MỤC LỤC
A. Phần mở đầu……………………………………………… 1
B. Phần nội dung……………………………………………. 1
I. Tình hình thực thi pháp luật thuế nhập khẩu ở Việt Nam trong thời gian
qua…………………………………………….. 2
II. Những yếu tố tác động đến việc thực thi pháp luật thuế nhập khẩu trên
thực tế tại Việt Nam………………………… 3
1. Tình hình kinh tế, chính trị trong nước, quốc tế và các chính sách
thương mại quốc gia……………………………….4
2. Xu hướng và trào lưu hội nhập kinh tế quốc tế…………..5
3. Chính sách phát triển kinh tế của nhà nước trong bối cảnh hội nhập
kinh tế quốc tế với pháp luật thuế nhập khẩu Việt
Nam…………………………………………………………..6
4. Nhu cầu ngân sách nhà nước…………………………………8
5. Ý thức của người nộp thuế……………………………………9
a. Giá tính thuế nhập khẩu
b. Thuế xuất thuế nhập khẩu
c. Không kê khai trung thực thuế nhập khẩu
III. Giải pháp cơ bản khắc phục những mặt hạn chế của các yếu tố chi phối
pháp luật thuế nhập khẩu nhằm hoàn thiện pháp luật nhập khẩu ở nước ta
hiện nay…………………… 10
1. Những định hướng cơ bản trong việc hoàn thiện pháp luật thuế nhập khẩu
ở Việt Nam hiện nay…………………………10
2. Những giải pháp cụ thể……………………………………...11
C. Phần kết luận………………………………………………13
1
A. PHẦN MỞ ĐẦU
Trong thời đại ngày nay, hội nhập là một xu thế tất yếu của mọi quốc
còn non trẻ khác xét điều kiện trong nước còn chưa thể đáp ứng các tiêu
chuẩn kỹ thuật cũng như chất lượng so với các quốc gia khác trên thế giới
như ngành sản xuất ô tô…
Tuy nhiên, luật thuế nhập khẩu cũng còn bộc lộ nhiều điểm hạn chế
trong qúa trình thực thi. Mức thuế suất thay đổi liên tục dẫn đến khó khăn
2
trong việc áp dụng. Mức thuế suất hiện nay của Việt Nam là 17.8%, cao hơn
rất nhiều so với các nước đang phát triển khác là thành viên của WTO như:
Trung Quốc 10.1%, Grudia 6.61%; Estonia 7.93%...Trong tiến trình hội
nhập, biểu thuế suất của VN nhìn chung còn phản ánh khuynh hướng thực
hiện chức năng bảo hộ và thu ngân là chính.
Vấn đề xác định giá trị hải quan trong nhập khẩu hàng hóa theo thông lệ
quốc tế vẫn còn hẹp về phạm vi áp dụng, hiệu quả chưa cao, nhiều trường
hợp không tạo ra sự công bằng, tự do trong thương mại.
Hệ thống pháp luật còn chưa đồng bộ, còn nhiều qui định chồng chéo
chưa thống nhất, gây nhiều khó khăn trong việc áp dụng. Chẳng hạn như:
Theo qui định tại điều 15 Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu về thời hạn
nộp thuế đã qui định rõ thời hạn nộp thuế. Tuy nhiên theo điều 28 khoản 1
Luật hải quan sửa đổi bổ sung thì qui định về kiểm tra, đăng kí hồ sơ lại lấy
tiêu chuẩn chấp hành tốt pháp luật hải quan. Ngoài ra không có sự thống
nhất giữa qui định của luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và Luật quản lí
thuế về tỉ lệ số tiền nộp phạt đối với trường hợp nộp chậm tiền thuế. Cụ thể
theo điều 23 Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu thì tỉ lệ này là 0.1% còn
theo Điều 106 Luật quản lý thuế là 0.05%. Một ví dụ khác: một qui định
gây nhiều khó khăn trong áp dụng đó là qui định về thuế suất thông thường
không quá 70% thuế suất ưu đãi. Điều này đã gây những cách hiểu không
thống nhất dẫn đến việc áp dụng không chính xác.
Trong thời gian qua, các doanh nghiệp Việt Nam chịu rất nhiều thiệt
việc áp dụng pháp luật thuế nhập khẩu. Do đó cần phải có sự nghiên cứu tìm
hiểu một cách khoa học những yếu tố có tác động đến việc thực thi pháp luật
thuế nhập khẩu nước ta để có phương hướng và giải pháp hoàn thiện hệ
thống pháp luật quy định về vấn đề thuế nhập khẩu ở Việt Nam.
II. Những yếu tố tác động đến việc thực thi pháp luật thuế nhập khẩu
trên thực tế tại Việt Nam
Có thể thấy việc thực thi luật thuế nhập khẩu trong thực tế chịu tác
động của rất nhiều các yếu tố khác nhau. Trước tiên là sự ảnh hưởng đến
việc của các yếu tố khách quan như tình hình phát triển của nền kinh tế,
chính trị quốc tế cũng như của quốc gia; sự ảnh hưởng của các chính sách
kinh tế của quốc gia. Đồng thời việc thực thi luật có hiệu quả hay không
đồng nghĩa với việc phải xây dựng, ban hành ra một hệ thống pháp luật thuế
đáp ứng được các đòi hỏi của thực tế. Điều này phụ thuộc vào các nhà làm
luật, trình độ lập pháp cũng như những cam kết quốc tế mà VN gia nhập.
Trong quá trình thực thi pháp luật thuế nhập khẩu, vai trò của các cơ quan
chức năng thực hiện việc thu thuế cũng như ý thức của những đối tượng nộp
thuế cũng đóng một vai trò quan trọng. Trong rất nhiều các yếu tố chi phối
đến pháp luật thuế nhập khẩu thì trong nội dung bài tiểu luận này xin đi tìm
hiểu một số yếu tố cơ bản tác động đến việc thực thi thuế nhập khẩu cũng
như mức độ ảnh hưởng của chúng như sau:
1. Tình hình kinh tế, chính trị trong nước, quốc tế và các chính sách
thương mại quốc gia.
Tình hình kinh tế, chính trị trong nước và quốc tế ở một thời kì nhất
định là yếu tố có ảnh hưởng quyết định đến nội dung chính sách thuế xuất
nhập khẩu và nội dung pháp luật thực định về thuế xuất nhập khẩu trong giai
đoạn đó. Điều này hoàn toàn dễ hiểu bởi lẽ suy cho cùng chính sách và pháp
4
trọng đến nội dung, chính sách thuế xuất nhập khẩu của quốc gia trong từng
giai đoạn cụ thể. Đối với Việt Nam, những thay đổi lớn lao và quan trọng
trong chính sách thuế xuất nhập khẩu thực sự đã được khởi động từ năm
1998 (để thực hiện cam kết giảm thuế theo quy định của AFTA) và gần đây
nhất là những thay đổi trong chính sách thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu đối
với hàng hóa xuất nhập khẩu đến hoặc từ Hoa Kỳ, nhằm thực hiện các cam
kết giảm thuế theo hiệp định thương mại Việt Nam Hoa Kỳ. Hầu hết những
thay đổi này đều được thể chế hóa thành các quy định của pháp luật về thuế
5
xuất khẩu, thuế nhập khẩu, nhằm đảm bảo tính khả thi và tính hiện thực cho
các chính sách đó trong thực tiễn.
Hội nhập kinh tế quốc tế là xu hướng tất yếu của quốc gia, trong đó có
Việt Nam. Trong văn kiện Đại hội Đảng lần thứ IX (năm 2011), Đảng ta
nhận định: “toàn cầu hoá kinh tế là xu thế khách quan, lôi cuốn ngày càng
nhiều nước tham gia; xu thế này đang bị một số nước phát triển cà các tập
đoàn kinh tế tư bản xuyên quốc gia chi phối, chứa đựng nhiều mâu thuẫn,
vừa có mặt tích cực vừa có mặt tiêu cực, vừa có hợp tác vừa có đấu tranh”.
Như vậy, các quốc gia không thể đứng ngoài xu hướng toàn cầu hoá mà phải
nắm bắt những cơ hội của nó để đưa đất nước nhanh chóng hội nhập kinh tế
quốc tế. Hội nhập kinh tế quốc tế thể hiện qua việc một quốc gia tham gia
vào các tổ chức hay liên minh kinh tế quốc tế giữa hai nước, trong khu vực
hay trên thế giới. Sự tham gia đó được chứng nhận thông qua việc quốc gia
tiến hành ký kết các điều ước quốc tế song phương hoặc đa phương và quốc
gia đó phải tuân thủ những điều ước đó một cách nghiêm túc ngay khi điều
ước đó có hiệu lực. Để làm được điều này thì quốc gia thành viên phải xây
dựng một hệ thống pháp luật phù hợp với quy chế của điều ước đã cam kết.
Luật thuế nhập khẩu là một trong những hệ thống pháp luật của quốc gia, nó
là loại thuế phản ánh rõ nhất tiến trình hội nhập của quốc gia đó nên khi xây
năng cạnh tranh bình đẳng giữa hàng hóa trong nước và hàng hoá nhập
thông qua việc cắt giảm thuế xuất nhập khẩu hoặc cắt giảm thuế nhập khẩu
để hàng hoá nước ngoài tràn vào nhằm mở rộng thị trường nội địa, đặc biệt
là hàng hoá nước mình sản xuất với chi phí cao. Đây là quá trình giảm bớt
sự can thiệp mang tính chất bảo hộ của nhà nước vào hoạt động thương mại,
theo đó vai trò của nhà nước chỉ nên giới hạn ở việc tạo ra môi trường phù
hợp cho các quan hệ thương mại. Chính sách bảo hộ mậu dịch lại bảo hộ nền
sản xuất trong nước trước sự cạnh tranh của hàng hoá nước ngoài bằng cách
áp dụng thuế suất thuế nhập khẩu cao đối với một số mặt hàng nhập khẩu.
Pháp luật thuế nhập khẩu có chức năng đặc thù là bảo hộ nền sản xuất trong
nước chống lại xu hướng cạnh tranh không cân sức giữa hàng hoá trong
nước với hàng hoá nước ngoài. Nhưng trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc
tế, xu hướng tự do hoá thương mại ngày càng trở thành xu hướng tất yếu
trên thế giới thì pháp luật thuế nhập khẩu cũng phải theo xu hướng giảm dần
mức thuế suất, cắt giảm tiến tới dỡ bỏ hàng rào thuế quan và phi thuế quan
của xu hướng tự do hóa thương mại.
Quán triệt chủ trương, đường lối của Đảng về hội nhập kinh tế quốc
tế, tích cực hội nhập để hoàn thiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa, xây dựng cơ sở vật chất tiến lên chủ nghĩa xã hội. Đồng thời đảm
bảo tối đa hóa lợi ích từ các công cụ thuế, tối thiểu hóa các chi phí trong quá
trình hội nhập, đồng thời phù hợp với thông lệ quốc tế. Những cam kết về
thuế quan mà Việt Nam tham gia ký kết hoặc sẽ tham gia ký kết là nội dung
quan trọng thể hiện mức độ hội nhập của quốc gia. Các cam kết này là cơ sở
để điều chỉnh các quan hệ kinh tế tài chính trong nước với nước ngoài và giữ
vai trò chi phối đối với nội dung các quy định của pháp luật. Cần phải hoạch
định, thống nhất và xây dựng phù hợp với các cam kết quốc tế, xây dựng lộ
trình cắt giảm phù hợp và phản ánh đầy đủ, chính xác chính sách bảo hộ có
chọn lọc, có điều kiện và với thời hạn nhất định. Đảm bảo việc sử dụng thuế
như một công cụ quan trọng nhằm khuyến khích chuyển dịch cơ cấu kinh tế
có hiệu quả, thúc đẩy năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp và nền kinh
bảo đảm cho ngân sách quốc gia có được nguồn thu ổn định lành mạnh.
5. Ý thức của người nộp thuế
Đây là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến việc thực thi Luật thuế
nhập khẩu. Hiện nay có những gian lận chủ yếu sau trong việc nộp thuế của
các chủ thể nộp thuế.
a. Giá tính thuế nhập khẩu
• Khai báo không trung thực giá tính thuế nhập khẩu: các chủ thể nộp
thuế thường không khai báo chính xác mà khai giá nhập khẩu thấp
hơn. Ví dụ công ty Đông Nam, giám đốc Nguyễn Gia Thiều đã móc
nối với công ty Đông Nam Hồng Kong mua hơn 40000 chiếc điện
8
thoại di dộng khai giá thấp hơn so với giá thực tế thanh toán từ 75 đến
375 USD trốn thuế nhập khẩu trên 100 tỉ.
• Khai thấp về chất lượng hàng những chủ thể nộp thuế thường khai
chất lượng hàng thấp hơn so với thực tế nhằm trốn thuế nhập khẩu.
• Khai báo hàng không thanh toán, hàng hỗ trợ tiếp thị quảng cáo.
• Đánh đồng tên hàng nhưng chất lượng và phẩm cấp cao hơn.
b. Thuế xuất thuế nhập khẩu
Gian lận giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa, khai sai nguồn gốc xuất
xứ hàng hóa nhằm hưởng lợi từ việc ưu đãi về thuế đối với các nước mà Việt
Nam cam kết giảm thuế. Khai báo gian dối về tên hàng hóa nhập khẩu để
được áp mã và hưởng thuế suất thấp hơn.
c. Không kê khai trung thực thuế nhập khẩu
Mặt hàng nhập khẩu, số lượng hàng nhập, trị giá hải quan ảnh hưởng đến
công tác kiểm tra của hải quan. Do năng lực cán bộ hải quan còn yếu kém
nên không kiểm soát được hàng buôn lậu.
Ngoài những yếu tố trên pháp luật thuế nhập khẩu còn phụ thuộc vào nhiều
tạo ra sự thay đổi cơ cấu nguồn thu từ thuế hợp lý.
• Thứ ba, hoàn thiện pháp luật thuế nhập khẩu phải đảm bảo sự bảo hộ
đúng đắn nền sản xuất trong nước. Đây cũng là một trong những chức
năng của thuế nhập khẩu. Trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế
hiện nay. Việt Nam phải xây dựng một lộ trình cắt giảm thuế nhập
khẩu phù hợp để bảo hộ một cách hợp lý nền sản xuất trong nước
trước sự cạnh tranh khốc liệt của xu hướng toàn cầu hoá thương mại.
• Thứ tư, hoàn thiện pháp luật thuế nhập khẩu phải hướng tới một hệ
thống pháp luật thống nhất, đồng bộ, có tính ổn định cao, minh bạch,
thúc đẩy cạnh tranh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế trong nước
và quốc tế.
2. Những giải pháp cụ thể
Trước hết, cần ban hành, sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật
cho phù hợp với các cam kết quốc tế của Việt Nam trong tiến trình hội nhập
quốc tế. Việc hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam sẽ tạo ra hành lang
pháp lý đầy đủ và thống nhất cho hoạt động nhập khẩu.
Tiếp tục hoàn thiện các quy định về thuế nhập khẩu để tự vệ, thúê
chống bán phá giá, thuế chống trợ cấp, thuế chống phân biệt đối xử để đảm
bảo lợi ích của Việt Nam khi hội nhập kinh tế quốc tế.
Về thuế suất thì hiện nay thuế suất nước ta còn có nhiều khung so với
các mức thuế suất khác nhau. Đặc biệt quy định về thuế suất thuế nhập khẩu
“thuế suất thông thường được quy định không quá 70% so với thuế suất ưu
đãi” cũng dễ gây hiểu nhầm cho người đọc. Do đó, kiến nghị nên có những
quy định giảm bớt sự chênh lệch giữa các mức thuế suất, xây dựng lộ trình
giảm thuế suất thuế nhập khẩu hợp lý để phù hợp với tình hình trong nước
cũng như quốc tế. Đặc biệt, cần sửa đổi các quy định về tỷ lệ thuế suất thông
thường so với thuế suất ưu đãi để tránh những hiểu lầm không đáng có trong
quá trình thực hiện hoạt động thu và nộp thuế nhập khẩu.
Về thuế suất tuyệt đối trong nhập khẩu hàng hoá nên hạn chế áp dụng
và cần quy định rõ trong luật thuế nhập khẩu danh mục những mặt hàng có
cam kết quốc tế của Việt Nam về thuế nhập khẩu.
Về vấn đề đơn giản hoá thủ tục hải quan, tổng cục hải quan phải kết
hợp với Bộ tài chính cải cách và phổ biến cách thức quản lý mới. Cần phải
đơn giản hoá bộ hồ sơ hải quan , cụ thể nên bỏ bớt một số giấy tờ như giấy
giới thiệu, tờ khai trị giá, bộ hồ sơ coppy, hợp đồng thương mại. Đặc biệt
với nhóm hàng gia công yêu cầu nộp bảng khai nguyên vật liệu do doanh
nghiệp tự cung ứng trong nước là không thực tế. Bên cạnh đó, chúng ta cần
phải cải cách mạnh mẽ khung pháp lý về quản lý hàng nhập khẩu theo
hướng đơn giản, công khai và minh bạch đồng thời tăng cường hiện đại hoá
ngành hải quan thông qua việc áp dụng công nghệ thông tin vào thực hiện
thủ tục hải quan.
Cùng với việc cải cách thủ tục hành chính, cần phải đào tạo, rèn luyện
đội ngũ công chức thực hiện chính sách thuế nhập khẩu vì nếu như có một
hệ thống pháp luật khoa học, đúng đắn nhưng người thực hiện không làm
đúng, không làm tốt nhiệm vụ của mình thì cũng không thể mang lại hiệu
quả cao được. Theo đó chúng ta cần phải lựa chọn công chức có đạo đức,
trình độ để bố trí vào những bộ phận cụ thể, có kế hoạch đào tạo và đào tạo
11
lại cán bộ hải quan để nâng cao trình độ nghiệp vụ của họ đồng thời xử lý vi
phạm nghiêm minh công chức vi phạm pháp luật thuế nhập khẩu.
Tăng cường công tác tuyên truyền, hướng dẫn và chỉ đạo chính sách
thuế nhập khẩu để nâng cao trình độ hiểu biết và ý thức chấp hành pháp luật
thuế nhập khẩu của các doanh nghiệp. Từ đó sẽ đảm bảo hoạt động thu, nộp
thuế nhập khẩu được tiến hành dễ dàng và hiệu quả hơn.
Đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện pháp luật thuế
nhập khẩu vì công tác thanh tra, kiểm tra có tác dụng bảo đảm việc tổ chức
thực hiện pháp luật thuế nhập khẩu đúng đắn hơn, phát hiện những sơ hở,
quốc tế : Khoá luận tốt nghiệp / La Thị Tuyết Anh; Người hướng dẫn:
Th.S Vũ Văn Cương . - H., 2007 .
5. Thực tiễn áp dụng luật thuế nhập khẩu ở Việt Nam : khoá luận tốt
nghiệp / Lê Minh Giang . - H., 2007 .
6. Thực tiễn áp dụng pháp luật thuế nhập khẩu ở Việt Nam hiện nay
những vấn đề cần hoàn thiện : Khoá luận tốt nghiệp / Trịnh Đức Hiếu;
Người hướng dẫn: TS. Vũ Văn Cương . - H., 2008 .
13
7. Pháp luật thuế nhập khẩu Việt Nam trong mối tương quan với các
cam kết vào WTO : Khoá luận tốt nghiệp / Nguyễn Thị Thu Huyền;
Người hướng dẫn: TS. Nguyễn Kiều Giang . - H., 2009 .
14