ XX khi nền kinh tế các nớc đó lâm
vào tình trạng khủng hoảng. Những mục tiêu đợc đặt ra hồi đó là: thu hút t bản
nớc ngoài, thu hút kỹ thuật và công nghệ tiên tiến, phát triển sản xuất hớng vào
xuất khẩu, áp dụng phơng pháp quản lý tiên tiến, đào tạo cán bộ kinh doanh và
quản lý. Một số nớc thông qua những đạo luật về mặt này nh Bungari, Hungari,
Rumani, Nam T. Nhng nếu nh ở các nớc Đông Âu cha đạt đợc thành công dù
là nhỏ thì ở Trung Quốc, chủ trơng này ngay từ đầu đã đem lại những hứa hẹn
lớn, tuy gặp không ít trở lực về nhận thức cũng nh thực tiễn.
Việc thành lập các ĐKKT ở các nớc Đông Âu cha đem lại những kết quả
rõ rệt vì mấy lẽ: trớc hết, thời gian còn ít và những quy chế chuẩn mực của các
điều kiện cha thật rành mạch; thứ hai, quan niệm về ĐKKT còn chật hẹp, nói
chung chỉ mới dành cho chúng một số chức năng hạn chế với những phơng pháp
cũng còn hạn chế (chủ yếu về thuế). Trong khi đó ở Trung Quốc đã có một cách
tiếp cận khác. Ngay từ những bớc cải cách đầu tiên, các ĐKKT đợc coi nh những
lu lợng hàng hoá tàu bè qua cảng tăng lên dẫn đến tăng thu nhập cho cảng nhờ
cung ứng dịch vụ tàu biển, kho bãi, bốc xếp, lu kho Vì vậy khu cảng tự do đợc
diễn đạt một cách hình ảnh "về thực chất là một khu vực đợc rào lại để ngời chủ
tàu có thể hạ gánh hàng nặng xuống nghỉ, lấy sức quyết định việc phải làm tiếp
theo. Có hai loại cảng tự do: tự do hoàn toàn và tự do có hạn chế. Hàng hoá đem
vào các khu cảng tự do hoàn toàn đều không chịu thuế, còn đối với một số cảng
tự do khác thì lại có một số quy định hạn chế hoặc bảo hộ. Một số cảng tự do nổi
tiếng trớc đây có thể kể đến nh Rotecdam (Hà Lan), Hamburg (Đức), Marseille
(Pháp), Singapore, Đài Loan, Hồng Kông, Hội An (Việt Nam) Sau này do sự
phát triển và biến đổi của các luồng di chuyển hàng hóa cùng với các chính sách
khác nhau của các nớc, một số cảng đã trở thành cảng tự do hạn chế hoặc các
khu vực phát triển nhờ vào các ngành sản xuất. Hiện nay các cảng lớn nh Hồng
Kông, Singapore đều tăng cờng gia công chế biến hàng hóa và bán thành phẩm
và một số nơi đã thành những KCX.
Do sự phát triển của khu kinh tế tự do có tính thơng mại, đã có một số loại
hình khác ra đời đó là kho chứa hàng miễn thuế, kho ngoại quan, kho chứa kiêm
đóng gói hàng hóa, khu mậu dịch đối ngoại
2.2. Nhóm các khu kinh tế tự do mang tính chất công nghiệp
Trong nhóm này có 3 loại hình tơng đối phổ biến là KCN tập trung,
KCX và các trung tâm khoa học-công nghệ, trong đó KCN tập trung và KCX
là 2 hình thức thờng đợc sử dụng để thu hút đầu t nớc ngoài nhằm mục đích đẩy
mạnh sản xuất công nghiệp, tăng cờng xuất khẩu thu ngoại tệ và đặc biệt đối với
các nớc đang phát triển, chúng phục vụ cho chiến lợc thay thế nhập khẩu và/hoặc
CNH hớng về xuất khẩu. Các khu này có thể do Nhà nớc thành lập hoặc có thể
đợc thành lập trên cơ sở sở hữu t nhân.
2.2.1. KCN tập trung
KCN tập trung là một vùng lãnh thổ đựơc đầu t xây dựng cơ sở hạ tầng và
đợc hởng các chế độ u đãi thích hợp để tập trung phát triển ngành sản xuất công
mới, công viên khoa học Chúng xuất hiện đầu tiên ở Mỹ từ những năm 70 và
số lợng của chúng tăng lên rất nhanh. ở Anh và Pháp năm 1980 chỉ có 3 trung
tâm, đến 1989 đã có tới XX trung tâm ở Pháp và 36 trung tâm ở Anh. Chơng
trình phát triển trung tâm công nghệ của Nhật Bản đã đợc thảo ra từ những
năm 80 và đã có tới XX trung tâm đợc xây dựng trong cả nớc [21]. Khác với
KCN và KCX là khu sản xuất hàng hóa, trung tâm khoa học-công nghệ tập trung
nhiều hơn vào vấn đề nghiên cứu. Việc thành lập các trung tâm dựa trên các tiền
đề cần thiết nh có nhiều quan điểm đổi mới, có nhiều nguồn vốn kinh doanh, kết
cấu hạ tầng đảm bảo cho công tác nghiên cứu khoa học, sáng chế, thực nghiệm
và phát triển công nghiệp, có các điều kiện thuận lợi cho sinh hoạt, nghỉ ngơi và
nhằm mục đích nghiên cứu triển khai và cho ra đời các sản phẩm là các công
nghệ cao hoặc các thành phẩm đợc sản xuất theo công nghệ có hàm lợng khoa
học cao hơn hẳn các KCN khác, tạo ra những bớc đột phá trong phát triển công
nghệ và công nghiệp trong nớc. Trung tâm thờng đợc xây dựng trên cơ sở hạt
nhân là những viện nghiên cứu khoa học đầu đàn, các trờng đại học lớn, hệ
thống các công xởng và khu thử nghiệm hỗ trợ. Chúng có thể đợc xây mới hoàn
toàn hoặc là kết quả sự phát triển và co tụ hoạt động của các KCX hay KCN.
2.3. Nhóm các khu kinh tế tự do mang tính tổng hợp
Đại diện tiêu biểu của nhóm này là các đặc khu kinh tế, các thành phố
mở cửa, các khu kinh tế mở, các tam giác phát triển đang hoạt động ở một số
nớc đang phát triển trên thế giới, song chủ yếu tập trung tại các nền kinh tế
chuyển đổi nh Trung Quốc. Với nội dung hoạt động kinh doanh mang tính tổng
hợp từ công nghiệp, nông nghiệp, du lịch, dịch vụ, tài chính, ngân hàng, nghiên
cứu khoa họcđợc triển khai trên quy mô lớn trong phạm vi lãnh thổ rộng (hàng
trăm km2) và rất đông dân (nh ĐKKT Hải Nam 6,5 triệu dân) [28], các khu kinh
tế tự do tổng hợp này vợt hẳn lên so với các loại hình khác về cả lợng và chất để
gần hơn với khái niệm khu kinh tế tự do theo nghĩa đầy đủ của nó.
Đặc điểm của các khu kinh tế tự do mang tính tổng hợp là ngoài mục tiêu
3.1. Khái niệm
Cho đến nay có rất nhiều khái niệm khác nhau về ĐKKT. Chữ đặc trong
từ ĐKKT có nghĩa là cơ chế và chính sách kinh tế đặc biệt. Do đó xét theo nghĩa
rộng, tất cả các khu vực địa lý đợc áp dụng những chính sách kinh tế đặc biệt
đều có thể gọi là ĐKKT. Song xét theo nghĩa hẹp (theo mô hình ĐKKT của
Trung Quốc) thì ĐKKT là một loại hình riêng của khu kinh tế tự do, mang tính
tổng hợp đợc tổ chức theo hình thức cao nhất nh một xã hội thu nhỏ. Đó là một
khu vực địa lý riêng biệt đợc áp dụng những chính sách kinh tế đặc bịêt nhằm
thu hút vốn đầu t nớc ngoài, công nghệ, kỹ năng quản lý để phát triển kinh tế với
một cơ cấu ngành nghề đầy đủ của một nền kinh tế quốc dân gồm công nghiệp,
nông, lâm, ng nghiệp, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, y tế, giáo dục, nghiên cứu
khoa họctrong đó u tiên phát triển công nghiệp hớng về xuất khẩu nhng cũng
không bỏ qua thị trờng nội địa.
Tính tổ chức cao của ĐKKT còn đợc thể hiện qua mô hình khu trong khu.
Tại ĐKKT có tất cả các loại hình khác nhau của khu kinh tế tự do nh khu thơng mại
tự do, cảng tự do, KCN, KCX, kho chứa hàng miễn thuếVới cách thức tổ chức
nh vậy, sự liên kết hoàn chỉnh giữa các loại hình này, giữa các ngành nghề đã tạo
nên một bức tranh tổng thể thống nhất thúc đẩy sự phát triển của ĐKKT, tạo nên
một u thế vợt trội của ĐKKT so với các khu kinh tế tự do khác.
Theo quy định của Trung Quốc, ĐKKT là khu vực địa lý đợc ngăn cách
với bên ngoài bằng hai hàng rào quản lý. Hàng rào thứ nhất để quản lý quan hệ
giữa ĐKKT với thị trờng thế giới. Hàng rào thứ hai, một hàng rào thực sự theo cả
nghĩa đen lẫn nghĩa bóng ngăn cách ĐKKT với thị trờng nội địa thông qua sự
kiểm soát chặt chẽ của lực lợng hải quan. Đối với Trung Quốc, các ĐKKT có
mục tiêu rất cao so với các khu kinh tế tự do khác trên thế giới và chúng đợc coi
là cửa khẩu trong chính sách mở cửa và bốn HĐH kinh tế, là sự thử nghiệm trong
chiến lợc chung chuyển đổi nền kinh tế trên cơ sở mô hình chủ nghĩa t bản Nhà
nớc, dùng thuế làm cơ chế điều tiêt thị trờng có kế hoạch, đồng thời còn là một
thí nghiệm mô thức thống nhất đất nớc bằng hoà bình với Hồng Kông, Macao và
Đài Loan. Đặc trng cho các khu kinh tế tự do tổng hợp, các ĐKKT của Trung
sở hữu Nhà nớc, có vị trí đặc biệt và đợc thành lập bởi Chính phủ nớc sở tại.
ĐKKT đợc ngăn cách với phần còn lại của lãnh thổ và đợc coi nh một đơn vị
hành chính. Khác với các loại hình khu kinh tế tự do khác có thể đa dạng hoá sở
hữu, các ĐKKT luôn do Nhà nớc kiểm soát phần lớn và chỉ có thể thuộc về sở
hữu Nhà nớc.
- Tại ĐKKT có dân c sinh sống và ĐKKT đợc coi nh một đơn vị hành
chính. Sự quản lý Nhà nớc đợc thực hiện qua chính quyền của đặc khu.
- ĐKKT đợc hởng một chính sách đặc biệt u đãi nhằm thoả mãn lợi ích
của nhà đầu t nớc ngoài và đạt mục tiêu của nớc sở tại. ĐKKT là nơi hội tụ và
thích ứng lẫn nhau về lợi ích và một số mục tiêu xác định giữa các chủ đầu t và
nớc chủ nhà, đem lại sự phát triển chung cho ĐKKT.
- Về cơ cấu kinh tế: ĐKKT có một cơ cấu kinh tế đa ngành, hớng ngoại
với sự tổng hợp của các ngành công, nông, lâm, ng nghiệp, thơng mại, tài chính,
du lịch, dịch vụ Sự đồng bộ của cơ cấu kinh tế tạo ra sự phát triển mạnh mẽ
cho ĐKKT.
- ĐKKT là cửa sổ nhìn ra thế giới, là cầu nối giữa thị trờng quốc gia và
thế giới. Đây là khu vực giao lu giữa thị trờng nội địa và thị trờng quốc tế, là nơi
kết hợp hài hoà các nhân tố quốc gia và quốc tế cho mục tiêu phát triển chung.
- ĐKKT là phần đệm giữa nền kinh tế bảo hộ và nền kinh tế tự do. Tại đây,
kinh tế thị trờng giữ vai trò chính, kinh tế kế hoạch có tác dụng bổ trợ.
- ĐKKT là nơi các quốc gia thử nghiệm các chính sách mới trớc khi áp
dụng rộng rãi ở các vùng khác.
- ĐKKT có một tính chất đặc biệt: một mặt cả quốc gia tập trung cho sự
phát triển của ĐKKT, ngợc lại, ĐKKT có tác dụng thúc đẩy phát triển kinh tế,
nâng cao trình độ kỹ thuật công nghệ, quản lý của quốc gia.
II. Vai trò của ĐKKT
Các khu kinh tế tự do giữ một vai trò quan trọng trong nền kinh tế các
quốc gia, đặc biệt là đối với các nớc đang phát triển. Chúng đợc thành lập nhằm
ngoài sẽ có những khoản thu rất lớn từ việc bán quyền sử dụng đất, cho thuê nhà
xởng, văn phòng trong đặc khu Khoản chênh lệch giữa thu nhập và chi phí ban
đầu thành lập đặc khu là một nguồn thu không nhỏ. Mặt khác, với số lợng lớn và
sự tập trung cao của các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài tại ĐKKT cùng sự
mở cửa thông thoáng của chúng với thế giới bên ngoài giúp các nhà kinh doanh
trong nớc dễ dàng tiếp cận với công nghệ hiện đại và kỹ năng quản lý tiên tiến
của thế giới.
ĐKKT giúp nớc chủ nhà rút ngắn thời gian và chi phí để tăng cờng thâm
nhập vào thị trờng thế giới, nhất là những thị trờng có dung lợng lớn, mở rộng sự
hiểu biết thông tin lẫn nhau giữa thị trờng trong và ngoài nớc. ĐKKT là cầu nối
giữa thị trờng trong nớc và thị trờng quốc tế.
Các ĐKKT luôn đi đầu trong việc phát triển chính sách kinh tế đối ngoại
và thờng thể hiện xu hớng của chính sách kinh tế đối ngoại.
- Vai trò đối nội
Các ĐKKT đóng vai trò tiên phong trong sự phát triển của nền kinh tế
quốc dân. Chúng là các đầu tầu tăng trởng kinh tế, kéo theo sự phát triển của
các vùng lân cận và các vùng khác của đất nớc. Tầm quan trọng của ĐKKT chủ
yếu không phải là ở tổng sản lợng hay thu nhập theo đầu ngời mà ở tốc độ tăng
trởng kinh tế. Tác động của ĐKKT tới các vùng kinh tế khác sẽ theo kiểu vết
dầu loang.
Với một cơ cấu kinh tế tổng hợp đa ngành nh một xã hội thu nhỏ, các
ĐKKT là nơi thử nghiệm các chính sách kinh tế mới trớc khi áp dụng rộng rãi ở
các vùng khác.
Trong bối cảnh kinh tế kém phát triển và lại vào giai đoạn bùng nổ dân số
nên tình trạng thất nghiệp ở các nớc đang phát triển là vấn đề rất căng thẳng.
Xây dựng ĐKKT là một biện pháp quan trọng để giải quyết việc làm cho ngời
lao động. Hầu hết các ngành sản xuất tại các ĐKKT đều cần rất nhiều lao động
phổ thông, ĐKKT với một cơ cấu kinh tế đa ngành, có quy mô lớn sẽ tạo đợc rất
trờng trong nớc và quốc tế, thu đợc nhiều lợi nhuận đã khuyến khích các công ty
xuyên quốc gia di chuyển sản xuất sang các nớc đang phát triển. Đồng thời do
chính sách thu hút đầu t nớc ngoài nên nớc chủ nhà có những u đãi về thuế,
quyền thuê đất cho các chủ đầu t. Các ĐKKT đợc đặt ở những vị trí đặc biệt nằm
gần các tuyến đờng giao thông quốc tế do vậy hàng hóa sản xuất tại đây sẽ
nhanh chóng đợc đa vào lu thông, giảm thiểu chi phí vận chuyển và bảo quản.
- Các chủ đầu t có điều kiện thay đổi công nghệ mới, chuyển các công
nghệ cũ sang các nớc đang phát triển, tránh đợc áp lực về bảo vệ môi trờng tại
các nớc chủ đầu t. Tại các nớc phát triển có yêu cầu rất cao về chống ô nhiễm
môi trờng. Không ít nhà máy đã phải đóng cửa do không đổi mới đợc công nghệ.
Còn các nớc đang phát triển thì có thể vì lợi ích trớc mắt mà trong thời gian đầu
vẫn có thể chấp nhận những công nghệ hạng hai này.
- Ngoài mục tiêu trớc mắt nêu trên đây, còn có những mục tiêu lâu dài
thúc đẩy các công ty xuyên quốc gia đầu t vào ĐKKT nh tạo cơ sở để thâm nhập
thị trờng, đặc biệt là thị trờng cha đợc khai thác của các nớc đang phát triển.
Chẳng hạn tại Trung Quốc, ĐKKT Thâm Quyến đợc coi nh là một trong những
con đờng để kiếm đợc một chỗ đứng tại Trung Quốc vì lợi ích lâu dài của các
nhà đầu t là thâm nhập vào thị trờng trong nớc của Trung Quốc.
Nh vậy có nhiều nhân tố thúc đẩy các nhà đầu t cân nhắc việc thành lập
các cơ sở sản xuất ở nớc ngoài. Tuy nhiên để thực hiện biện pháp này, các nhà
đầu t nớc ngoài thờng tìm kiếm sự đảm bảo là nớc chủ nhà sẽ cung cấp cho họ
những phơng tiện thích hợp và những biện pháp khuyến khích thuận lợi. Thêm
nữa, các nhà đầu t muốn đợc bảo vệ sự ổn định lao động, các thủ tục xuất nhập
khẩu đơn giản và đợc toàn quyền kiểm soát, quản lý và sở hữu các cơ sở của nó.
Rất nhiều những yêu cầu này sau đó đã đợc tổng hợp lại thành biện pháp cả gói
về ĐKKT mà nớc chủ nhà giành cho các nhà đầu t nớc ngoài.
đứng trên bờ vực sụp đổ thì những thay đổi lớn lao về nhận thức này là ngọn gió
tốt lành giúp Trung Quốc giải quyết đợc những vấn đề sai lầm do quá khứ để lại,
mở đờng cho sức sản xuất phát triển, là động lực mạnh mẽ góp phần đa đất nớc
Trung Quốc đi tới một tơng lai tốt đẹp hơn.
Sau cái chết của Mao Trạch Đông tháng 9 năm 1976, vào tháng 3 năm
1978 với sự trở lại chính trờng của Đặng Tiểu Bình, Trung Quốc đã có một sự
thay đổi bớc ngoặt trong đờng lối chính sách kinh tế của mình. Hội nghị Trung
Ương III khoá 11 của Đảng Cộng Sản Trung Quốc diễn ra vào tháng 12 năm đó
đã phủ định đờng lối tả của Mao Trạch Đông trong thời kỳ 3 ngọn cờ hồng
(kéo dài tới khi ông chết vào năm 1976) trên một số mặt, tuyên bố chấm dứt
khẩu hiệu lấy đấu tranh chính trị làm cơng lĩnh, chuyển trọng tâm sang xây
dựng kinh tế với khẩu hiệu: đối ngoại mở cửa, đối nội làm ăn phát triển kinh
tế, khép lại một thời kỳ rối ren về chính trị, sa sút về kinh tế, mở ra giai đoạn
mới cho nền kinh tế.
Cải cách trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại của Trung Quốc gồm hai nội
dung cơ bản: thứ nhất là chiến lợc xuất nhập khẩu mà cụ thể là đổi mới chính
sách ngoại thơng; thứ hai là chiến lợc lợi dụng vốn đầu t bên ngoài mà thực chất
là thu hút vốn đầu t nớc ngoài thông qua các ĐKKT và các thành phố mở với
những chính sách khuyến khích có sức hấp dẫn cao. Vào thời điểm đó có thể coi
đây là một quyết định táo bạo của Chính phủ Trung Quốc, đặc biệt là đối với các
nớc XHCN.
Việc Trung Quốc bắt đầu mở cửa từ cuối những năm 1970 đợc đánh giá là
một quốc sách đúng đắn, phù hợp với xu hớng vận động của tình hình quốc tế và
trong nớc. Vào thời điểm đó, các nớc t bản đang trong tình trạng khủng hoảng
thừa vốn và kỹ thuật trong khi hầu hết các nớc thế giới thứ ba cha sẵn sàng tiếp
nhận các luồng t bản đó. Việc mở cửa của Trung Quốc nhằm thu hút vốn và kỹ
thuật từ bên ngoài tạo ra sự trùng lặp về lợi ích giữa các nớc phát triển và Trung
Quốc. Vì thế, hiệu quả của chính sách này càng đợc nhân lên. Hơn nữa, một thị
Vào tháng 7 năm 1979, Trung Quốc quyết định cắt đất ở một số vùng
thuộc Thâm Quyến, Chu Hải, Sán Đầu (thuộc tỉnh Quảng Đông) và Hạ Môn
(thuộc tỉnh Phúc Kiến) để thành lập các khu vực đặc biệt nhằm thu hút đầu t nớc
ngoài, tăng cờng xuất khẩu với tên gọi đặc khu xuất khẩu. Ban đầu, các khu
vực này đợc thiết kế theo kiểu các KCX. Loại hình Đặc khu xuất khẩu bị hạn chế
ở chức năng chế biến hàng xuất khẩu. Với chủ trơng mới, tháng 5 năm 1980
Trung Quốc chính thức đặt tên cho các khu vực này là ĐKKT . Đây là bớc tiến
mới của Trung Quốc trong thu hút đầu t nớc ngoài. Việc cho phép một phần
hàng hoá đợc tiêu thụ vào thị trờng nội địa cùng với một cơ cấu kinh tế tổng hợp
đa ngành đã thc sự thu hút đợc các nhà đầu t nớc ngoài.
ĐKKT ban đầu thu hút đầu t nớc ngoài theo 5 phơng thức: 1)Gia công
nguyên vật liệu và lắp ráp vật liệu từ nớc ngoài: 2)Mậu dịch bồi hoàn: 3)Hợp tác
kinh doanh; 4)Liên doanh; 5)Xí nghiệp do nớc ngoài đầu t riêng. Hiện nay đã bổ
xung thêm một số hình thức mới nh hợp tác khai thác, cho thuê quốc tế, chuyển
nhợng kỹ thuật, tín dụng, mua chứng khoán, gửi tiền ở ngân hàng Trung
Quốc[13].
ĐKKT Trung Quốc có tính chất gần giống nh KCX của các nớc. Phần lớn
sản phẩm của đặc khu đợc xuất khẩu ra nớc ngoài, vì vậy hoạt động sản xuất ở
đây có sự gắn bó hữu cơ với thị trờng thế giới. Việc phát triển sản xuất để xuất
khẩu chủ yếu dựa vào sự tham gia đầu t của các nhà t bản nớc ngoài. Vốn đầu t
đợc huy động trên cơ sở hàng loạt các u đãi và đảm bảo đầu t cao hơn so với các
khu vực khác trong nớc. Tuy nhiên, các ĐKKT của Trung Quốc là một loại hình
đặc thù nhằm sử dụng vốn nớc ngoài và khai thác thị trờng quốc tế. Trung Quốc
coi các đặc khu là nơi học tập cạnh tranh với t bản nớc ngoài, học tập phong cách