Mối quan hệ giữa phật giáo và tín ngưỡng dân gian việt nam (qua nghiên cứu một số ngôi chùa tiêu biểu của phật giáo bắc tông) - Pdf 38

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các tài liệu, số liệu trích dẫn trong luận án là trung thực, có
nguồn gốc rõ ràng. Những kết luận khoa học của luận án chưa
từng được công bố trong bất cứ công trình nào khác.

Tác giả luận án

Đặng Minh Châu
(Thích Bảo Nghiêm)

0


MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN
MỞ ĐẦU

5

CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CỦA

11

LUẬN ÁN

1.1. Những công trình nghiên cứu về Phật giáo và Phật giáo

11

40

2.1.1. Quá trình du nhập và phát triển của Phật giáo ở Việt Nam

40

2.1.2. Đặc điểm của Phật giáo Việt Nam

46

2.2. Vài nét về tín ngƣỡng dân gian Việt Nam

52

2.2.1. Cơ sở hình thành tín ngưỡng dân gian Việt Nam

52

1


2.2.2. Khái niệm tín ngưỡng và tín ngưỡng dân gian

54

2.2.3. Một số đặc điểm của tín ngưỡng dân gian Việt Nam

57

2.2.4. Phân loại tín ngưỡng dân gian Việt Nam


86

Nam trong các ngôi chùa tiêu biểu của Phật giáo Bắc tông
3.2.1. Sự “ Phật hóa” của các thánh/ thần trong dân gian vào chùa

87

3.2.2. Sự thay đổi các nghi lễ thờ cúng, lễ hội, không gian tâm

93

linh trong tín ngưỡng dân gian theo Phật giáo
3.3. Sự tác động của tín ngƣỡng dân gian Việt Nam đến

99

Phật giáo trong các ngôi chùa tiêu biểu của Phật giáo
Bắc tông
3.3.1. Đối tượng thờ phụng được mở rộng, bổ sung
3.3.2. Một số nghi lễ thờ cúng trong chùa Phật chịu ảnh hưởng

2

99
107


đậm nét của tín ngưỡng dân gian
3.3.3. Ảnh hưởng của tín ngưỡng dân gian đến Phật giáo qua

PHÁT HUY NHỮNG GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRONG MỐI QUAN HỆ
GIỮA PHẬT GIÁO VÀ TÍN NGƢỠNG DÂN GIAN VIỆT NAM

4.1. Xu hƣớng biến đổi trong mối quan hệ giữa Phật giáo và

132

tín ngƣỡng dân gian Việt Nam hiện nay
4.1.1. Xu hướng hỗn dung Phật giáo và tín ngưỡng dân gian

132

4.1.2. Xu hướng đưa Phật giáo trở về Phật giáo nguyên thủy

139

4.2. Một số vấn đề đặt ra từ mối quan hệ giữa Phật giáo và

143

tín ngƣỡng dân gian Việt Nam
4.2.1. Sự biến tướng của các nghi lễ Phật giáo kết hợp tín
ngưỡng dân gian Việt Nam

3

143


4.2.2. Cảnh quan kiến trúc của một số ngôi chùa Việt đang dần

thuyết có tính triết học sâu sắc và giá trị nhân văn. Trước khi Phật giáo du
nhập vào Việt Nam, người Việt Nam đã có tín ngưỡng của riêng mình; khi
Phật giáo vào Việt Nam, người Việt đã tiếp nhận tôn giáo này trong xu hướng
hòa quyện với tín ngưỡng bản địa và tạo nên một bản sắc văn hoá tôn giáo
độc đáo.
Hơn 2000 năm có mặt trên đất Việt, Phật giáo đã để lại nhiều dấu ấn vật
chất, mà tiêu biểu hơn cả là những ngôi chùa với nhiều loại hình/dạng khác
nhau. Sự ra đời và phát triển của những dạng chùa này không chỉ đánh dấu sự
phát triển của nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc thể hiện ở dạng văn hóa vật thể,
mà còn phản ánh những chuyển biến về mặt tư tưởng của người dân cùng đời
sống tôn giáo, tín ngưỡng của họ trong những giai đoạn lịch sử nhất định. Kết
hợp với nhau, Phật giáo và tín ngưỡng dân gian đã thẩm thấu vào nhau để
Phật giáo ở Việt Nam trở thành Phật giáo Việt Nam - với tư tưởng nhập thế
rõ ràng nên đã tạo nên sự gắn bó giữa Phật giáo với dân tộc và đồng hành
cùng dân tộc, góp phần tạo nên những thành quả dựng nước và giữ nước của
dân tộc.
Phật giáo Bắc tông là một trong hai hệ phái tiêu biểu của Phật giáo.
Đây là hệ phái Phật giáo phát triển chủ trương linh động trong thực hiện giới
luật, không câu nệ vào câu chữ trong kinh mà lựa chọn sự phù hợp, hữu ích
có hiệu quả cho tu hành và đời sống xã hội. Chính đặc điểm này của Phật giáo
Bắc tông đã làm cho hệ phái này nhanh chóng đi sâu vào đời sống cộng đồng

5


người Việt, dung hợp với tín ngưỡng dân gian, là biểu trưng tiêu biểu cho sự
kết hợp của Phật giáo và tín ngưỡng dân gian.
Việc nghiên mối quan hệ giữa Phật giáo và tín ngưỡng dân gian Việt
Nam được thể hiện qua những ngôi chùa của Phật giáo Bắc tông nói riêng,
chùa Việt Nam nói chung đem lại cho ta hiểu rõ các lớp văn hóa bồi tụ, lắng

nhằm phát huy những giá trị văn hoá của mối quan hệ giữa Phật giáo và tín
ngưỡng dân gian ở nước ta hiện nay.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Mối quan hệ giữa Phật giáo và tín ngưỡng dân gian Việt Nam.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận án nghiên cứu mối quan hệ giữa Phật giáo và tín ngưỡng dân gian
Việt Nam thể hiện qua một số ngôi chùa tiêu biểu của Phật giáo Bắc tông.
Những ngôi chùa được tác giả luận án khảo sát để thu thập tài liệu và trích dẫn
trong luận án, gồm:
+ Ở miền Bắc:
Chùa Thầy, chùa Trăm Gian, chùa Bối Khê, chùa Dâu, chùa Một Cột, chùa
Bà Đá, chùa Bằng, chùa Lý Triều Quốc Sư, chùa Trấn Quốc, chùa Hoàng Mai,
chùa Kim Liên; chùa Láng, chùa Duệ Tú, chùa Yên Phú, chùa Quảng Bá, chùa
Thành, chùa Tam Thanh, chùa Tiên, chùa Giám, chùa Keo (Nam Định), chùa
Cổ Lễ, chùa Trông, chùa Đại Bi, chùa Lương, chùa Keo (Thái Bình)...
+ Ở miền Trung:

7


Chùa Tượng Sơn, chùa Am, chùa Từ Hiếu, chùa Linh Ứng, chùa Thiên
Mụ, chùa Linh Sơn - Đông Thiền, chùa Tiên Phước, chùa Thanh Quang, chùa
Tam Thai, Động Huyền Không.
+ Ở miền Nam:
Chùa Giác Lâm, chùa Giác Viên, chùa Sùng Hưng, chùa Tam Bảo, chùa
Hội Khánh, chùa Vĩnh Tràng… .
Ngoài ra, một số chùa khác cũng được tác giả khai thác từ nguồn tài liệu
tham khảo.
Khi nghiên cứu mối quan hệ giữa Phật giáo và tín ngưỡng dân gian Việt

hai khía cạnh: sự tác động của Phật giáo đến tín ngưỡng dân gian Việt Nam
và những ảnh hưởng của tín ngưỡng dân gian đến Phật giáo, từ đó chỉ ra
những giá trị văn hóa Phật giáo từ mối quan hệ này.
- Chỉ ra được xu hướng biến đổi của mối quan hệ giữa Phật giáo và tín
ngưỡng dân gian và đề xuất một số kiến nghị, giải pháp nhằm phát huy những
giá trị văn hoá của sự kết hợp giữa Phật giáo và tín ngưỡng dân gian ở nước ta
hiện nay.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
6.1. Ý nghĩa lý luận
Góp phần làm rõ hơn giá trị bản sắc văn hoá dân tộc của những ngôi
chùa qua việc tìm hiểu mối quan hệ giữa Phật giáo và tín ngưỡng dân gian
biểu hiện trong các lĩnh vực như: cách bài trí, nghi lễ, nghệ thuật kiến trúc,...
Kết quả của luận án đặt ra vấn đề đối với các nhà quản lý tôn giáo, quản lý
văn hoá trong việc bảo tồn, kế thừa và phát huy những giá trị văn hóa của

9


người Việt trong sự nghiệp bảo tồn nền văn hóa truyền thống và xây dựng đời
sống văn hóa đương đại.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận án có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu,
giảng dạy và học tập về triết học, tôn giáo, triết học tôn giáo.
7. Bố cục của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của
luận án được bố cục thành 4 chương, 15 tiết.

10



ông đi đến kết luận rằng: “Tinh thần căn bản của Phật giáo là căn cứ trên cái
tâm để nhận định pháp tắc duyên sinh, rồi lại căn cứ vào pháp tắc duyên sinh
để phê phán sự vật một cách có lý luận và thực tiễn” [37, tr.31].
Công trình Đạo Phật và đời sống hiện đại của K. Sri Dhammananda một học giả uyên bác và cũng là Đại lão Hòa thượng tăng thống Mã Lai
(Thích Tâm Quang dịch, Nxb. Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2006) bao
gồm các bài giảng về đạo Phật và đời sống hiện đại, quan niệm về Thượng
Đế, đức Phật, từ bỏ thế tục, niềm tin và sự hành đạo tại Ấn Độ thời cổ đại,
các thuật ngữ trong tôn giáo... Tác giả đã chứng minh rõ quan điểm cũng như
việc triển khai của đạo Phật trên mọi lĩnh vực của đời sống hiện tại như tư
tưởng về xã hội, kinh tế, an sinh, khoa học, môi sinh. Đặc biệt trong phần nói
về đạo đức và xã hội, tác giả khẳng định: trong đạo Phật, ta thấy một hệ
thống đạo đức toàn diện. Nó thích hợp cho mọi tầng lớp: với người bình
thường, nó cung cấp một quy tắc luân lý, một sự thờ phụng đầy đủ và một
niềm hy vọng một cuộc sống tại thiên đường; với người nhiệt tình sùng đạo,
nó là một hệ thống tư tưởng trong sạch, một triết lý cao thượng và những lời
giáo huấn về đạo đức đưa đến giác ngộ, giải thoát khỏi khổ đau. Như vậy, ở
đây, tác giả nhấn mạnh giáo lý căn bản của đạo Phật vẫn là sự tự thanh tịnh
hóa con người. Sự tiến bộ về tinh thần không thể đạt được cho một người
không có một cuộc sống trong sạch và từ bi. Đức Phật chỉ cho các đệ tử thấy
trên thế giới này cái gì là phải, cái gì là trái, cái gì tốt, cái gì xấu. Cuốn sách
có ý nghĩa tham khảo cho luận án. Tuy nhiên, đây chỉ là những bài giảng rất
ngắn gọn của một vị hòa thượng cho các đệ tử của mình, do vậy, những
chứng minh cho vai trò của đạo Phật trong đời sống hiện đại còn rất sơ sài.
Trong những nhà nghiên cứu Việt Nam về Phật giáo, đầu tiên phải kể
đến tác giả Trần Trọng Kim với 3 công trình tiêu biểu là Phật lục ( Nxb Lê
Thăng, Hà Nội, 1940). Công trình này khái quát về đạo cứu thế của nhà Phật,

12




du nhập và phát triển cũng như các giai đoạn thăng trầm của Phật giáo Việt
Nam, nhưng công trình này cũng khắc họa được nhiều nét tiêu biểu sự ảnh
hưởng, tác động của tư tưởng Phật giáo đến các nhà tư tưởng Việt Nam qua
các thời kỳ lịch sử khác nhau, như: “ảnh hưởng của Phật học đã vào thơ
Nguyễn Trãi làm phong phú tâm hồn, tình cảm…làm nên khía cạnh từ bi đã
hun đúc trong Nguyễn Trãi lòng yêu nước, thương dân” [101, tr.277]... . Cùng
mục đích làm rõ lịch sử của Phật giáo ở Việt Nam, bộ sách Lịch sử Phật giáo
Việt Nam của Lê Mạnh Thát, gồm 3 tập (Nxb TPHCM, 2005, 2006) đã phác
họa một cách rõ nét diện mạo của Phật giáo Việt Nam qua những đặc điểm và
các trường phái cơ bản, bắt đầu từ Phật giáo thời Hùng Vương cho đến Tuệ
Trung thượng sĩ và vua Trần Thánh Tông. Sự biên soạn công phu của tác giả
của công trình này đã cung cấp nhiều nội dung cơ bản trong giáo lý và các
truyền thuyết của Phật giáo Việt Nam như: Từ Khâu-đà-la, Man Nương, đức
Phật Pháp Vân….đến các cao tăng như Mâu Tử, Khương Tăng Hội, Huệ
Lâm, Không Lộ, Giác Hải, vua Trần Thái Tông, Quốc sư Phù Vân, Tuệ Trung
thượng sĩ và vua Trần Thánh Tông.v.v..
Nghiên cứu về Phật giáo Việt Nam, không thể không kể ra những vị
chân tu, có đóng góp nhiều cho Phật pháp và xã hội trên con đường tu tập của
mình. Liên quan đến nội dung này phải kể đến Nguyễn Lang với 3 tập Việt
Nam Phật giáo sử luận ( Nxb Văn học, 2010)… Đây là những công trình
nghiên cứu mà tác giả đã rất thành công khi trình bày khéo léo tiểu sử của các
vị tu hành với những dấu ấn tư tưởng của họ để khắc họa nên dáng nét riêng,
là linh hồn, là bản sắc của Phật giáo Việt Nam. Nó làm sống dậy không khí
cũng như diện mạo cụ thể của sinh hoạt Phật giáo qua các thời đại, làm nên
một bức tranh sống động của Phật giáo Việt Nam từ nguồn gốc đến thế kỷ
XIX, là nguồn tài liệu có giá trị trong tham khảo những biến chuyển của Phật
giáo Việt Nam qua các thời kỳ và những tác động cũng như ảnh hưởng không
nhỏ của nó xã hội Việt Nam trong lịch sử.



15


thức đầy đủ về những chỗ đồng và bất đồng trong phong trào tôn giáo vốn lâu
đời gắn bó với dân tộc đó” [102, tr.229]. Không dừng ở đó, trên con đường
khái quát hiện tượng trong thực tiễn, qua công trình Tư tưởng Phật giáo Việt
Nam (Nxb. Khoa học xã hội, 1999), Nguyễn Duy Hinh còn muốn đi sâu
nghiên cứu nội dung tư tưởng Phật giáo Việt Nam, nhằm lý giải những đặc
điểm cơ bản của Phật giáo Việt Nam được xây dựng với tư cách là một sản
phẩm tôn giáo được hình thành trên cơ sở tín ngưỡng, tâm linh của cư dân bản
địa, có tiếp thu tôn giáo ngoại nhập. Đặc biệt trong công trình này, tác giả
cũng đã bước đầu giới thiệu một số bộ kinh điển tiêu biểu của Phật giáo như
kinh Bát Nhã, kinh Thủ Lăng Nghiêm với tư cách là sự chuyển tải nội dung
giáo lý cơ bản của Phật giáo được đề cập tới trong chương trình Phật học của
các trường học Phật giáo. Những nhận định về Phật giáo được ông tiếp tục
triển khai trong công trình Một số bài viết về tôn giáo học (Nxb. Khoa học Xã
hội, 2007). Công trình này đi sâu nghiên cứu và khái quát những vấn đề về lý
luận tôn giáo học, tiếp tục phân tích sự hình thành và phát triển của Phật giáo
ở Việt Nam, làm rõ hơn các đặc điểm của Phật giáo Việt Nam.
Cũng với mục đích này, tác giả Nguyễn Quốc Tuấn trong công trình: Vai
trò của Phật giáo Việt Nam đối với sự phát triển bền vững của đất nước
(2008) đã khái quát nên bốn đặc điểm của Phật giáo, đó là, thứ nhất, Phật giáo
là một tôn giáo không đi ngược lại với lợi ích của chính con người cá nhân và
con người dân tộc…; thứ hai, đạo Phật là một khoa học, khoa học về đời sống
nội tâm và cải biến nội tâm; thứ ba, khác với nhiều luận thuyết và giáo lý lấy
sự phụ thuộc bên trên làm căn bản, đạo Phật lấy chính nội tâm con người làm
căn bản; thứ tư, giáo pháp của đức Phật còn dạy và hướng dẫn con người lòng
từ bi, thương đồng loại vô bờ bến, đó là đặc tính chủ yếu nhất của đạo Phật.
Nghiên cứu chuyên về Phật giáo Bắc tông có công trình Lược sử Phật

Việt Nam (Nxb. Văn hóa dân tộc, 1994) của tác giả Nguyễn Minh San. Trong
công trình này, trước khi đi vào phân tích những hiện tượng tín ngưỡng dân

17


dã tiêu biểu của người dân Việt, tác giả đã nêu ra khái niệm về tín ngưỡng,
một khái niệm còn đang gây nhiều tranh luận về định nghĩa. Theo tác giả:
“Tín ngưỡng là một biểu hiện của ý thức về một hiện tượng thiêng, một sức
mạnh thiêng do con người tưởng tượng ra hoặc do con người suy tôn, gán cho
một hiện tượng, một sức mạnh chỉ cảm thụ được mà chưa nhận thức được.
Tín ngưỡng là một sản phẩm văn hóa của con người được hình thành tự phát
trong mối quan hệ giữa con người với chính mình, với người khác và với thế
giới tự nhiên” [62, tr.7]. Tác giả giải thích khái niệm “tín ngưỡng dân dã” là
để chỉ chung các loại hình tín ngưỡng (bao gồm tín ngưỡng phồn thực, tín
ngưỡng sùng bái tự nhiên, tín ngưỡng sùng bái con người), và chữ “dân dã”
còn có ý khẳng định về tính nguyên sơ/ nguyên thủy, tính phổ biến, tính quần
chúng của tín ngưỡng. Như vậy, theo Nguyễn Minh San, tuy có nhiều loại
hình tín ngưỡng khác nhau nhưng chúng đều hình thành và vận hành trên cơ
sở hai yếu tố cơ bản là cái Thiêng của đối tượng được tín ngưỡng/ sùng kính
và đức tin của đối tượng có tín ngưỡng/sùng kính. Cái thiêng và đức tin là cốt
lõi của tín ngưỡng, mà thiếu chúng, không thể có tín ngưỡng. Chính đức tin
vào tín ngưỡng của mình đã giúp cho người Việt không chỉ bảo lưu mà còn
tiếp nhận, hòa đồng với những tôn giáo ngoại lai, biến nó thành yếu tố văn
hóa của dân tộc: “Niềm tin của người Việt Nam vào tín ngưỡng rất mãnh liệt.
Vì thế, trong quá trình tiếp xúc và giao lưu văn hóa với các nền văn hóa khác
(mà cụ thể là với các tôn giáo tín ngưỡng từ bên ngoài truyền vào), người Việt
vẫn giữ và tin theo những tín ngưỡng của mình. Song, do bản tính người Việt
rất cởi mở, cầu thị và không kỳ thị tôn giáo (…) nên đã tiếp nhận những yếu
tố tích cực, phù hợp của các tôn giáo - tín ngưỡng khác và biến những yếu tố

Trong một loạt các công trình giới thiệu một cách có hệ thống về các
biểu hiện cũng như cách phân chia các loại hình tín ngưỡng ở Việt Nam, phải
kể đến công trình của Vũ Ngọc Khánh với Tín ngưỡng dân gian Việt Nam
(Nxb. Văn hóa dân tộc, 2001), Trong công trình này, tác giả khảo cứu lịch sử

19


một số tín ngưỡng dân gian Việt Nam, đặc biệt là lễ thức gia đình (như: bàn
thờ gia tiên, ngày giỗ, văn khấn, thần tài, tiền chủ…) và một số thần linh được
thờ cúng. Công trình Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam do Ngô
Đức Thịnh chủ biên (Nxb. Khoa học Xã hội, 2001) cũng đã phác họa một số
hình thức tín ngưỡng dân gian và hình thức văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam;
đồng thời khát quát mối quan hệ giữa tôn giáo tín ngưỡng với văn hóa nghệ
thuật dân gian. Trong công trình này, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, tín ngưỡng
Thành hoàng, đạo Mẫu, tục thờ Bà chúa Ngọc, tín ngưỡng Đức Thánh Trần,
Chử Đạo Tổ và tín ngưỡng nghề nghiệp (bao gồm tín ngưỡng nông nghiệp,
tín ngưỡng ngư nghiệp và tín ngưỡng bách nghiệp tổ sư) được tập trung khảo
cứu. Công trình Nghi lễ thờ cúng truyền thống của người Việt tại nhà và
chùa, đình, đền, miếu, phủ do Hồ Đức Thọ sưu tầm và biên soạn (Nxb. Văn
hoá Thông tin, 2005) là công trình dựa trên sự mô tả các diễn tiến nghi lễ thờ
cúng dân gian để trình bày một số nét về bản chất và đạo lý gia tộc, hướng
dẫn cách chuẩn bị và thực hiện các nghi lễ thờ cúng tại nhà, chùa, đình, đền,
miếu, phủ và một số đền miếu phủ tiêu biểu tại Việt Nam.
Công trình Thần, người và đất Việt của Tạ Chí Đại Trường (NXb. Văn
hóa Thông tin, 2005) là một công trình tương đối đặc sắc khi đã vạch lại chi
tiết lịch sử biến chuyển các quan niệm thần linh của người Việt. Không chỉ là
một công trình quan trọng nghiên cứu cách thức suy nghĩ và ứng xử của
người Việt trong đời sống tâm linh, Thần, người và đất Việt còn là một bức
tranh đa sắc về các hệ thống thần linh Việt, mỗi trang sách như một mảng

thần) của riêng mình. Với tư cách là đạo Mẫu ở Việt Nam: “Đạo Mẫu Việt
Nam đã trở thành một khái niệm khoa học thực sự” [90, tr.10]. Vì thế, đạo
Mẫu trong công trình này không chỉ được nghiên cứu với tư cách là một tín
ngưỡng cụ thể của người Việt, mà quan trọng hơn là: “Nghiên cứu Đạo Mẫu
từ khía cạnh xã hội và con người, từ cộng đồng tới cá nhân” [90, tr.11], mô tả
nó sinh động như chính đời sống thực của nó. Sau nhiều năm trăn trở, với

21


mong muốn có được một công trình nghiên cứu về đạo Mẫu một cách đầy đủ,
hệ thống, khách quan nhất, đến lần tái bản thứ tư thì công trình Đạo Mẫu Việt
Nam được coi là công trình có tầm rộng và chứa đựng nội dung tín ngưỡng,
văn hóa rất phong phú và sâu sắc. Công trń h khảo cứu cơ bản và toàn diện về
tín ngưỡng tôn giáo cũng như các giá trị văn hóa đã được tích hợp xung quanh
đạo Mẫu. Nó không chỉ trình bày hệ thống thờ Mẫu và các hiện tượng thờ
Mẫu ở các địa phương mà nó được triển khai trình bày hệ thống thờ Mẫu ở
các cấp độ và dạng thức khác nhau để vừa thể hiện tính thống nhất trong niềm
tin tín ngưỡng lại vừa thể hiện tính đa dạng của đạo Mẫu Việt Nam. Chính
những nội dung nghiên cứu của công trình này cung cấp nhiều dẫn chứng sinh
động cho phần phân tích của luận án về biểu hiện mối quan hệ giữa Phật giáo
và tín ngưỡng dân gian tích hợp trong tín ngưỡng thờ Mẫu.
Tác giả Vũ Ngọc Khánh trong Đạo Thánh ở Việt Nam ( Nxb. Văn hóa
Thông tin, 2001) lại nghiên cứu thiên về tín ngưỡng thờ Thánh ở nước ta.
Công trình trình bày một cách hệ thống về sự tích, lễ hội, tập tục của đạo
Thánh trong nền văn hóa dân tộc. Công trình Nghi lễ thờ cúng truyền thống
của người Việt tại nhà và chùa, đình, đền, miếu, phủ do Hồ Đức Thọ sưu tầm
và biên soạn (Nxb. Văn hoá Thông tin, 2005) trình bày một số nét về bản chất
và đạo lý gia tộc, hướng dẫn cách chuẩn bị và thực hiện các nghi lễ thờ cúng
tại nhà, chùa, đình, đền, miếu, phủ và một số đền miếu phủ tiêu biểu tại Việt

rằng, từ rất lâu, do nhiều nguyên nhân khác nhau, nhất là do đặc điểm tâm
thức của người dân Việt, nên ít tôn giáo, tín ngưỡng nào có thể tồn tại độc lập,
mà thường có sự dung hội với nhau. Sự dung hội giữa tôn giáo và tín ngưỡng
dân gian (đặc biệt là Phật giáo) là một vấn đề đã được hầu hết các nhà nghiên
cứu đồng thuận và khẳng định, nó cũng được nhắc nhiều trong những bài viết
của họ; Song, đặt thành một vấn đề nghiên cứu độc lập và cụ thể thì hầu như
lại không nhiều nghiên cứu. Tác giả Đặng Nghiêm Vạn trong bài viết Một số
vấn đề lý luận và thực trạng tôn giáo ở Việt Nam in trong công trình Về tín

23


ngưỡng tôn giáo Việt Nam hiện nay (Nxb. Khoa học xã hội, 1998), khẳng
định: “Bất cứ tôn giáo nào muốn đứng vững ở Việt Nam đều phải tiếp biến rất
mạnh mẽ qua đạo tổ tiên hay rộng ra là phải Việt Nam hóa để trở thành một
yếu tố văn hóa dân tộc” [102, tr.145- 146]. Tác giả Đỗ Quang Hưng, trong bài
viết: Những giá trị văn hóa trong đời sống tôn giáo, tín ngưỡng (chương VI
trong công trình: Những giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam do Ngô Đức
Thịnh làm chủ biên) đã khẳng định văn hóa Phật giáo đã trở thành một thành
tố của văn hóa Việt Nam. Tác giả cho rằng: Phật giáo Việt Nam đã Việt hóa
theo hướng văn hóa hóa - một thứ “Phật giáo văn hóa”.
Các công trình nghiên cứu, tuy với nhiều cách tiếp cận khác nhau, nhưng
đều thiên về khẳng định những ảnh hưởng đậm nét của Phật giáo đến văn hóa
Việt trên nhiều lĩnh vực. Tác giả Thích Đồng Bổn, với công trình Những tập
tục dân gian chịu ảnh hưởng Phật giáo Đại thừa là một trong không nhiều
công trình chuyên nghiên cứu về mối quan hệ giữa Phật giáo (Đại thừa) và
những tập tục (song chủ yếu là ở vùng Nam Bộ), đã nhấn mạnh những thay
đổi cả trong nghi lễ và quan niệm của những người thực hành tín ngưỡng dân
gian sau khi chịu ảnh hưởng của Phật giáo. Tác giả Nguyễn Quang Lê, qua
công trình Nhận diện bản sắc văn hoá qua lễ hội truyền thống người Việt


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status