Các phương thức bảo vệ quyền sở hữu một số vấn đề lý luận và thực tiễn - Pdf 38

A- LỜI MỞ ĐẦU
Quyền sở hữu là vấn đề có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong đời sống kinh tế
xã hội cũng như trong pháp luật dân sự. Nó là một trong những tiền đề vật chất
cho sự phát triển kinh tế, vì quyền sở hữu chính là mức độ xử sự mà pháp luật
cho phép một chủ thể được thực hiện trong quá trình, chiếm hữu, sử dụng và
định đoạt tài sản. Mức độ xử sự ấy qui định giới hạn và khả năng thực hiện của
họ trong quá trình học tập, nghiên cứu khoa học, tham gia lao động sản xuất,
kinh doanh… Điều đó tác động trực tiếp đến nền kinh tế, thúc đẩy hoặc kìm hãm
sự phát triển của nền kinh tế.
Xuất phát từ vai trò chi phối của cơ sở kinh tế hạ tầng đối với pháp luật,
BLDS ra đời khẳng định vị trí trung tâm của chế định “tài sản và quyền sở hữu”.
Trước đây khi chưa có BLDS, vấn đề tài sản và quyền sở hữu được qui định
trong Hiến pháp và trong các văn bản pháp luật khác như Luật Doanh nghiệp tư
nhân, Luật Công ty, Luật Đất đai, Pháp lệnh hợp đồng dân sự, Pháp lệnh hợp
đồng kinh tế, Pháp lệnh bảo hộ quyền tác giả, Pháp lệnh bảo hộ quyền sở hữu
công nghiệp, PLTK… Những qui định về quyền sở hữu trong các văn bản pháp
luật này đóng vai trò chủ đạo, là cơ sở định hướng cho các quan hệ kinh tế, các
quan hệ dân sự. BLDS ra đời, chế định tài sản và quyền sở hữu đóng vai trò
trung tâm, tạo cơ sở pháp lý cho các chế định khác trong Bộ luật cũng như các
văn bản pháp luật khác về quan hệ tài sản. Bởi lẽ, quyền sở hữu là cơ sở, là mục
đích của rất nhiều quan hệ pháp luật dân sự. Vì thế, quyền sở hữu còn là tiền đề,
là xuất phát điểm cho tính hợp pháp của các quan hệ đó. Mục đích cuối cùng của
đa phần các hành vi dân sự và giao dịch dân sự là nhằm hướng tới xác lập hoặc
chấm dứt quyền sở hữu của các chủ thể. Vì vậy, quyền sở hữu là nội dung hết
sức quan trọng trong pháp luật dân sự. Về mặt lý luận, quyền sở hữu là quyền
tuyệt đối của các chủ thể trong Luật Dân sự, pháp luật luôn ghi nhận và bảo vệ
quyền sở hữu của chủ sở hữu thông qua các phương thức bảo vệ quyền sở hữu.
1


B- NỘI DUNG

Luậtn dân sự Việt Nam xác định chiếm hữu là một quyền năng, là một trong
ba bộ phận cấu thành quyền sở hữu. Điều 182 BLDS qui định: “Quyền sở hữu là
2


quyền nắm giữ, quản lý tài sản”. Nắm giữ tài sản là việc người chiếm giữ vật
trong phạm vi kiểm soát làm chủ và chi phối tài sản đó theo ý chí của mình,
không bị hạn chế và gián đoạn về thời gian (Điều 184 BLDS). Ví dụ: cất tiền vào
túi; quần áo, trang sức để vào tủ,…
Trong chiếm hữu theo luật Việt Nam, xét dưới góc độ chủ thể chiếm hữu, có
thể tồn tại hai khả năng: Người chiếm hữu tài sản đồng thời là chủ sở hữu tài sản
và người chiếm hữu không phải là chủ sở hữu của tài sản.
Xét theo việc chiếm hữu có căn cứ hay không có căn cứ, có thể chia chiếm
hữu thành chiếm hữu có căn cứ pháp luật và chiếm hữu không có căn cứ pháp
luật.
2.2. Quyền sử dụng.
Điều 192 BLDS quy định: “Quyền sử dụng là quyền khai thác công dụng,
hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản”.
Nói một cách dễ hiểu thì quyền sử dụng là quyền khai thác những lợi ích
mang lại từ tài sản.
2.3. Quyền định đoạt.
Điều 195 BLDS định rõ: “Quyền định đoạt là quyền chuyển giao quyền sở
hữu tài sản hoặc từ bỏ quyền sở hữu tài sản”. Việc định đoạt tài sản có thể định
đoạt số phận thực tế của các vật, làm chấm dứt sự tồn tại vật chất của tài sản, như
huỷ bỏ, tiêu dùng hết hoặc từ bỏ quyền sở hữu đối với vật, hoặc bằng hành vi
pháp lý (bán, trao đổi, tặng cho, cho vay, để thừa kế, góp vốn vào công ty…).
người không phải là chủ sở hữu chỉ có quyền định đoạt tài sản của người khác
trong trường hợp được chủ sở hữu uỷ quyền hoặc trong những trường hợp đặc
biệt do pháp luật quy định (việc trưng mua, trưng thu tài sản theo quyết định của
Nhà nước). Việc thực hiện quyền định đoạt đối với tài sản sẽ làm chấm dứt hoặc

- Yêu cầu Toà án, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khác buộc người có hành
vi xâm phạm quyền sở hữu, quyền chiếm hữu phải trả lại tài sản, chấm dứt hành
vi cản trở trái pháp luật việc thực hiện quyền sở hữu, quyền chiếm hữu và yêu
cầu bồi thường thiệt hại.
2. Các phương thức bảo vệ quyền sở hữu.
2.1. Chủ sở hữu tự mình thực hiện hành vi bảo vệ quyền sở hữu, quyền
chiếm hữu hợp pháp.
2.1.1. Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền tự bảo vệ tài sản
thuộc sở hữu của mình, tài sản đang chiếm hữu hợp pháp bằng những biện
pháp theo quy định của pháp luật.
Khoản 2 Điều 255 BLDS quy định: “Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp
có quyền tự bảo vệ tài sản thuộc sở hữu của mình, tài sản đang chiếm hữu hợp
pháp bằng những biện pháp theo quy định của pháp luật”.
Như chúng ta đã biết, đặc trưng lớn nhất của quyền dân sự là nguyên tắc tự
định đoạt. Theo BLDS thì chủ sở hữu có quyền tự thực hiện các biện pháp để
bảo vệ quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp của chính mình. Ví dụ: chủ sở
4


hữu nhà ở xây tường bao xung quanh nhà của mình để bảo vệ nhà của mình khỏi
bị xâm phạm từ bên ngoài, chủ vườn cây ăn quả rào vườn và thuê người bảo vệ,
trông nom vườn cây của mình…
Quyền của chủ sở hữu tự mình thực hiện hành vi bảo vệ quyền sở hữu, quyền
chiếm hữu hợp pháp đối với tài sản của mình không phải là tuyệt đối, mà có giới
hạn của nó. Giới hạn đó chính là “không được xâm phạm đến lợi ích công cộng,
quyền và lợi ích hợp pháp của người khác”. Các hành vi như: giăng dây điện
quanh ao cá, vườn cây để chống trộm, làm hố chông quanh gốc cây ăn quả …
dẫn đến làm người khác bị chết (kể cả kẻ trộm), đều bị coi là hành vi trái pháp
luật, phải bồi thường thiệt hại và có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu đủ
các yếu tố cấu thành tội phạm.

đăng ký, nó là thời điểm hoàn tất việc chuyển giao quyền sở hữu, đồng thời là
cũng là thời điểm để chủ sở hữu có quyền “đối kháng” với người thứ ba khi tài
sản có tranh chấp. Tuy nhiên, cũng phải nói rằng việc đăng ký tài sản ở Việt
Nam hiện nay được thực hiện chưa nghiêm túc. Nguyên nhân là do thủ tục hành
chính còn rườm rà, lệ phí cao so với mức sống trung bình của người dân, song
nguyên nhân chủ yếu là do ý thức chấp hành pháp luật của người dân còn chưa
tốt. Đây là một thực tế gây rất nhiều khó khăn trong việc bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của các bên khi có tranh chấp xảy ra.
Trên thực tế, biện pháp tự bảo vệ quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp
của mình là biện pháp diễn ra phổ biến nhất và cũng có hiệu quả nhất. Người
Việt Nam có truyền thống “duy tình”, trường hợp kiện nhau ra Toà cũng không
phải là “thói quen” như là một nét văn hoá hết sức bình thường ở các nước
phương tây. Tuy nhiên, với sự phát triển của cơ chế thị trường, trong những năm
gần đây, các hành vi vi phạm quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp bắt đầu
có xu hướng tăng. Trong những trường hợp này, biện pháp tự bảo vệ xem ra
không còn phát huy tác dụng, và chủ sở hữu phải sử dụng đến các biện pháp
khác để có thể bảo vệ được quyền lợi của mình.
2.1.2. Chủ sở hữu yêu cầu người có hành vi cản trở trái pháp luật đối với
việc thực hiện quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp phải chấm dứt hành
vi vi phạm, bồi thường thiệt hại.
Điều 259 BLDS: “Khi thực hiện quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp
của mình, chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền yêu cầu người có
hành vi cản trở trái pháp luật phải chấm dứt hành vi đó” và theo Điều 260
BLDS: “Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền yêu cầu người có
hành vi xâm phạm quyền sở hữu, quyền chiếm hữu của mình bồi thường thiệt
hại”.
Ví dụ 1: A là chủ sở hữu của một căn nhà. B là hàng xóm của A, trong khi
đào móng làm nhà, đã đào sát tường nhà A, làm sụt và nứt tường của nhà A.
Ví dụ 2: C là chủ sở hữu một căn nhà. D là hàng xóm của C đã để ống thoát
nước mưa của nhà mình chảy dội sang nhà C, làm ngấm tường của nhà C. Trong

bản án, quyết định dân sự còn tồn đọng, không được thi hành trên thực tế còn
đang chiếm một tỷ lệ rất lớn;
Thứ tư, có một thực tế ở Việt Nam hiện nay là nhiều vụ án hình sự (giết
người, cố ý gây thương tích, cố ý huỷ hoại tài sản…) có nguồn gốc từ các tranh
chấp dân sự. Nếu hoà giải thành thì có thể tránh được những trường hợp đau
lòng, gây thiệt hại cho các bên đương sự và cho xã hội.
Rõ ràng, cơ chế trên vừa đem lại lợi ích cho các bên cũng như cho Nhà nước.
Nhận thức được những lợi ích này, Nhà nước ta đã thiết lập cả một thể chế, thiết
chế về hoà giải. Về thể chế, đó là Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hoà giải ở
cơ sở và các văn bản hướng dẫn thi hành. Về thiết chế, đó là các Tổ hoà giải ở cơ
sở (xóm, thôn, tổ dân phố) dưới sự quản lý và hướng dẫn về chuyên môn nghiệp
vụ của Ban Tư pháp xã phường và Uỷ ban mặt trận Tổ quốc cùng cấp. Cũng cần
phân biệt cơ chế hoà giải “tiền tố tụng” này với cơ chế hoà giải mang tính tố
7


tụng do Toà án thực hiện sau khi thụ lý vụ kiện. Đây chính là một trong những
điểm ưu việt của pháp luật Việt Nam, được các nhà tài trợ quốc tế đánh giá cao.
Cũng giống như biện pháp chủ sở hữu tự mình thực hiện hành vi bảo vệ
quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp, biện pháp tự dàn xếp này cũng có
giới hạn của nó. Giới hạn đó cũng chính là “lợi ích công cộng, quyền và lợi ích
hợp pháp của người khác”. Các hành vi như tự ý tổ chức “cưỡng chế đòi nợ”,
thoả thuận dàn xếp với nhau để vi phạm quyền lợi của người thứ ba… đều bị coi
là hành vi trái pháp luật và bị xử lý (cả về mặt hình sự hoặc hành chính nếu có
đủ yếu tố cấu thành tội phạm hoặc vi phạm). Pháp lệnh hoà giải cũng quy định
phạm vi hoà giải không bao gồm các vụ việc có dấu hiệu hình sự hoặc hành
chính. Trong những trường hợp trên, việc chủ sở hữu thực hiện các biện pháp
bảo vệ quyền sở hữu của mình đã vượt quá giới hạn cần thiết và do vậy, bị coi là
bất hợp pháp.
Cơ chế “tự dàn xếp” sẽ không phát huy tác dụng nếu bên vi phạm vẫn cố tình

buộc người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu, quyền chiếm hữu phải trả lại
tài sản:
Phương thức kiện này được gọi phổ biến là kiện vật quyền (kiện đòi lại tài
sản). Loại việc này diễn ra khá phổ biến tại các Toà án trong những năm vừa
qua, đặc biệt là kiện đòi nhà, đất.
Liên quan đến vấn đề này, Bộ luật dân sự đã quy định về nghĩa vụ hoàn trả tài
sản do chiếm hữu, sử dụng tài sản, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật.
Theo đó, trong mọi trường hợp, người chiếm hữu, sử dụng tài sản của người
khác mà không có căn cứ pháp luật, thì có nghĩa vụ hoàn trả cho chủ sở hữu,
người chiếm hữu hợp pháp tài sản đó. Điều kiện để thực hiện biện pháp kiện vật
quyền là:
+Vật rời khỏi chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp không thông qua quan
hệ hợp đồng. Ví dụ: bị mất, bị lấy cắp, bị cướp…
+Người thực tế đang chiếm hữu, sử dụng tài sản là người chiếm hữu, sử dụng
không có căn cứ pháp luật.
+Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp phải chứng minh được vật đang bị
chiếm hữu, sử dụng không có căn cứ pháp luật là vật thuộc quyền sở hữu, quyền
chiếm hữu hợp pháp của mình. Trên thực tế, để chứng minh được thì tài sản
thường phải là vật đặc định.
+Vật là đối tượng của việc kiện vẫn chưa bị xác lập quyền sở hữu theo thời
hiệu.
Liên quan đến vấn đề thời hiệu, Điều 247 BLDS đã quy định rất rõ ràng:
“1. Người chiếm hữu, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật
nhưng ngay tình, liên tục, công khai trong thời hạn mười năm đối với động sản,
ba mươi năm đối với bất động sản thì trở thành chủ sở hữu tài sản đó, kể từ thời
điểm bắt đầu chiếm hữu, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
2. Người chiếm hữu tài sản thuộc hình thức sở hữu nhà nước không có căn cứ
pháp luật thì dù ngay tình, liên tục, công khai, dù thời gian chiếm hữu là bao lâu
cũng không thể trở thành chủ sở hữu tài sản đó”.
Vấn đề đặt ra là quan hệ pháp luật dân sự diễn ra trong thực tế rất sinh động,

Tất nhiên, phương thức hoàn trả sẽ có sự khác nhau: nếu là không ngay tình thì
người chiếm hữu, người sử dụng, người được lợi về tài sản không có căn cứ
pháp luật phải hoàn trả hoa lợi, lợi tức thu được từ thời điểm chiếm hữu, sử dụng
tài sản, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật; còn nếu là ngay tình, thì
chỉ phải hoàn trả hoa lợi, lợi tức thu được từ thời điểm người đó biết hoặc phải
biết việc chiếm hữu, sử dụng tài sản, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp
luật (Điều 606 BLDS). Trong trường hợp người chiếm hữu, người sử dụng tài
sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình đã bỏ
chi phí ra để làm tăng giá trị của tài sản, thì sẽ được thanh toán những chi phí đó
khi họ phải hoàn trả tài sản cho chủ sở hữu.
10


Có thể thấy rằng việc pháp luật quy định người thứ ba ngay tình phải hoàn trả
lại tài sản cho chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp sẽ là một bất lợi lớn đối
với họ trong rất nhiều trường hợp. Nếu đó là tài sản mà người này đã đầu tư vào
kinh doanh (ví dụ máy móc, trang thiết bị kỹ thuật…), thì khi phải trả lại, họ sẽ
phải chịu những xáo trộn nhất định trong công việc của mình. Hoặc nếu đó là
những tài sản quý hiếm (tranh quý, đồ mỹ nghệ, đồ trang sức…) mà họ đã bỏ
tiền ra mua để sưu tập, làm kỷ niệm… nay dù không muốn trả lại thì họ vẫn buộc
phải trả lại nếu chủ sở hữu có yêu cầu đòi lại tài sản. Tóm lại là dù không muốn
trả lại tài sản vì lý do nào đó, nhưng khi bị chủ sở hữu kiện đòi tài sản, thì người
thứ ba ngay tình vẫn phải trả lại tài sản. Rồi để thực hiện quyền và lợi ích hợp
pháp của mình, họ lại phải đeo đuổi một vụ kiện khác: kiện người đã giao tài sản
cho mình phải bồi thường thiệt hại, mà điều này cũng không phải là dễ dàng nhất
là trong trường hợp tài sản đã qua tay nhiều người.
2.2.2. Chủ sở hữu yêu cầu Toà án, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khác
buộc người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu, quyền chiếm hữu phải chấm
dứt hành vi cản trở trái pháp luật việc thực hiện quyền sở hữu, quyền chiếm
hữu:

chủ yếu liên quan đến bất động sản. Một ví dụ nữa cũng rất điển hình là hành vi
xây tường bao hoặc tường rào chắn lối đi của nhà hàng xóm. Qua thực tiễn giải
quyết các tranh chấp dạng này tại Toà án hoặc Uỷ ban nhân dân các cấp, có thể
rút ra một số nhận xét sau:
- Hành vi là đối tượng của việc kiện phải là hành vi trái pháp luật. Hành vi
trái pháp luật ở đây được hiểu không chỉ là trái với các quy định của Bộ luật dân
sự, mà còn trái với quy định của các văn bản pháp luật khác (như đất đai, xây
dựng…). Đặc điểm chung của các hành vi này là cản trở chủ sở hữu hay người
chiếm hữu hợp pháp thực hiện những quyền năng của mình trong khuôn khổ
pháp luật.
-Trên thực tế, loại việc này thường liên quan đến bất động sản liền kề như
nhà ở, công trình xây dựng, quyền sử dụng đất, lối đi chung…
2.2.3. Chủ sở hữu yêu cầu Toà án, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khác
buộc người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu, quyền chiếm hữu phải bồi
thường thiệt hại:
Phương thức này còn được gọi là kiện trái quyền.
Điều 260 BLDS quy định: “Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền
yêu cầu người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu, quyền chiếm hữu của mình
bồi thường thiệt hại”.
Ngoài chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp, người thứ ba ngay tình cũng
có quyền khởi kiện yêu cầu người đã xác lập giao dịch với mình phải bồi thường
thiệt hại (kiện trái quyền), nếu tài sản bị tịch thu, sung quỹ Nhà nước hoặc trả lại
cho người có quyền nhận tài sản đó.
Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một chế định khá rộng và phức tạp.
Trong phạm vi bài viết này này, em chỉ xem xét vấn đề dưới góc độ như là một
biện pháp bảo vệ quyền sở hữu, mà không đi sâu phân tích các quy định chi tiết
(như năng lực chịu trách nhiệm bồi thường, xác định thiệt hại, bồi thường thiệt
hại trong từng trường hợp cụ thể…).
12


3.1. Một số vụ việc:
*Vụ thứ nhất:
Vụ kiện giữa nguyên đơn: anh Nguyễn Ngọc Quang, sinh năm 1961
Bị đơn: ông Nguyễn Văn Hải, sinh năm 1942.

13


Gia đình anh Nguyễn Ngọc Quang ở thửa đất tại xóm Núi, xã Tam Sơn,
huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh từ năm 1987 đến năm 1991. Do nhu cầu về lối đi
nên anh Quang đã xin địa phương cho phép mở lối đi ra đường mới liên thôn.
Năm 1995, ông Hải mua quyền sử dụng đất của bà Lan là hàng xóm của anh
Quang và xây nhà cho con trai là Hà ra ở. Ông Hải đã đi vào lối đi mà anh
Quang đã đi từ trước. Đến tháng 2/2000, anh Quang cải tạo lại ngõ và không cho
ông Hải đi nhờ nữa, từ đó hai bên xảy ra xô xát, bất hoà. Anh Quang cho rằng lối
đi này là của riêng gia đình anh vì đã được chính quyền địa phương công nhận
và đã được cấp sổ bìa đỏ từ năm 1998. Còn ông Hải thì cho rằng trong quyết
định giao đất cho ông đã ghi rõ phía bắc giáp ngõ nên gia đình ông cứ đi.
Anh Quang khởi kiện vụ án. Tại án dân sự sơ thẩm số 35 ngày 20/10/2000,
Toà án nhân dân huyện Từ Sơn đã quyết định: xác nhận phần đất làm lối đi là
đối tượng của tranh chấp có diện tích 60,3 m2 là thuộc quyền sử dụng của anh
Quang.
Ông Hải không đồng ý với bản án sơ thẩm và đã kháng cáo. Tại bản án phúc
thẩm dân sự số 90 ngày 15/12/2000, Toà án nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã quyết
định y án sơ thẩm.
Án có hiệu lực pháp luật, nhưng gia đình ông Hải không nghiêm túc thực
hiện mà thường xuyên có hành vi cản trở anh Quang thực hiện quyền của mình.
Ngày 6/1/2001, anh Quang xây tường trên phần lối đi cũ, ông Hải cùng các con
xông ra ngăn cản, tháo dỡ, chửi bới nên anh Quang không xây dựng được. Đến
ngày 26/3/2001, Đội thi hành án Từ Sơn ra quyết định cưỡng chế thi hành án đối

Sau khi có bản án phúc thẩm nói trên, ông Quân đã gửi đơn khiếu nại lên Toà
án nhân dân tối cao. Sau khi xem xét lại toàn bộ vụ kiện, Phó Chánh án Toà án
nhân dân tối cao đã kháng nghị bản án phúc thẩm của Toà án nhân dân tỉnh Tiền
Giang. Tại bản án giám đốc thẩm số 413 ngày 24/9/1997, Toà Dân sự Toà án
nhân dân tối cao đã quyết định: chấp nhận kháng nghị và xử huỷ án phúc thẩm,
giữa nguyên quyết định của án sơ thẩm.
Sau khi có bản án giám đốc thẩm, ông An lại có đơn khiếu nại lên Chánh án
Toà án nhân dân tối cao vì ông An cho rằng án giám đốc thẩm là thiếu khách
quan, không bảo vệ được quyền lợi hợp pháp của ông.
Chánh án Toà án nhân dân tối cao đã có văn bản trả lời bản án giám đốc thẩm
của Toà Dân sự -Toà án nhân dân tối cao là có căn cứ và đúng pháp luật.
Qua vụ việc trên có thể thấy, bản án sơ thẩm và giám đốc thẩm chỉ chấp nhận
quyền sở hữu đối với nền nhà. Nền nhà là phần có liên quan đến nguyên vật liệu
có thể được công nhận quyền sở hữu. Đối với quyền sử dụng đất, do ông Quân
chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp nên các bản án không đề
cập đến. Đặc trưng của bất động sản là “không di dời được”, nên các bản án chỉ
quyết định quyền sở hữu nền nhà trên một khuôn viên đất. Còn quyền sử dụng
đất chưa có giấy chứng nhận hợp pháp nên không được Toà án đề cập đến.
Quyết định như vậy là hợp lý, một mặt bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của
các bên đương sự, mặt khác tránh được sự lợi dụng khi giải quyết tranh chấp
hiện nay nhằm hợp pháp hoá quyền sử dụng đất chưa có giấy tờ hợp pháp.

15


* Vụ thứ ba:
Ngày 2/7/1994, Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Bắc
Giang (NHNN&PTNT tỉnh Bắc Giang) – Chi nhánh liên xã số 3, lập khế ước
cho anh Nguyễn Minh Hồng, ở thị xã Bắc Giang, vay số tiền 9000.000 đồng,
thời hạn 01 năm, tài sản thế chấp là toàn bộ căn nhà và đất của anh Hồng và vợ

16


Thứ hai, vấn đề xác minh nguồn gốc tài sản, đặc biệt là nhà, đất ở Việt Nam
hiện nay rất khó, nguyên nhân là tình trạng đất không có bìa đỏ, nhà không có
giấy chứng nhận quyền sở hữu đang khá phổ biến. Qua đây chúng tôi muốn nói
rằng tình hình triển khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong thời gian
qua rất chậm, gây không ít khó khăn cho các bên đương sự và Toà án các cấp
trong việc xác định, đánh giá chứng cứ để giải quyết các tranh chấp có liên quan;
Thứ ba, vấn đề xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng khi ly hôn
gặp rất nhiều khó khăn. Nguyên nhân là do phong tục tập quán ở Việt Nam quan
niệm hôn nhân là việc rất đặc thù, không phải là quan hệ dân sự nên không có
chuyện hai bên nam nữ kê khai tài sản chung, tài sản riêng, tài sản có trước hay
có sau thời kỳ hôn nhân… Nhưng khi ly hôn, có tranh chấp phát sinh về tài sản,
thì các bên thường không đưa ra được chứng cứ để chứng minh tài sản của mình,
nhất là trường hợp vợ chồng lại ở chung với cha mẹ (cha mẹ chồng hạc cha mẹ
vợ). Trong nhiều trường hợp, Toà án gặp rất nhiều vướng mắc trong việc xác
định tài sản và nhiều khi phán quyết của Toà án chưa thực sự bảo vệ được quyền
và lợi ích chính đáng của các bên. Thực tế cho thấy người bị thua thiệt thường là
người vợ.
Thứ tư là vấn đề xác định nguồn gốc tài sản là động sản. Như chúng tôi đã
nói ở trên, có một tình trạng thực tế ở Việt Nam hiện nay là có những tài sản đã
bị chuyển dịch một cách bất hợp pháp qua tay nhiều người, rất khó xác định
được cụ thể đã qua tay những ai. Điển hình là việc mua bán xe máy trao tay
không qua thủ tục sang tên trước bạ diễn ra khá phổ biến. Khi có tranh chấp, các
bên đương sự và toà án các cấp gặp rất nhiều khó khăn để xác minh nguồn gốc
của tài sản (có trường hợp một chiếc xe máy đã bị mua đi bán lại hàng chục lần
nhưng không qua thủ tục sang tên trước bạ).
Tóm lại, trong số các khó khăn vướng mắc trên, có nguyên nhân xuất phát từ
quy định của Bộ luật dân sự và các văn bản hướng dẫn, có nguyên nhân xuất

trạng chiếm hữu trước đã, còn việc xác định ai là chủ sở hữu đích thực thì giải
quyết trong một vụ kiện khác nếu các bên có yêu cầu. Quy định này rất có tác
dụng trong việc bảo vệ sự ổn định và thúc đẩy sự phát triển của các giao dịch
dân sự trong điều kiện kinh tế thị trường. Đây cũng là cách xử lý trong Bộ luật
dân sự của nhiều nước trên thế giới.
2. Cần có biện pháp bảo vệ người thứ ba ngay tình mạnh mẽ hơn.
Cho rằng một mặt, vẫn phải bảo vệ chủ sở hữu, nhưng mặt khác cũng phải
bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình nhằm đảm bảo sự ổn định của các
quan hệ dân sự tránh gây nhiều xáo trộn, đồng thời nhằm thúc đẩy giao lưu dân
sự phát triển trong điều kiện của nền kinh tế thị trường, nên chăng cần tham khảo
quy định của pháp luật các nước điển hình trên thế giới: trong trường hợp tài sản
bị chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp đánh mất hoặc bị lấy cắp, thì có quyền
đòi lại vật từ người chiếm hữu ngay tình trong một thời hạn nhất định (có thể cân
nhắc quy định từ 2-3 năm kể từ ngày mất), nhưng người này có quyền kiện lại
người đã chuyển giao vật cho mình bồi thường thiệt hại.
18


3. Hoàn thiện pháp luật và thiết chế đăng ký tài sản:
Việc đăng ký tài sản rất quan trọng, một mặt là cơ sở để chủ sở hữu bảo vệ
quyền lợi của mình và đối kháng với người thứ ba khi có tranh chấp phát sinh;
mặt khác tạo điều kiện rất thuận lợi cho Toà án trong việc xác định chứng cứ để
xét xử các tranh chấp. Bộ luật dân sự cần đưa ra những nguyên tắc chung về
đăng kÝ tài sản, giá trị pháp lý của việc đăng ký… Sau đó, cần ban hành Luật về
đăng ký tài sản (hoặc nếu chưa có điều kiện thì trước mắt cần ban hành Luật về
đăng ký bất động sản), nhằm pháp điển hoá các quy định về đăng ký tài sản còn
đang nằm rải rác ở các văn bản pháp luật chuyên ngành. Hệ thống cơ quan đăng
ký tài sản cũng phải được tổ chức và hoạt động có hiệu quả, phù hợp với chủ
trương cải cách hành chính và làm sao phải tạo thuận lợi nhất cho người dân.
4. Nâng cao hiệu quả của các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu trong thực

mà còn đòi hỏi ở sự tự giác, sự ý thức của mỗi người trong xã hội. Việc hoàn
thiện pháp luật đặc biệt là pháp luật dân sự đang là yêu cầu cấp thiết đối với các
nhà làm luật của Việt Nam.
Tuy nhiên cũng phải khẳng định rằng, những quy định về các phương thức
bảo vệ quyền sở hữu trong Bộ luật dân sự năm 2005 đã góp phần đem lại sự
công bằng trong xã hội, quyền sở hữu của cá nhân được bảo vệ tốt hơn và tạo
điều kiện pháp lý thuận lợi cho việc giải quyết các vụ việc phát sinh trong xã hội
có liên quan đến quyền sở hữu.

20


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật dân sự Việt Nam, Tập I và
II, Nxb.CAND, Hà Nội, 2007.
2. Giáo trình luật dân sự Việt Nam, Tập 1, Nxb.Giáo dục, Hà Nội, 2009.
3. Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005.
4. Bộ môn luật dân sự - Trường Đại học Luật Hà Nội, Đề tài nghiên cứu
khoa học cấp trường, Các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu trong pháp luật
dân sự Việt Nam, tháng 12 năm 2007.
5. Website:


21




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status