1
LỜI MỞI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của Đề tài:
Một công ty đang thành công với một sản phẩm nhất định trên thị trường có thể dễ
dàng lâm vào phá sản ngày mai nếu công ty này không tiếp tục thay đổi mẫu mã sản phẩm
theo các cách khác nhau hoặc tìm kiếm một sản phẩm mới một khi các điều kiện của thị
trường biến đổi. Một trong những hoạt động đang diễn ra ở mỗi doanh nghiệp là theo dõi
sự biến đổi của thị trường: ở cả khía cạnh cạnh tranh cũng như thị hiếu mới của người tiêu
dùng. Sản phẩm mới là một yếu tố quan trọng trong sự phát triển và tồn tại của công ty.
Do liên tục phải đối mặt với thị trường cạnh tranh gay gắt, với nhu cầu thường xuyên thay
đổi của khách hàng và với những tiến bộ trong công nghệ nên một công ty phải có chiến
lược tung ra sản phẩm mới cũng như cải tiến những sản phẩm hiện tại để ổn định doanh
thu. Việc phát triển và tung sản phẩm mới ra thị trường vốn vô cùng tốn kém và không
phải sản phẩm nào cũng có khả năng bám trụ được.
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề trên em mạnh dạn chọn đề tài: “P hát
triển sản phẩm của Công ty Cổ phần sữa Việt Nam Vinamilk”.
2. Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở hệ thống lý luận chung về phát triển sản phẩm, tiểu luận phân tích, đánh
giá thực trạng hoạt động phát triển sản phẩm sữa của Công ty Cổ phần sữa Việt Nam, từ
đó đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả phát triển sản phẩm sữa của Công ty Cổ phần sữa
Việt Nam cho phù hợp hơn với nhu cầu đa dạng trên thị trường Việt Nam.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu:
Nghiên cứu chung về phát triển sản phẩm của Doanh nghiệp.
Các vấn đề cần lưu ý khi phát triển sản phẩm của Doanh nghiệp.
Đánh giá xu hướng phát triển thị trường sữa Việt Nam trong tương lai và mục tiêu
của Công ty Cổ phần sữa Việt Nam.
Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả phát triển sản phẩm cho Công ty trong
tương lai.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động nghiên cứu thị trường và hoạt động phát triển sản
phẩm của Công ty Cổ phần sữa Việt Nam.
công nghiệp phát triển cao (Mỹ, Nhật, Anh, Pháp,...), khái niệm sản phẩm hiện nay
thường được mở rộng. Theo giáo sư P.Kotler (Mỹ), ngoài hàng hoá và dịch vụ, sản
phẩm mua bán ở thị trường còn có thể bao gồm cả những tổ chức và cả những ý tưởng.
1.1.2 Phát triển sản phẩm
Phát triển sản phẩm là đưa ra các sản phẩm mới, là những sản phẩm mà lần đầu tiên
doanh nghiệp cung cấp ra thị trường mục tiêu. Sản phẩm đó không chỉ mới đối với doanh
nghiệp mà còn mới đối với các đối thủ trên thị trường. Cũng có thể sản phẩm đó chỉ mới
đối với doanh nghiệp mà không mới đối với các đối thủ trên thị trường (cũ người, mới
ta).
Sản phẩm mới là một yếu tố quan trọng trong sự phát triển và tồn tại của công ty. Do
liên tục phải đối mặt với thị trường cạnh tranh gay gắt, với nhu cầu thường xuyên
thay đổi của khách hàng và với những tiến bộ trong công nghệ nên một công ty phải có
chiến lược tung ra sản phẩm mới cũng như cải tiến những sản phẩm hiện tại để ổn định
doanh thu.
Việc phát triển và tung sản phẩm mới ra thị trường vốn vô cùng tốn kém và không
phải sản phẩm nào cũng có khả năng bám trụ được. Như Patrick Barwise và Sean
Meehan viết trong cuốn Simply Better: “Đổi mới chỉ vì lợi ích của sự đổi mới là vô
nghĩa, nhưng đổi mới không ngừng để cải thiện hiệu suất dựa trên những ích lợi chung là
yếu tố cần thiết để duy trì sự thành công trong kinh doanh”.
Nhà cung cấp có thể duy trì cảm giác thoải mái và hài lòng của khách hàng bằng
cách liên tục cải thiện sản phẩm, nâng cao chất lượng sản phẩm. Nhà cung cấp hãy đem
lại những điều mới lạ cho sản phẩm, để khách hàng cảm thấy thỏa mãn, thú vị và ngạc
nhiên.
Có nhiều cách để duy trì sự hài lòng của khách hàng mà không cần phải tạo ra một
sản phẩm hoàn toàn mới. Việc cải tiến, phát triển sản phẩm thường xuyên sẽ giúp sản
phẩm của bạn tốt hơn và giữ chân khách hàng lâu dài hơn nếu bạn tập trung vào những
điều thực sự có ý nghĩa với khách hàng .
Việc phát triển sản phẩm mới rất rủi ro và tốn kém nhưng đó là điều cần thiết để bù
ngừng đổi mới và hoàn thiện, trong đó phát triển sản phẩm mới là một yêu cầu tất yếu.
1.2 Các chiến lược phát triển sản phẩm
1.2.1.Bắt chước sản phẩm của đối thủ
Hướng bắt chước này thường được áp dụng phổ biến đối với các công ty nhỏ ở các
nước đang phát triển do sự hạn chế về lực tài chính và công nghệ. Bắt chước thường đối
với những sản phẩm mới của đối thủ đang được bán chạy trên thị trường với mức lợi
nhuận hấp dẫn. Bắt chước sản phẩm của đối thủ có thể tiến hành theo hai cách sau:
a) Bắt trước nguyên mẫu sản phẩm của đối thủ
Theo cách này, doanh nghiệp giữ nguyên hiện trạng sản phẩm của đối thủ, không có
5
sự sửa đổi nào.
b) Bắt chước có đổi mới (sao chép thông minh)
Theo các này, doanh nghiệp bắt chước ý tưởng, những chức năng chung về cấu trúc
sản phẩm và đổi mới một số chi tiết cụ thể.
1.2.2.Cải tiến sản phẩm sẵn có
Việc cải tiến sản phẩm sẵn có có đặc điểm là dựa trên sản phẩm hiện hữu của doanh
nghiệp, từ các kết quả của hoạt động nghiên cứu thị trường, doanh nghiệp thực hiện
những cải tiến nhỏ cho thỏa mãn hơn với nhu cầu khách hàng, hoặc nâng cao khả năng
cạnh tranh cho sản phẩm của doanh nghiệp hơn so với đối thủ cạnh tranh.
Do cải tiến từ các sản phẩm hiện hữu nên các cải tiến thường là đơn giản, hoặc cải
tiến nhỏ, có thể kế thừa nhiều từ bản thiết kế của sản phẩm hiện hữu, quá trình cải tiến
cũng có thể dựa trên hệ thống dây chuyền hiện tại, cũng có thể kế thừa phần lớn nguyên
vật liệu, hoặc các bán thành phẩm có sẵn.
Tuy nhiên, doanh nghiệp cần lưu ý, việc cải tiến sản phẩm hiện hữu cần phải nghiên
cứu kỹ, lập luận chứng kinh tế, kỹ thuật vì trong nhiều trường hợp việc cải tiến không
mang lại hiệu quả hoặc đạt được kỳ vọng như dự tính ban đầu của doanh nghiệp.
1.2.3.Sáng chế sản phẩm mới hoàn toàn
a) Vai trò của sáng chế sản phẩm mới hoàn toàn
Sản phẩm nào cũng có chu kỳ sống riêng của nó và chu kỳ sống này có ảnh hưởng tất
yếu đến sự sống còn của cả một doanh nghiệp.Chu kỳ sống của một sản phẩm có thể được
chia làm bốn (4) giai đoạn với các đặc điểm sau:
- Giai đoạn giới thiệu sản phẩm ra thị trường
- Giai đoạn phát triển
- Giai đoạn bão hòa
- Giai đoạn suy thoái
Doanh số và lợinhuận theo chu kỳ sống của sản phẩm
1.3.2 Phân tích các giai đoạn của sản phẩm và các chiến lược marketing theo từng
giai đoạn
Giai đoạn giới thiệu sản phẩm ra thị trường: đây là thời kỳ sản phẩm mới được đưa
ra bán trên thị trường, khách hàng chưa biết về sản phẩm, mức tiêu thụ tăng chậm và do
phải chi phí nhiều nên doanh nghiệp không có lãi.
Từ những đặc điểm và mục tiêu marketing, doanh nghiệp sẽ xác lập và lựa chọn
chiến lược giới thiệu sản phẩm thích hợp như:
- Chiến lược hớt váng sữa nhanh: Đưa sản phẩm ra bán với mức giá cao, đồng thời
xúc tiến mạnh nhằm thuyết phục thị trường về lợi ích của sản phẩm.
- Chiến lược hớt váng từ từ: Đưa sản phẩm ra bán ngay từ đầu với mức giá cao nhưng
với hoạt động xúc tiến yếu. Giá cao và chi phí marketing thấp sẽ mang lại lợi nhuận cao
ngay từ đầu.
- Chiến lược thâm nhập nhanh: Đưa sản phẩm ra bán ngay từ đầu với mức giá thấp,
nhưng vẫn đầu tư nhiều cho các hoạt đồng xúc tiến. Chiến lược này có thể giúp doanh
7
nghiệp chiếm được thị trường lớn trong thời gian ngắn. Doanh nghiệp có thể chịu thua lỗ
hoặc không có lợi nhuận trong giai đoạn này.
- Chiến lược thâm nhập từ từ: Đưa sản phẩm ra bán trên thị trường ra bán với mức
giá thấp và với mức chi phí xúc tiến thấp. Giá thấp và chi phí thấp sẽ bảo đảm mức lãi cho
bởi khách hàng hiện tại bằng các cánh:
+ Cải tiến chất lượng nhằm hoàn thiện các chức năng của sản phẩm như độ bền, độ
tin cậy, tốc độ…với điều kiện: chất lượng sản phẩm được có thể được cải tiến thực sự;
8
thông tin về cải tiến chất lượng có độ tin cậy đối với khách hàng; đa số người mua nhận
cảm được về chất lượng tốt hơn.
+ Bổ sung những đặc tính mới như: tăng tính linh hoạt khi sử dụng, độ an toàn và
tiện lợi của sản phẩm. Điều kiện áp dụng: Tạo cho doanh nghiệp hình ảnh người dẫn đầu
luôn đổi mới; sử dụng linh hoạt; doanh nghiệp có lợi thế trên một số đoạn thị trường;
quảng cáo không mất tiền; kích thích nhiệt tình của nhừng người phân phối và đại diện
bán.
+ Tìm kiếm mẫu mã mới: làm tăng sức hấp dẫn về hình thức của sản phẩm như thay
đổi kiểu dáng hay bao gói.
- Thay đổi marketing hỗn hợp: Doanh nghiệp chủ động thay đổi một hay một vài biến
số của marketing hỗn hợp nhằm tăng lượng bán. Những hướng thay đổi chính có thể là:
+ Giảm giá nếu điều này thu hút được khách hàng mới hay người tiêu dùng nhạy cảm
với giá giảm
+ Phát triển kênh phân phối mới
+ Xem xét thay đổi nội dung và phương thức quảng cáo
+ Đẩy mạnh hoạt động khuyến mãi với nhiều hình thức mới
+ Tìm kiếm phương thức bán hàng trực tiếp
+ Bổ sung thêm những dịch vụ hấp dẫn khách hàng
Giai đoạn suy thoái: Giai đoạn suy thoái xuất hiện khi lượng bán sụt giảm, hàng hóa
ứ đọng trong các kênh phân phối, nhiều doanh nghiệp trong ngành bị thu lỗ, một số doanh
nghiệp nhỏ bắt đầu rút lui khỏi thị trường. Chiến lược marketing cho giai đoạn suy thoái
có thể theo những hướng chủ yếu sau:
- Chuyển hướng khai thác thị trường, cũng cố vị trí cạnh tranh chọn lọc
- Duy trì mức đầu tư hiện tại khi vẫn còn những khách hàng trung thành
bì. Thông qua các yếu tố này công ty có thể giúp khách hàng phân biệt được sản phẩm của
mình với sản phẩm cạnh tranh. Khách hàng cũng căn cứ vào các yếu tố của cấp độ này để
lựa chọn trong các sản phẩm cùng loại (tức là các sản phẩm mang lại cùng lợi ích cơ bản).
c) Cấp độ 3 - sản phẩm bổ sung (nâng cao)
Cấp độ này bao gồm các yếu tố dịch vụ khách hàng (customer service), và cao hơn
nữa là chăm sóc khách hàng (customer care) nhằm giúp cho khách hàng tiện lợi hơn, hài
lòng hơn. Đó là các dịch vụ như bảo hành, sửa chữa, hình thức thanh toán, giao hàng tại
nhà, lắp đặt, huấn luyện cũng như thái độ thân thiện, cởi mở, nhiệt tình, thân thiện. Cấp độ
này chính là vũ khí cạnh tranh của công ty. Các dịch vụ của lớp này sẽ ngày càng phong
phú cùng với mức độ cạnh tranh trên thị trường. Cạnh tranh hiện nay không phải là cạnh
tranh về những cái mà công ty làm ra tại nhà máy của mình, mà về những cái làm cho sản
phẩm hoàn chỉnh như bao gói, dịch vụ khách hàng (phương thức thanh toán, giao hàng, tư
vấn, bảo hành, sửa chữa...)
1.3.3.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến chiến lược sản phẩm
Đánh giá các nguồn lực hiện tại và tiềm năng của doanh nghiệp
- Khả năng tài chính
- Khả năng sử dụng nguyên vật liệu
- Nhà xưởng và thiết bị
- Nhân lực hoạt động sản xuất
- Quản lý
- Các kỹ năng về máy móc và kỹ thuật
- Các bằng độc quyền sáng chế
Các phương phát đáp ứng các thị trường hiện tại
- Các sản phẩm tương tự
- Các thay đổi theo chủng loại, kích thước, bao gói của sản phẩm hiện có
10
- Những sản phẩm mới thay thế hay bổ sung cho những sản phẩm hiện có
- Loại bỏ sản phẩm
được xuất khẩu sang 40 quốc gia, vùng lãnh thổ như Mỹ, Pháp, Canada, Ba Lan, Đức,
khu vực Trung Đông, Đông Nam Á...
Tầm nhìn: trở thành biểu tượng mang tầm vóc Thế Giới trong lĩnh vực thực phẩm và
thức uống, nơi mà tất cả mọi người đặt trọn niềm tin vào sản phẩm an toàn và dinh dưỡng.
11
Sứ mệnh: Mang đến cho cộng đồng nguồn dinh dưỡng giá trị nhất bằng tất cả sự trân
trọng, tình yêu và có trách nhiệm với cuộc sống.
Giá trị cốt lõi: CHÍNH TRỰC – TÔN TRỌNG – CÔNG BẰNG – TUÂN THỦ- ĐẠO
ĐỨC.
2.1.2 Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh đến năm 2015
2.1.2.1 Báo cáo hoạt động kinh doanh
Theo số liệu được Vinamilk công bố trong báo cáo thường niên năm 2015, từ năm
2005 đến năm 2015, công ty luôn có sự tăng trưởng ổ định về quy mô tổng tài sản và
doanh thu (mức tăng trưởng bình quân từ năm 2005 – 2015 là 22%). Năm 2015, tổng
doanh thu đạt 40.223 tỷ đồng, lợi nhuận sau thuế đạt 7.770 tỷ đồng
2.1.2.2 Sản phẩm
Vinamilk hiện có trên 200 sản phẩm bao gồm: sản phẩm chủ lực là sữa nước và sữa
bột; sản phẩm có giá trị cộng thêm như sữa đặc, yoghurt ăn và yoghurt uống, kem và pho
mát. Vinamilk cung cấp cho thị trường một danh mục các sản phẩm, hương vị và qui cách
bao bì có nhiều lựa chọn nhất.
Các sản phẩm hiện có:
- Sữa đặc (Ông Thọ, Ngôi sao Phương Nam)
- Sữa bột (Dielac), Ridielac ...dành cho trẻ em, bà mẹ và người lớn tuổi.
- Bột dinh dưỡng.
- Sữa tươi, đặc biệt là Công ty đầu tiên đưa ra thị trường sản phẩm SỮA TƯƠI
100% rất được ưa chuộng.
- Kem, sữa chua (Sữa chua ăn, Sữa chua uống, Sữa chua men sống - PROBI), Phô–
người lớn và sữa tươi cho trẻ em. Trong mỗi loại sản phẩm lại được phân nhỏ tiếp thành
các loại không đường, có đường, hoặc được bổ sung thêm hương vị. Tổng cộng công ty
có 15 loại sản phẩm sữa tươi cho người lớn. Đó là 1 con số khá ấn tượng cho 1 dòng sản
phẩm trong rất nhiều dòng sản phẩm khác nhau của công ty.
Với số lượng sản phẩm nhiều như thế, công ty có thể thoả mãn được nhu cầu của hầu
hết các độ tuổi, hầu hết các loại khẩu vị. Hơn nữa, nếu có ai đó thấy ngại vị béo và ngậy
của sữa, Vinamilk cũng có những lựa chọn về hương vị rất phong phú, đủ làm hài lòng
những khẩu vị cơ bản của người tiêu dùng. Đó là vị dâu và vị sôcôla, không đường và có
đường. Cách điều chỉnh này làm Vinamilk có thể đáp ứng được nhiều nhất có thể những
nhu cầu của khách hàng, qua đó mở rộng được thị trường, có thêm khách hàng, từ đó sẽ
có thêm doanh thu.
13
Đặc biệt, Vinamilk là doanh nghiệp tiên phong trong việc đóng sữa thành những bịch
fino (sữa túi). Xét trong điều kiện cụ thể tại Việt Nam, doanh nghiệp được 2 điểm lợi.
Thứ nhất, chi phí cho bao bì túi rẻ hơn so vơi bao bì hộp, giúp giảm giá thành sản xuất.
Thứ hai, điều quan trọng là đã giảm được giá bán sữa cho người tiêu dung so với bao bì
hộp. Điều này là rất quan trọng vì mặt bằng giá bán sữa ở Việt Nam còn cao so với thu
nhập của người dân, việc giảm được giá bán mà chất lượng không đổi là 1 thành công. Nó
vừa góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh cho công ty, mặt khác nó cũng bước đầu đem
sản phẩm sữa mang thương hiệu Vinamilk thâm nhập tới những khách hàng thu nhập
trung bình có nhu cầu sử dụng các sản phẩm sữa có chất lượng.
Đây thực sự là 1 lựa chọn thông minh, kinh tế của những bà nội trợ Việt, vừa có thể
đáp ứng nhu cầu sử dụng của gia đình, vừa tiết kiệm. Vì thế, loại sản phẩm sữa đóng bịch
fino là 1 thành công trong chính sách sản phẩm của Vinamilk, nhất là so với đối thủ cạnh
tranh trực tiếp là Dutch Lady.
Với nhiều chủng loại sản phẩm,Vinamilk thực sự đã đáp ứng đầy đủ nhu cầu tiêu dùng
của khách hàng và góp phần phân tán rủi ro cho công ty. Sản phẩm này không có được
doanh số cao như ý muốn thì đã có những sản phẩm khác thay thế hoặc hỗ trợ.
2.2.2 Những vấn đề cần lưu ý khi phát triển sản phẩm mới tại Vinamilk
2.2.2.1 Vấn đề nguồn nguyên liệu đầu vào
Trong năm 2006 và 2007, một loạt doanh nghiệp kinh doanh sữa tại Việt Nam rơi vào
vụ việc cung cấp sữa hoàn nguyên mà lại ghi trên nhãn là sữa tươi, trong đó có Vinamilk.
Sự khác biệt cơ bản giữa sữa hoàn nguyên và sữa tươi nguyên chất như sau: Sữa tươi
nguyên chất là sản phẩm được chế biến từ 100% nguyên liệu sữa bò tươi. Sữa hoàn
nguyên là sản phẩm được chế biến từ sữa bột được bổ sung nước.
Trong thực tế, các doanh nghiệp được lợi rất nhiều trong việc dùng sữa hoàn nguyên để
chế biến vì những lý do sau đây:
Thứ nhất, doanh nghiệp không phải tốn chi phí nào trong việc đầu tư, trang bị hệ thống
bảo quản khi thu mua sữa tươi, đào tạo, huấn luyện con người,… tốn kém rất rất nhiều chi
phí.
Thứ hai, nhanh chóng, tiện lợi dễ sản xuất chỉ cần mua sữa bột về pha chế, chi phí cho
sữa bột cũng thấp hơn chi phí cho việc thu mua sữa tươi
Vì một lí do nào đó, có lẽ là do lợi nhuận, các doanh nghiệp đã bỏ rơi chất lượng để
chạy theo lợi nhuận. Sự cố vỡ lở đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín và doanh thu
của Vinamilk. Điều đó đòi hỏi công ty phải quyết tâm hơn nữa trong khâu mở rộng vùng
nguyên liệu sữa tươi trong quá trình sản xuất sản phẩm của mình. Tuy nhiên, việc đầu tư
vào vùng nguyên liệu sữa tươi cũng sẽ gặp những trở ngại nhất định về vốn và công
nghệ,...
2.2.2.2 Vấn đề dinh dưỡng của sản phẩm
Hàng triệu người Việt Nam, người lớn, trẻ em đang tiêu dùng sữa tươi của nhà sản xuất
trong nước, ai ai cũng đinh ninh rằng, uống sữa tươi, họ sẽ nhận được các chất dinh
dưỡng cần thiết cho cơ thể: như chất béo, các khoáng chất, canxi, sắt, potassium, vitamin
A, B… có từ sữa bò tươi nguyên chất.
Nhưng nào họ có biết, có tới 78% lượng sữa nước sản xuất tại Việt Nam (theo Cục
Chăn nuôi) được làm từ bột sữa gầy (skim milk powder) hay còn gọi là sữa hoàn nguyên
(Recombined milk products) nhập khẩu. Loại sữa bột này đã bị tách chất béo, đường và
các phụ gia.
Đáng lẽ, để bổ sung chất béo AFM (anhydrous milk fat) từ sữa bò nguyên chất vào sản
Là quốc gia đông dân với mức tăng trưởng dân số cao, khoảng 1,2%/năm, Việt Nam
được đánh giá là thị trường tiềm năng cho các hãng sản xuất sữa. Với tỷ lệ tăng trưởng
GDP 6-8%/năm, thu nhập bình quân đầu người tăng 14,2%/năm cùng với xu hướng cải
thiện sức khỏe và tầm vóc của người Việt khiến nhu cầu sử dụng các loại sữa và các sản
phẩm từ sữa luôn ở mức cao.
Theo dự báo của Hiệp hội Sữa Việt Nam (VDA), lượng sữa tiêu thụ bình quân đầu
người tại Việt Nam vào năm 2010 đạt 15 lít/năm và sẽ tăng gần gấp đôi, lên mức 28
lít/năm vào năm 2020.
Hãng Nghiên cứu Thị trường Euromonitor International cho biết, trong năm 2014,
doanh thu ngành sữa Việt Nam đạt 75.000 nghìn tỷ đồng, tăng 20% so với năm 2013 và
dự báo sẽ tăng lên mức 92.000 tỷ đồng trong năm 2015, tăng 23% so với năm 2014. Trong
16
đó, tăng trưởng doanh thu ngành sữa chủ yếu đến từ mảng sữa bột và sữa nước, các sản
phẩm của hai mảng này chiếm 74% tổng giá trị thị trường. Tuy nhiên, điều đáng lưu tâm
là năng lực sản xuất sữa và các sản phẩm từ sữa trong nước được dự báo sẽ không theo kịp
nhu cầu tiêu thụ, đặc biệt là trong lĩnh vực sản xuất sữa tươi. Tồn tại lớn nhất của ngành
sữa Việt Nam là thiếu nguyên liệu sữa tươi. Lượng sữa tươi nguyên liệu trong nước chỉ
đáp ứng được 30% nhu cầu sử dụng. Trong khi đó, chất lượng sữa thấp, không ổn định do
nguồn cung chủ yếu từ các hộ chăn nuôi nhỏ, năng suất thấp.
Theo Quy hoạch phát triển ngành Công nghiệp chế biến sữa Việt Nam đến năm 2020,
tầm nhìn đến năm 2025, sản lượng sữa tươi sản xuất trong nước sẽ đạt 660 triệu lít, đáp
ứng 35% nhu cầu tới năm 2015, 1 tỷ lít đáp ứng 38% nhu cầu tới năm 2020 và 1,4 tỷ lít
đáp ứng 40% nhu cầu tới năm 2025. Trên thực tế, từ trước đến nay, 70% sữa nước được
sản xuất tại Việt Nam là từ sữa hoàn nguyên. Trong khi đó, nhu cầu về sữa tiệt trùng và
sữa thanh trùng (sữa nước, sản xuất từ sữa tươi) ngày càng tăng cao do thay đổi nhận thức
của người tiêu dùng đối với các sản phẩm bổ dưỡng hơn. Bên cạnh đó, mức tiêu thụ các
sản phẩm khác được sản xuất từ sữa tươi ở mức tốt, đặc biệt là sữa chua cũng đẩy nhu cầu
về sữa tươi lên cao.
Vinamilk đã rất thành công trong các chiến lược sản phẩm của mình. Các chiến lược
đưa ra đều dựa trên nhu cầu thực tế của thị trường nên có hiệu quả tức thì. Thêm vào đó
ngân sách chi cho quảng cáo, giới thiệu sản phẩm mới rất lớn tạo điều kiện thuận lợi cho
việc đưa thông tin tới người dùng. Chất lượng sản phẩm vinamilk cũng rất được chú trọng
và đã tạo được lòng tin với khách hàng. Bao gói Vinamilk đơn giản nhưng đầy đủ và đẹp
mắt nên cũng gây được sự sự chú ý của đông đảo người tiêu dùng.
Cùng với sự phát triển, đổi mới của đất nước, tính tới nay Công ty cổ phần sữa Việt
Nam Vinamilk đã thành lập được gần 40 năm. Dấu ấn sâu đậm nhất của chặng đường này
chính là đã tạo dựng được một thương hiệu Vinamilk không chỉ mang tầm quốc gia, mà
còn vươn ra thị trường thế giới.
18
Công ty đã đưa ra những chiến lược kinh doanh của riêng mình, phù hợp với tiềm lực
của mình và thị trường hướng tới. Trong đó, chiến lược marketing của công ty đã khá
thành công. Điều đó được phản ánh rõ qua con số doanh thu mà mỗi năm công ty thu về.
Mong rằng công ty Vinamilk sẽ có những thay đổi về chiến lược kinh doanh cũng như
chiến lược marketing sao cho phù hợp nhất, đưa công ty ngày càng phát triển.