BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
PHÀN THANH HOA
SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TẦNG LỚP
TRÍ THỨC NHO HỌC TRONG XÃ HỘI ĐẠI VIỆT
THẾ KỶ XI - XV
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
SƠN LA, NĂM 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
PHÀN THANH HOA
SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TẦNG LỚP
TRÍ THỨC NHO HỌC TRONG XÃ HỘI ĐẠI VIỆT
THẾ KỶ XI - XV
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Người hướng dẫn: ThS. Trần Thị Phượng
SƠN LA, NĂM 2016
1.1. Sự hình thành và thay thế của các triều đại trong xã hội Đại Việt thế kỷ
XI - XV ....................................................................................................... 7
1.2. Tình hình chính trị .......................................................................................... 8
1.3. Tình hình kinh tế .......................................................................................... 11
1.4. Tình hình văn hóa - giáo dục........................................................................ 14
Tiểu kết chương 1................................................................................................ 19
CHƯƠNG 2: SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TẦNG LỚP TRÍ
THỨC NHO HỌC TRONG XÃ HỘI ĐẠI VIỆT THẾ KỶ XI - XV ........... 20
2.1. Sự ra đời và phát triển của tầng lớp trí thức nho học thay thế cho trí thức tôn
giáo (từ thế kỉ XI đến nửa đầu thế kỉ XIV) ......................................................... 20
2.2. Cuộc đấu tranh giữa tầng lớp trí thức Nho học và quan lại quý tộc, quá trình
mở đầu cho xu thế quan liêu hóa (cuối thế kỉ XIV - nửa đầu thế kỉ XV)................. 25
2.3. Sự thắng thế của tầng lớp trí thức Nho học trong xã hội Đại Việt (nửa sau
thế kỉ XV) ............................................................................................................ 31
Tiểu kết chương 2................................................................................................ 39
CHƯƠNG 3: VAI TRÒ CỦA TẦNG LỚP TRÍ THỨC NHO HỌC TRONG
XÃ HỘI ĐẠI VIỆT THẾ KỶ XI - XV ............................................................ 40
3.1. Trong lĩnh vực kinh tế .................................................................................. 40
3.2. Trong lĩnh vực chính trị - xã hội .................................................................. 43
3.3. Trong lĩnh vực văn hóa - giáo dục ............................................................... 51
Tiểu kết chương 3................................................................................................ 57
KẾT LUẬN ........................................................................................................ 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................ 60
PHỤ LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
lớp trí thức tôn giáo trước kia vươn lên nắm phần hồn của xã hội và có vai trò
quyết định đến sự tồn tại, phát triển của Đại Việt các thế kỉ về sau.
Thế nhưng cho đến nay chưa có công trình khoa học nào đề cập đến vấn
đề này một cách hoàn chỉnh, hệ thống. Vì vậy việc lựa chọn vấn đề “Sự hình
thành và phát triển của tầng lớp trí thức Nho học trong xã hội Đại Việt thế kỷ
XI - XV” làm đề tài nghiên cứu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn sau:
Về khoa học
+ Làm sáng tỏ quá trình hình thành, phát triển, vai trò của tầng lớp trí thức
Nho giáo đối với xã hội Đại Việt thế kỉ XI - XV
+ Làm rõ những biến đổi về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của Đại
Việt trong giai đoạn từ thế kỉ XI đến thế kỉ XV.
+ Làm cơ sở lí luận cho việc nghiên cứu cấu trúc xã hội Việt Nam thời
trung đại, đặc biệt dưới các vương triều Lý, Trần, Hồ, Lê sơ.
+ Đặt nền móng cho việc nghiên cứu nền giáo dục nước nhà qua các thời
kì lịch sử.
Về thực tiễn
+ Kết quả nghiên cứu sẽ trở thành nguồn tư liệu để giảng dạy, học tập
trong các trường Đại học, Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp, các trường
Phổ thông.
+ Bổ sung nguồn tài liệu cho việc nghiên cứu làm đề tài, khóa luận
chuyên sâu về Lịch sử Việt Nam cổ trung đại.
+ Trong quá trình học tập sinh viên có thể sử dụng làm tài liệu học tập để
nghiên cứu về giáo dục Việt Nam qua các thời kì.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Sự hình thành, phát triển và vai trò của tầng lớp trí thức Nho học đối với
sự phát triển của xã hội Đại Việt đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà
nghiên cứu. Cho tới nay, ở mỗi góc độ, khía cạnh khác nhau đã có nhiều công
trình nghiên cứu về vấn đề này, trong đó có thể kể đến một số công trình quan
trọng sau:
Quốc triều hình luật (Luật hình triều Lê) của Nxb Tư Pháp, Hà Nội, 2013
là bộ luật chính thống và quan trọng nhất của nhà Lê đã khái quát tình hình Đại
3
Việt thời Lê sơ, quy định cụ thể về vị trí vai trò của tầng lớp trí thức Nho học
thông qua đó cho chúng ta thấy được sự phát triển cũng như thế lực của bộ phận
này trong xã hội Đại Việt thế kỷ XV cũng như đặc quyền đặc lợi của bộ phận
quan liêu được hưởng.
Tất cả các công trình trên là nguồn tư liệu tham khảo quý báu để tôi thực
hiện việc nghiên cứu của mình.
3. Đối tượng, phạm vi, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Đối tượng
Tầng lớp trí thức Nho học trong xã hội Đại Việt thế kỷ XI - XV.
3.2. Phạm vi đề tài
- Giới hạn thời gian: Với đề tài “Sự hình thành và phát triển của tầng lớp
trí thức Nho giáo trong xã hội Đại Việt thế kỷ XI đến XV” được giới hạn trong
phạm vi thời gian cụ thể, rõ ràng từ thế kỷ XI - XV.
- Giới hạn không gian: Với đề tài “Sự hình thành và phát triển của tầng
lớp trí thức Nho giáo trong xã hội Đại Việt từ thế kỷ XI - XV” được giới hạn
trong phạm vi không gian toàn bộ lãnh thổ Đại Việt bao gồm vùng Bắc Bộ, Bắc
Trung Bộ, giáp đến đèo Hải Vân.
- Giới hạn về nội dung: Đề tài tập trung làm rõ sự hình thành, phát triển
và vai trò của tầng lớp trí thức Nho học trong xã hội Đại Việt thế kỷ XI - XV.
3.3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Làm rõ sự hình thành và phát triển của tầng lớp trí thức Nho học trong thế
kỷ XI - XV đặc biệt là vai trò của tầng lớp trí thức Nho học trong xã hội Đại
Việt thời kỳ này.
4. Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu
4.1. Phương pháp nghiên cứu
thời kì lịch sử.
Thứ tư, kết quả nghiên cứu sẽ trở thành nguồn tư liệu để giảng dạy, học
tập trong các trường Đại học, Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp, các trường
Phổ thông.
Thứ năm, bổ sung nguồn tài liệu cho việc nghiên cứu làm đề tài, khóa
luận chuyên sâu về Lịch sử Việt Nam cổ trung đại.
Thứ sáu, trong quá trình học tập sinh viên có thể sử dụng làm tài liệu học
tập để nghiên cứu về giáo dục Việt Nam qua các thời kì.
5
6. Bố cục đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài kiệu tham khảo, phụ lục khóa luận được
kết cấu làm 3 chương:
Chương 1: Bối cảnh Đại Việt thế kỷ XI - XV
Chương 2: Sự hình thành và phát triển của tầng lớp trí thức Nho học
trong xã hội Đại Việt thế kỷ XI - XV
Chương 3: Vai trò của tầng lớp trí thức Nho học trong xã hội Đại Việt thế
kỷ XI - XV
6
CHƯƠNG 1
BỐI CẢNH ĐẠI VIỆT THẾ KỶ XI - XV
1.1. Sự hình thành và thay thế của các triều đại trong xã hội Đại Việt thế kỷ
XI - XV
Thế kỷ XI - XV, Đại Việt trải qua bốn triều đại Lý, Trần, Hồ, Lê sơ. Mỗi
triều đại đều thay nhau ra sức xây dựng một đất nước cường thịnh, nhân dân no
ấm là cơ sở vững chắc để sẵn sàng đấu tranh chống lại sự xâm lược của nước
của toàn dân đối với phó với âm mưu xâm lược của nhà Minh. Tuy nhiên, cuộc
cải cách này không khắc phục được khủng hoảng kinh tế xã hội cuối triều Trần.
Năm 1400, Hồ Quý Ly đã chính thức lên ngôi vua chấm dứt sự tồn tại của nhà
Trần. Trong hoàn cảnh Đại Việt bị nhà Minh xâm lược, nhà Hồ đã không đủ sức
lãnh đạo nhân dân đánh giặc khiến cho nước ta rơi vào thời thuộc Minh đen tối
trong 20 năm.
Trước yêu cầu bức thiết của lịch sử, trước nguyện vọng giành độc lập tha
thiết của toàn thể dân tộc, người anh hùng Lê Lợi và nghĩa quân của cuộc khởi
nghĩa Lam Sơn đã làm nên chiến thắng vang dội quét sạch giặc Minh ra khỏi bờ
cõi. Năm 1428, Lê Lợi đã chính thức lên ngôi vua lập nên vương triều nhà Lê sơ
đóng góp to lớn cho sự phát triển lịch sử Đại Việt. Đặc biệt dưới thời vị vua anh
minh Lê Thánh Tông chế độ phong kiến Đại Việt hoàn chỉnh nhất đạt mức độ
điển hình. Đất nước hòa bình giàu mạnh như câu thơ của nhân dân đã miêu tả:
Thời vua Thái Tổ, Thái Tông
Thóc lúa đầy đồng trâu chẳng buồn ăn.
Lê Thánh Tông là vị vua ở ngôi lâu nhất trong lịch sử với 38 năm trị vì
ông đã tiến hành một cuộc cải cách toàn diện xây dựng nhà nước phong kiến
quan liêu tập quyền cao độ. Cuộc cải cách để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý
báu cho các triều đại sau đó cũng như trong công cuộc đổi mới của nước ta hiện nay.
1.2. Tình hình chính trị
Tất cả các triều đại ở Việt Nam đều mong muốn xây dựng một nhà nước
quân chủ tập quyền. Và để thực hiện mục tiêu đó mỗi vương triều lại thi hành
những chính sách khác nhau.
Ngay sau khi thành lập, năm 1010, Lý Thái Tổ rời đô từ Hoa Lư về
Thăng Long và bắt tay vào xây dựng tổ chức bộ máy nhà nước từ trung ương
8
đến địa phương. Các cơ quan, các chức quan ngày càng được hoàn thiện. Với
mong muốn thiết lập chế độ quân chủ chuyên chế nhà Lý đã sử dụng Nho giáo
Nhà Hồ được thành lập đã tiếp tục sự nghiệp của nhà Trần xây dựng một
thể chế chính trị mạnh mẽ, tập trung quyền lực vào chính quyền trung ương,
củng cố nhà nước thống nhất. Hồ Quý Ly đã nâng cao hệ tư tưởng Nho giáo,
thiết lập thể chế quân chủ trung ương tập quyền. Hồ Quý Ly hạn chế Phật giáo:
“Năm 1396, tháng Giêng xuống chiếu sa thải các tăng đạo chưa đến 50 tuổi trở
lên, bắt phải hoàn tục” [18,Tr.93]. Nhà Hồ cũng áp dụng thể chế chính trị lưỡng
đầu chế như nhà Trần song ảnh hưởng của Thái Thượng Hoàng Hồ Quý Ly
mạnh mẽ hơn. Việc tuyển chọn quan lại chủ yếu dựa vào năng lực thực tế chứ
không phải vì nguồn gốc xuất thân như trước đây.
Hồ Quý Ly đã tiến hành một cuộc cải cách tiến bộ nhưng trong hoàn cảnh
bị thế lực nhà Minh xâm lược thì cuộc cải cách đã không thực hiện được. Tuy
nhiên dù chỉ cầm quyền trong một thời gian ngắn (7 năm) nhưng chính Hồ Quý
Ly là người đầu tiên đã vận dụng triệt để những nguyên tắc trị nước cơ bản của
Nho giáo vào Việt Nam.
Với thắng lợi của nghĩa quân Lam Sơn, năm 1427, Lê Lợi lên ngôi, vương
triều Lê sơ được thành lập. Bộ máy nhà nước thời Lê sơ từ Lê Thái Tổ đến Lê
Nghi Dân (1428 - 1459) tương đối hoàn chỉnh, mức độ tập trung quyền lực đã
cao hơn. Tuy nhiên, để đáp ứng cho nhu cầu xây dựng và phát triển đất nước tập
quyền vững mạnh, củng cố quyền lực của mình, năm 1460, Lê Thánh Tông lên
ngôi đã tiến hành một cuộc cải cách hành chính từ trung ương đến địa phương,
từ dân sự đến quân sự, cả quan chế lẫn thể chế; đã thiết lập một thể chế chính trị
quân chủ chuyên chế phong kiến điển hình với quy mô và hoạt động có hiệu quả
của nhà Lê sơ. Lê Thánh Tông đã bãi bỏ một số cơ quan trung gian, nâng cao,
tập trung quyền lực nhà vua, củng cố hoàng triều Lê, xây dựng nên một bộ máy
nhà nước có hiệu lực, hạn chế đến mức thấp nhất sự phân quyền và sự lộng hành
của các công thần.
Trải qua khoảng thời gian dài từ khi thành lập đến khi Lê Thánh Tông tiến
hành cải cách là 32 năm các vị anh hùng có công với nhà nước phong kiến Đại
Việt đã dần mất đi theo thời gian do đó để phục vụ cho công cuộc xây dựng nhà
thành với vua, đất nước.
Do ruộng đất là tài sản quý giá, nguồn thu chủ yếu để duy trì sự tồn tại
của triều đình, xã hội nên các vua nhà Lý đều cố gắng tập trung ruộng đất vào
tay mình. Tuy nhiên, ở thời kỳ này triều đình chỉ nắm quyền chiếm hữu ruộng
11
đất còn quyền sở hữu thực tế thuộc về công xã. Nhà nước chỉ thu thuế thông qua
các công xã còn việc chia ruộng đất cày cấy lại do công xã thực hiện. Điều này
cho thấy nhà nước chỉ nắm ruộng đất về mặt hình thức, chưa nắm được quyền
quản lý ruộng đất thực sự.
Nhà Lý ban cấp ruộng đất cho quan lại cao cấp, những người có công
không phải họ vua rất ít chỉ có trường hợp của Lê Phụng Hiểu, “Năm 1028, vua
bằng lòng cho Phụng Hiểu lên núi cầm dao quăng một cái xa đến hơn mười
dặm, dao rơi xuống hương Đa Mi, vua lấy ruộng ấy ban cho. Tha thóc thuế cho
ruộng ném đao ấy. Và thể theo nguyện vọng của Lê Phụng Hiểu ruộng đó được
nhà vua ban cho làm thế nghiệp” [9,Tr.27]. Từ đó loại ruộng này được gọi là
ruộng thác đao. Như vậy thời kỳ này, ruộng đất tư nhân chủ yếu trong tay quý
tộc. Do đó tầng lớp trí thúc Nho học chưa có tiềm lực về kinh tế cũng như địa vị
xã hội.
Sang thời kì nhà Trần, Nhà nước cho phép mua bán ruộng đất công, dần
dần đã hình thành tầng lớp phổ biến trong xã hội là địa chủ thường (hay địa chủ
thứ dân) và tầng lớp tiểu nông tư hữu nhỏ. Tuy nhiên, sự bóc lột của tầng lớp địa
chủ không tạo nên địa vị thống trị, họ cũng chỉ được nhà nước coi là dân thường
như những tầng lớp lao động khác. Chỉ khi nào họ có học trở thành quan lại mới
được nhà nước coi trọng.
Để tạo cơ sở vững chắc cho vương triều, nhà Trần đã đưa ra chính sách
ban cấp thái ấp cho các quan văn: “Chế độ nhà Trần các vương hầu đều ở phủ
đệ ở hương của mình, khi chầu thì mới đến kinh sư, xong lại quay về. Như Trần
Quốc Tuấn ở Vạn Kiếp, Thủ Độ ở Quắc Hương, Quốc Chân ở Chí Linh đều thế
của nhân dân bỏ hoang, sung làm ruộng đất công. Nhà Lê cũng lệnh cho các địa
phương lập sổ ruộng và ban hành các chính sách về ruộng đất. Đặc biệt là chế độ
lộc điền được ban hành năm 1477 dưới thời vua Lê Thánh Tông. Lộc điền được
ban cấp theo thứ bậc từ các Hoàng Tử, Công chúa cho đến các quan chức từ
chánh nhất phẩm đến tòng tứ phẩm. Ruộng lộc được chia làm hai loại: Loại cấp
vĩnh viễn gọi là ruộng thế nghiệp, chủ yếu dành cho các vương hầu, công chúa;
loại cấp một lần gọi là ruộng ân tứ - ruộng này sau khi chết 3 năm phải trả lại
cho nhà nước. Chế độ lộc điền là một chế độ ban cấp ruộng đất đại quy mô thời
Lê. Với số ruộng được ban cấp cùng với số ruộng tư vốn có, tầng lớp quý tộc,
quan lại cao cấp thời Lê trở thành những đại địa chủ trong xã hội bấy giờ.
13
Nhà Lê sơ không căn cứ vào nguồn gốc xuất thân, đặc biệt là sau cải cách
Lê Thánh Tông những người có học, thi cử đỗ đạt ra làm quan (bộ phận trí thức
Nho học) đều được ban cấp ruộng đất và được phân chia ruộng đất khẩu phần
theo chế độ lộc điền và phép quân điền.
Thời Lê còn tồn tại ruộng đất công làng xã thuộc sở hữu tối cao của nhà
nước. Để thống nhất việc phân chia ruộng công trong phạm vi cả nước, cùng với
việc ban hành chính sách lộc điền, năm 1447, Lê Thánh Tông ban hành chính
sách quân điền. Theo phép quân điền, cứ 6 năm, ruộng công làng xã được chia
lại một lần cho các thành viên trong xã, bao gồm quan chức cấp thấp (từ ngũ
phẩm trở xuống), chức dịch của làng, quân lính, dân đinh, vợ các quan, phụ nữ
góa chồng, trẻ mồ côi. “Bậc cao nhất là quan tam phẩm được 11 phần (nếu
chưa được cấp ruộng lộc), tứ phẩm 10 phần, ngũ phẩm 9,5 phần cho đến hạng
lão được 3.5 phần, trẻ mồ côi, người tàn phế được 3 phần” [21,Tr.159]. Các
quan phủ, huyện có nhiệm vụ phối hợp với các xã trưởng, già làng đo đạc ruộng
đất, tính số người được chia và thực hiện việc quân điền. Phép quân điền vừa
giúp cho người nông dân có mảnh đất cày cấy sinh sống, trên cơ sở đó họ tương
đối yên tâm sản xuất, nền kinh tế tiểu nông được phục hồi và phát triển. Đồng
1070, vua Lý Thánh Tông cho dựng nhà Khổng miếu tiền thân của Văn Miếu
sau này ở phía Nam kinh thành, đắp tượng Khổng Tử, Chu Công và Tứ Phối đã
đánh dấu dòng văn hóa Nho học chính thức xâm nhập vào Đại Việt. Tuy nhiên
với những nguyên lý cơ bản của phép trị nước Nho giáo chỉ ảnh hưởng đến tầng
lớp trên và rất mờ nhạt ở các làng xã.
Nhà Trần, do đạo Phật chiếm vị trí độc tôn là quốc giáo nên ảnh hưởng,
chi phối đến mọi mặt đời sống xã hội. Thời kỳ đầu nhà Trần thực hiện chế độ
hôn nhân nội tộc, quan lại đều phải là người trong tôn thất. Năm vị vua đầu nhà
Trần chịu ảnh sâu sắc của Phật giáo như: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông,
Trần Nhân Tông, Trần Anh Tông, Trần Minh Tông. Nhiều công trình kiến trúc
Phật giáo được xây dựng, đặc biệt không thể không nhắc tới vua Trần Nhân
Tông vị vua thứ ba của nhà Trần đã lập ra Thiền phái trúc lâm Yên Tử và trở
thành Phật hoàng Trần Nhân Tông.
Càng về sau do yêu cầu xây dựng phát triển nhà nước phong kiến tập
quyền vững mạnh nhà Trần đã nhận thấy cần phải mở cửa để thu hút nhân tài
15
góp sức xây dựng đất nước do đó Phật giáo tuy vẫn tồn tại nhưng không còn vị
trí độc tôn như trước nữa, nhường chỗ cho sự lên ngôi bước đầu của Nho giáo
với tư cách là một học thuyết trị nước và vai trò ngày càng lớn của giới trí thức
Nho học. Nếu những vị vua đầu triều Trần chịu ảnh hưởng sâu sắc của
Phật giáo, thì 6 vị vua cuối thời Trần lại chịu ảnh hưởng sâu sắc của Nho giáo,
lấy Nho Giáo làm nguồn tuyển chọn quan lại trong cả nước thay thế chế độ đơn
tộc trước kia.
Sau khi lên thay thế nhà Trần, để khắc phục khủng hoảng kinh tế, chính
trị xã hội cuối triều Trần, Hồ Quý Ly đã tiến hành một cuộc cải cách trên mọi
lĩnh vực. Trong lĩnh vực văn hóa Hồ Quý Ly muốn đưa Nho giáo trở thành quốc
giáo bằng nhiều biện pháp: Đưa ra nhiều chính sách hạn chế Phật giáo, không
ưu đãi tăng ni và phát triển chùa triền như thời Trần mà còn có những biện pháp
học để lựa chọn nhân tài mà các triều đại trước chưa thực hiện được.“Năm 1075,
Lý Nhân Tông xuống chiếu tuyển Minh kinh bác học và thi Nho học tam trường.
Lê Văn Thịnh trúng tuyển cho vào hầu vua học” [21,Tr.48]. Việc mở khoa thi
Nho học đầu tiên đánh dấu việc nhà Lý chính thức tuyển người theo Nho giáo
làm quan bên cạnh tầng lớp quan lại thiên về kiến thức Phật giáo trước đó.
Tiếp nối nhà Lý, vương triều Trần sau khi thành lập cũng tổ chức rất
nhiều kỳ thi Nho học đặt ra lệ Tam khôi. Tuy nhiên ở thời nhà Lý cũng như nhà
Trần quan lại được tuyển chọn chủ yếu thông qua nhiệm tử, tập ấm là chủ yếu.
Bên cạnh hệ thống trường do nhà nước thành lập còn xuất hiện các trường học
tư, tuy nhiên số lượng chưa nhiều. Thời kỳ này có hai dạng lớp học: Một là
những người biết chữ nhưng đi thi không đỗ đạt, mở lớp dạy học để kiếm sống
hoặc tầng lớp quan lại hoặc những người đã đỗ đạt vì nhiều lý do đã về nhà
(nghỉ hưu, sa thải, từ quan) mở lớp dạy học cho con em mình hoặc những người
thân thích. Có thể kể đến như thầy giáo Chu Văn An. Ông đỗ Thái học sinh (tức
tiến sĩ) nhưng không ra làm quan mà mở trương dạy học ở quê nhà, học trò theo
học rất đông, trong đó có nhiều người thành đạt làm quan to trong triều như
Nhập nội Hành khiển Phạm Sư Mạnh, Trạng nguyên Lê Quát. Chu Văn An là
một nhà giáo tài đức trọn vẹn, có đóng góp to lớn cho đất nước và đạo học.
Dạng trường học thứ hai là các trường học tồn tại trong các chùa do do các nhà
sư giảng dạy truyền đạt cả những kiến thức về Phật giáo và Nho giáo.
17
Vương triều Hồ cũng rất quan tâm đến giáo dục, năm 1400, Hồ Quý Ly tổ
chức kỳ thi đầu tiên, tháng 7 năm 1405, Hồ Hán Thương tổ chức kỳ thi Bộ Lễ.
Nhà Hồ tuy chỉ tồn tại được 7 năm nhưng đã tổ chức được hai kỳ thi lấy gần 200
người trong đó có một trạng nguyên. Bên cạnh đó, để bổ sung đội ngũ quan liêu
cho bộ máy chính quyền, nhà Hồ trọng dụng lấy quan lại đã thi đỗ từ các triều
đại trước, điều này cho thấy nhà Hồ rất coi trọng bộ phận trí thức Nho học. Đặc
đó Nho giáo chiếm hữu những vị trí ngày càng quan trọng trong xã hội và càng
về sau bộ phận trí thức Nho học càng khẳng định được vị trí, vai trò của mình
trong xã hội Đại Việt.
19
CHƯƠNG 2
SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TẦNG LỚP TRÍ THỨC NHO
HỌC TRONG XÃ HỘI ĐẠI VIỆT THẾ KỶ XI - XV
2.1. Sự ra đời và phát triển của tầng lớp trí thức nho học thay thế cho trí
thức tôn giáo (từ thế kỉ XI đến nửa đầu thế kỉ XIV)
Trong suốt thế kỉ X với sự lần lượt thay thế của 5 chính quyền: Khúc,
Dương, Ngô, Đinh, Tiền Lê thì Đại Việt đã có những bước phát triển nhất định.
Song trong thời kì này khoa cử vẫn chưa xuất hiện, bộ phận duy nhất trong xã
hội biết đọc, biết viết đó chính là tầng lớp trí thức tôn giáo (trí thức Phật giáo).
Hơn thế nữa, quan lại trong bộ máy nhà nước chủ yếu là các tướng lĩnh quân sự
những người có công trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, các hào
trưởng địa phương, rồi hệ thống đạo sĩ, sư tăng: tăng thống, tăng lục… được
tham dự triều chính với tư cách là cố vấn cao cấp không hề thông qua thi cử chủ
yếu theo chế độ nhiệm tử. Hay nói cách khác, thế kỉ X chưa hề có sự xuất hiện
của tầng lớp trí thức Nho học.
Vương triều mở đầu cho quá trình tham chính của tầng lớp quan liêu
trong xã hội Đại Việt thời trung đại đó chính là nhà Lý. Đến nhà Lý (1009 1226) bên cạnh Phật giáo được coi là quốc giáo, bên cạnh Đạo giáo đang rất phổ
biến, nhà Lý đã chính thức thừa nhận và tiếp thu một hệ tư tưởng đã được coi là
chính thống ở Trung Quốc từ nhiều thế kỉ trước chính là Nho giáo.
“Năm 1070, nhà Lý cho dựng Văn Miếu, đúc tượng Chu Công, Khổng Tử,
năm 1076 nhà Lý lập ra Quốc Tử Giám - nơi dạy cho con vua và con em hàng
ngũ quý tộc, quan lại” [21,Tr.110].
Với sự kiện này, Nho giáo chính thức du nhập vào triều đình. Tất nhiên