Pháp luật về phòng chống tham nhũng của singapore và bài học cho việt nam - Pdf 38

Pháp luật về phòng chống tham nhũng của
Singapore và bài ho ̣c cho Viê ̣t Nam
Lã Văn Huy
Khoa Luật
Luận văn Thạc sĩ ngành: Luâ ̣t quố c tế ; Mã số: 60 38 60
Người hướng dẫn: PGS.TS. Nguyễn Bá Diế n
Năm bảo vệ: 2013
Abstract: Làm rõ cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý về tham nhũng, lý giải nguyên nhân phát
sinh và hâ ̣u quả của tham nhũng . Phân tích các quy đinh
̣ phòng , chố ng pháp luâ ̣t của
Singapore và Viê ̣t Nam , tìm ra những điểm phù hợp với Việt Nam . Đánh giá thực trạng
tham nhũng ở Viê ̣t Nam , viê ̣c triể n khai thực thi Luâ ̣t phòng , chố ng tham nhũng . Bằng
những lập luận, phân tích khoa học, đề xuất quan điểm, giải pháp hoàn thiện pháp luật,
nâng cao hiệu quả phòng chống tham nhũng ở Việt Nam.
Keywords: Luật Quốc tế; Chống tham nhũng; Pháp luật Singapore; Pháp luật Việt Nam
Content
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tham nhũng là mô ̣t hiê ̣n tươ ̣ng có tính li ̣ ch sử , đang là vấ n đề của hầ u hế t các nước trên thế
giới. Ngoài việc gây thiệt hại về vật chất , tham nhũng còn gây ra sự bấ t bình trong nhân dân , tạo
nên sự bấ t công trong xã hô ̣i , làm giảm lòng tin của nhân dân đối với chí nh phủ . Từ đó , tham
nhũng ảnh hưởng lớn về mọi mặt: chính trị, kinh tế , xã hội và cả sự phát triển của đất nước đó.
Mô ̣t đấ t nước với tình tra ̣ng tham nhũng lâu ngày không giải quyế t sẽ dẫn đế n sự mấ t lòng
tin của dân chúng vào bô ̣ máy lañ h đa ̣o , đây là mô ̣t điề u hế t sức nguy hiể m cho sự tồ n vong của
mỗi quố c gia. Trong thời đa ̣i toàn cầ u hóa hiê ̣n nay , mô ̣t đấ t nước muố n đứng vững trên sân chơi
quố c tế , đứng vững trước sự chố ng phá từ bên ngoài thì bắ t buô ̣c đấ t nước ấ y phải có mô ̣t nô ̣i lực
mạnh mẽ và nội lực ấy phải bắt nguồn từ một bộ máy chính trị trong sạch từ trung ương đến địa
phương. Đã đế n lúc, chúng ta phải nỗ lực hết sức để phòng chống tham nhũng nhằ m làm cho hê ̣
thố ng chính tri ̣thêm vững ma ̣nh . Do tính chất thời sự của chủ đề nghiên cứu, nhiều nhà nghiên
cứu, học viên cao học , sinh viên đã tiếp cận nghiên cứu lĩnh vực phòng chố ng tham nhũng . Tuy
nhiên, nghiên cứu vấn đề để rút kinh nghiê ̣m cu ̣ thể có thể áp du ̣ng cho Viê ̣t Nam thì hầu như vẫn

- Phương pháp luận nghiên cứu khoa học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ
nghĩa Mác - Lênin.
- Phương pháp bình luận, diễn giải được sử dụng trong Chương 1 của luận văn khi nghiên
cứu cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý về tham nhũng.
- Phương pháp so sánh luật học, phương pháp đánh giá, phương pháp phân tích được sử
dụng ở Chương 2 của luận văn khi nghiên cứu về Luâ ̣t chố ng tham nhũng Singapore và bài ho ̣c
kinh nghiê ̣m cho Viê ̣t Nam.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp được sử dụng ở Chương 2 và Chương 3 của luận văn khi
xem xét, nghiên cứu các quy đinh
̣ c ụ thể về phòng , chố ng tham nhũng của Singapore và Viê ̣t
Nam, thông qua việc nghiên cứu thực trạng tham nhũng và cơ chế thực t hi Luâ ̣t phòng chố ng
tham nhũng ở Viê ̣t Nam.
4. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3
chương:


Chương 1: Những vấ n đề cơ bản về tham nhũng.
Chương 2: Luâ ̣t chố ng tham nhũng Singapore.
Chương 3: Pháp luật Việt Nam về phòng, chố ng tham nhũng và giải pháp đề xuấ t .
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THAM NHŨNG
1.1. Khái niệm tham nhũng
Theo nghĩa rộng, tham nhũng được hiểu là hành vi của bất kỳ người nào có chức vụ, quyền
hạn hoặc được giao nhiệm vụ, quyền hạn và lợi dụng chức vụ, quyền hạn, hoặc nhiệm vụ được
giao để vụ lợi. Theo Từ điển Tiếng Việt, tham nhũng là lợi dụng quyền hành để nhũng nhiễu
nhân dân lấy của.
Tài liệu hướng dẫn của Liên hợp quốc về cuộc đấu tranh quốc tế chống tham nhũng (năm
1969) định nghĩa tham nhũng trong một phạm vi hẹp, đó là sự lợi dụng quyền lực nhà nước để
trục lợi riêng...

vụ tồi trong bộ máy hành chính. Chúng ta nên nhớ rằng người ta hoàn toàn có thể tạo ra sự khan
hiếm dịch vụ hành chính nhằm tạo ra bổng lộc và phân phối lại bổng lộc thông qua tham nhũng.
Loại tham nhũng thứ hai là vi phạm các quy định của pháp luật, hoặc việc thực thi pháp
luật mang nặng tính thiên vị. Đây là tham nhũng trong bộ máy hành chính và là loại tham
nhũng được nói tới nhiều nhất - đại đa số những đóng góp về lý thuyết trong lĩnh vực này đều
bàn về tham nhũng trong bộ máy hành chính. Lý do là vì mỗi chủ thể kinh tế đều có những
động cơ và nhân tố khuyến khích rõ ràng, và mối quan hệ giữa chúng cũng rất rõ. Loại tham
nhũng này phù hợp với mô hình cấp trên-cấp dưới trong tham nhũng vì toàn bộ việc thực hiện
tham nhũng đều do các công chức gây ra (đòi hối lộ để vi phạm các quy định). Hậu quả trực
tiếp nghiêm trọng nhất của loại tham nhũng này là các đạo luật và chính sách của nhà nước
không được thực hiện một cách công bằng.
Hình thức thứ ba , đó là "bẻ cong pháp luật" - tham nhũng nhằm mục đích thay đổi các quy
định của pháp luật thành những quy định phục vụ cho quyền lợi của những kẻ tham nhũng. Khái
niệm bẻ cong luật pháp do Ngân hàng Thế giới đưa ra chủ yếu nhằm lý giải thực trạng đời sống
chính trị ở các nền kinh tế đang trong thời kỳ chuyển đổi. Giả định chính ở đây là các đạo luật và
chính sách của nhà nước chịu sự chi phối của một số ít người rất có có thế lực - đã hối lộ các đại
biểu quốc hội. Nói cách khác, các chính sách của nhà nước chắc chắn được ban hành để phục vụ
thiểu số những kẻ có thế lực chứ không phải nhân dân nói chung. Mặc dù hệ thống như vậy tồn
tại trên thực tế và loại tham nhũng này có thể lý giải một số nhân tố cơ bản trong chính sách
công ở nhiều quốc gia (chứ không chỉ riêng các quốc gia đang trong thời kỳ quá độ), song khái
niêm "bẻ cong luật pháp" vẫn thiếu tính rõ ràng về mặt phân tích. Vấn đề chính ở đây là ở tất cả
mọi quốc gia, các nhóm lợi ích có ảnh hưởng tới quá trình ra quyết định của các đại biểu quốc
hội. Việc ráo riết vận động hành lang là một hoạt động hoàn toàn hợp pháp và chính đáng ở
những nền dân chủ đã phát triển. Vấn đề chính mang tính phân tích trong khái niệm "bẻ cong
pháp luật" là phân định rạch ròi giữa vận động chính trị hợp pháp và "bẻ cong pháp luật" do
tham nhũng gây ra.
1.3. Những nguyên nhân cơ bản của tham nhũng
Cùng với sự phát triển của các hình thái nhà nước, đặc biệt là trong điều kiện phát triển kinh tế
thị trường, các quan hệ chính trị - kinh tế tạo ra những tiền đề khách quan quan trọng làm cho tham
nhũng phát triển. Lợi ích là yếu tố chủ quan dẫn đến tham nhũng. Khi còn điều kiện để lợi ích kết

Quy ước về chuẩn mực hành xử của cán bộ, viên chức nhà nước; cũng như các biện pháp bảo
đảm sự độc lập của ngành Tư pháp, tiêu chí tuyển chọn cán bộ, viên chức và đấu thầu công khai
các dự án, công trình; thúc đẩy tính minh bạch và truy cứu trách nhiệm trong việc quản lý tài
chính công cộng và khu vực tư nhân; mở rộng sự tham gia của các tầng lớp dân chúng trong xã
hội dân sự.
1.5.2. Luật Phòng, chống tham nhũng Viê ̣t Nam
Luâ ̣t gồm 8 chương, 92 điều được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa
XI, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005. Chủ tịch nước ký Lệnh công bố số
26/2005/L/CTN ngày 09 tháng 12 năm 2005 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 6 năm
2006; Luâ ̣t đã đươ ̣c sửa đổ i, bổ sung các năm 2007, 2009, 2012.
1.5.3. Luật chố ng tham nhũng Singapore
Luật chống tham nhũng của Singapore (Prevention Corruption Act) ban hành vào ngày
17/6/1960, Luật Phòng, chống tham nhũng năm 1960 đã được sửa đổi nhiều lần sau đó vào
những năm 1972 và 1981, Luật gồm 37 điều, được sắp xếp thành 6 chương:
Luật quy định những vấn đề cơ bản như: Khái niệm tiền tham nhũng, việc bổ nhiệm Chủ tịch
và nhân viên Cơ quan điều tra chống tham nhũng; các hình phạt áp dụng, thẩm quyền của Uỷ
viên Công tố trong việc điều tra chống tham nhũng… và các vấn đề khác nhằm đảm bảo cho việc
đấu tranh chống tham nhũng được tăng cường hiệu lực, hiệu quả cao hơn.
Chương 2


LUẬT CHỐNG THAM NHŨ NG SINGAPORE
VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM
2.1. Các quy định chung
Luật chống tham nhũng của Singapore (Prevention Corruption Act) ban hành vào ngày
17/6/1960, Luật chống tham nhũng năm 1960 đã được sửa đổi nhiều lần sau đó vào những năm
1972 và 1981, Luật gồm 37 điều, được sắp xếp thành 6 chương.
2.1.1. Khái niệm tiền tham nhũng
Về Luật chống tham nhũng của Singapore đã xây dựng một quy định thống nhất về khái
niệm "tiền tham nhũng", tạo một cơ sở pháp lý rõ ràng, tránh những nhầm lẫn, vướng mắc trong

người cung cấp thông tin.


Khi xét xử tội phạm tham nhũng, trong trường hợp Tòa án thấy có sự thật hoặc lời tố cáo chỉ
tin vào niềm tin nội tâm là có thật của người cung cấp thông tin, hoặc về mặt thủ tục tố tụng thấy
không bảo đảm cho công tác xét xử mà không có sự điều tra ban đầu đối với người cung cấp
thông tin thì Tòa án có thể yêu cầu để nguyên bản tố cáo gốc cho Tòa án và cho phép tiến hành
điều tra, xác minh thêm hay yêu cầu xuất trình các tài liệu liên quan đến người cung cấp thông
tin.
Việc truy tố các tội phạm tham nhũng ra trước Tòa án sơ thẩm có thẩm quyền để tiến hành
xét xử theo quy định của Luật chống tham nhũng chỉ được thực hiện khi có sự phê chuẩn của Uỷ
viên Công tố.
2.2. Nghiên cứu một số quy định Luật chống tham nhũng khác với Việt Nam
2.2.1. Cơ quan điều tra tham nhũng (CPIB)
Singapore không có Ban chỉ đạo trung ương về phòng chống tham nhũng như Việt Nam, thay
vào đó là một Cơ quan điều tra tham nhũng (CPIB) tách khỏi các cơ quan khác, trực thuộc Thủ
tướng Chính phủ, có quyền độc lập điều tra và ngăn chặn tham nhũng. Chính điều này sẽ giúp cho cơ
quan không bị chi phối trong hoạt động điều tra. Chức năng và nhiệm vụ của CPIB là tiếp nhận và
điều tra các tố giác về tham nhũng trong các cơ quan nhà nước và tư nhân (lĩnh vực công và tư nhân);
điều tra và làm rõ các hành vi vi phạm pháp luật và đạo đức nghề nghiệp trong các tổ chức của Nhà
nước; ngăn chặn và phòng ngừa tệ nạn tham nhũng bằng cách điều tra, xem xét quá trình và phương
thức hoạt động trong các cơ quan nhà nước nhằm hạn chế đến mức tối đa các điều kiện để tham
nhũng nảy sinh. CPIB hiện có 75 nhân viên, trong đó có 49 nhân viên điều tra (CPI officers) và 26
nhân viên phục vụ. Trong số các nhân viên điều tra, có cả Chủ tịch và 2 Phó chủ tịch CPIB, 5 trợ lý
Chủ tịch và 41 nhân viên điều tra chuyên nghiệp được sắp xếp theo các cấp bậc khác nhau. Những
người không làm nhiệm vụ điều tra gồm có 4 nhân viên tiếp nhận và xử lý thông tin, 22 nhân viên
văn phòng.
2.2.2. Quy định hình phạt
Thứ nhất, về hình phạt tiền. Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 của Việt Nam không quy
định các hình phạt khi có hành vi tham nhũng xảy ra. Do đó, khi xử phạt hành vi tham nhũng,

ô được quy định tại Điều 278 Bộ luật hình sự và tội danh hối lộ được quy định ở Điều 279 Bộ
luật hình sự.
2.2.3. Cơ chế bảo vệ người tố cáo tham nhũng
Cần cơ chế bảo vệ người tố cáo tham nhũng. Hiện nay, nhiều nước trên thế giới, trong đó có
Trung Quốc, tiến hành xem xét cả đơn thư tố cáo nặc danh để phát hiện tham nhũng. Trung Quốc
cho rằng, hiện nay pháp luật Trung Quốc chưa hoàn thiện, người tố cáo còn bị đe dọa, do đó cho
phép người tố cáo được giấu tên và chấp nhận thư nặc danh. Trong thực tế, Trung Quốc có
khoảng 60% đơn thư tố cáo là thư nặc danh và trong số đó có rất nhiều thông tin chính xác về
tham nhũng. Theo một tài liệu của Ủy ban Kiểm tra kỷ luật Trung Quốc thì những năm gần đây,
80% các vụ án lớn ở nước này được xử lý là do nhân dân tố cáo. Thái Lan cũng yêu cầu các cơ
quan chức năng phải xem xét tất cả các đơn thư tố giác của người dân về tham nhũng, dù có ký
tên hay không ký tên. Singapore cũng xem xét đơn thư tố giác không ghi tên người gửi, thậm chí
xem xét cả các cuộc điện thoại gọi tới.
2.3. Kinh nghiệm phòng, chống tham nhũng của Singapore
2.3.1. Đánh giá chung
Singapore được đánh giá là một trong những quốc gia có tỷ lệ tham nhũng thấp nhất thế giới
với hệ thống dịch vụ công trong sạch và hiệu quả. Năm 2010, Singapore được Tổ chức Minh
bạch quốc tế (TI) xếp hạng là 1 trong 3 quốc gia trong sạch nhất thế giới. Để có được thành quả
đó, Chính phủ Singapore thực thi nhiều biện pháp cứng rắn, đồng bộ, thường xuyên, liên tục để
loại trừ tham nhũng. Tham nhũng ở Singapore đã nằm trong vòng kiểm soát của khu vực nhà
nước và tư nhân.
Sự tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ và những thành tựu về mọi mặt mà đất nước Sinhgapo đã đạt
được có lẽ không cần phải nhắc lại. Các đánh giá dù ở góc độ nào cũng thống nhất ở một điểm
chung về tính hiệu quả của quản lý, sự nề nếp và đặc biệt là sự trong sạch, liêm chính của bộ
máy nhà nước, công chức nhà nước và ngay cả trong cung cách ứng xử trong các quan hệ xã hội
khiến cho Sinhgapo được coi là sạch cả nghĩa đen và nghĩa bóng. Vậy thì tại sao, Sinhgapo lại
chống tham nhũng có hiệu quả như vậy? Cần phải nhìn nhận thật toàn diện, khách quan về vấn
đề này.



lương bổng.
Tất cả những kinh nghiệm nói trên của người Sinhgapo thực ra không phải là điều gì quá
mới chúng ta, vấn đề là chúng ta có đủ quyết tâm và can đảm để làm được không khi mà tình
trạng tham nhũng hiện nay đã lan tràn, đe doạ sự tồn vong của chế độ và chống tham nhũng chắc
chắn sẽ đụng chạm đến lợi ích của không ít người và sẽ gây những sự bất ổn nhất định về mặt
kinh tế chính trị cũng như đến những quan niệm có tính chất truyền thống về mặt pháp luật.
2.3.2. Những kinh nghiệm cụ thể của Singapore
Qua nghiên cứu luâ ̣t chố ng tham nhũng Singapore cho thấ y những kinh nghiê ̣m như sau :
- Thường xuyên rà soát tăng cường hệ thống pháp luật phòng chống tham nhũng, thúc đẩy
công khai đối tượng vi phạm pháp luật.


- Tăng cường hệ thống luật pháp và chú trọng tăng cường mức độ hình phạt đối với hành vi
tham nhũng
- Các biện pháp hành chính phòng ngừa tham nhũng đi đôi với giáo dục
- Xây dựng cơ quan chống tham nhũng trong sạch, hiệu quả
- Luật pháp đủ mạnh
- Xét xử nghiêm minh
- Quản lý hành chính hiệu quả
- Xây dựng giải pháp "4 không với tham nhũng"
Đây là giải pháp tổng hợp các biên pháp nêu trên, là quốc gia có nền kinh tế phát triển hàng
đầu châu Á, Singapore đã thực hiện giải pháp "4 không với tham nhũng" có hiệu quả thực sự.
Những giải pháp "4 không với tham nhũng" bao gồm: Không dám tham nhũng - Không thể tham
nhũng - Không cần phải tham nhũng - Không được tham nhũng
2.3.3. Một số kinh nghiệm chống tham nhũng Singapore phù hợp với Việt Nam
Để đạt được thành công như Singapore, trên cơ sở kinh nghiê ̣m phòng , chố ng tham nhũng
thực tiễn của Singapore, Viê ̣t Nam nên sửa đổ i m ột số điều khoản trong Luật Phòng, chống tham
nhũng theo hướng:
- Thành lập một đơn vị phòng chống tham nhũng chuyên bi ệt, tự quản và ở mức độ nào đó
độc lập. Nếu có một đơn vị như vậy và họ được toàn quyền với những vụ án tham nhũng lớn,

- Đấu tranh chống tham nhũng phải gắn chặt với đổi mới kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống
của nhân dân, giữ vững ổn định chính trị, tăng cường đại đoàn kết toàn dân;
- Đấu tranh chống tham nhũng phải gắn liền và phục vụ cho đổi mới hệ thống chính trị, xây
dựng Đảng và kiện toàn, tăng cường đoàn kết nội bộ;
- Chống tham nhũng phải gắn liền với chống quan liêu, lãng phí;
- Đấu tranh chống tham nhũng phải kết hợp giữa xây, phòng và chống. Vừa tích cực phòng
ngừa, vừa xử lý nghiêm mọi hành vi tham nhũng;
- Đẩy mạnh phòng và chống tham nhũng một cách chủ động, huy động và phối hợp chặt chẽ
mọi lực lượng đấu tranh chống tham nhũng, thực hiện chống tham nhũng ở mọi cấp, mọi ngành;
- Đấu tranh chống tham nhũng là nhiệm vụ lâu dài, phải tiến hành kiên quyết, kiên trì và thận
trọng, không nóng vội, không chủ quan; phải có kế hoạch cụ thể, có bước đi vững chắc; sử dụng
nhiều biện pháp, trong đó lấy giáo dục làm cơ sở, lấy pháp chế làm đảm bảo.
3.1.2. Chiế n lược quố c gia về phòng, chố ng tham nhũng
Cụ thể hoá nghị quyết của Đảng, Chiến lược quốc gia về phòng, chống tham nhũng đến năm
2020 đã đề ra quan điểm về phòng, chống tham nhũng như sau:
- Phòng, chống tham nhũng là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng,
phát huy sức mạnh tổng hợp của các ngành, các cấp, nhấn mạnh trách nhiệm người đứng đầu các
cơ quan, tổ chức, đơn vị, đề cao vai trò của xã hội, các tổ chức, đoàn thể và quần chúng nhân dân.
- Phòng, chống tham nhũng là nhiệm vụ quan trọng, vừa cấp bách vừa lâu dài, xuyên suốt
quá trình phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong
thời kỳ mới.
- Sử dụng tổng thể các giải pháp phòng, chống tham nhũng; vừa tích cực, chủ động trong
phòng ngừa, vừa kiên quyết trong phát hiện, xử lý với những bước đi vững chắc, có trọng tâm,
trọng điểm, trong đó phòng ngừa là cơ bản, lâu dài; gắn phòng, chống tham nhũng với thực hành
tiết kiệm, chống quan liêu, lãng phí.
- Xây dựng lực lượng chuyên trách đủ mạnh, có phẩm chất chính trị, bản lĩnh, đạo đức nghề
nghiệp làm nòng cốt trong công tác phòng ngừa, phát hiện, xử lý tham nhũng theo hướng chuyên
môn hóa với các phương tiện, công cụ, kỹ năng phù hợp, bảo đảm vừa chuyên sâu, vừa bao quát
các lĩnh vực, các mặt của đời sống kinh tế - xã hội.
- Đặt quá trình phòng, chống tham nhũng trong điều kiện hội nhập, chủ động hợp tác hiệu

sự tiếp tục được hoàn thiện; hệ thống đo lường, giám sát tham nhũng được thiết lập.
+ Nâng cao nhận thức, vai trò của xã hội về tham nhũng, về chủ trương, chính sách của Đảng,
pháp luật của Nhà nước trong phòng, chống tham nhũng; thúc đẩy sự tham gia chủ động của các tổ
chức, đoàn thể xã hội, các phương tiện truyền thông và mọi công dân trong nỗ lực phòng, chống
tham nhũng; xây dựng văn hóa và tạo ra thói quen phòng, chống tham nhũng trong đời sống của
cán bộ, công chức và trong các tầng lớp nhân dân.
3.2. Quy đinh
̣ của Luâ ̣t phòng, chố ng tham nhũng Viêṭ Nam
Luật Phòng, chống tham nhũng gồm 8 chương, 92 điều được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005. Chủ tịch nước ký
Lệnh công bố số 26/2005/L/CTN ngày 09 tháng 12 năm 2005 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01
tháng 6 năm 2006. Luâ ̣t đã đươ ̣c sửa đổ i, bổ sung các năm 2007, 2009, 2012.
Những quy định chung: Hành vi tham nhũng theo Luật này gồm 3 yếu tố cơ bản là: Yếu tố
chức vụ, quyền hạn; yếu tố lợi dụng chức vụ, quyền hạn và yếu tố vụ lợi.
Các hành vi tham nhũng: Trên cơ sở khai niệm hành vi tham nhũng và khai niệm người có chức
vụ, quyền hạn, Điều 3 của Luật Phòng, chống tham nhũng quy định cụ thể 12 loại hành vi tham
nhũng, bao gồm: Tham ô tài sản; Nhận hối lộ; Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản; Lợi
dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi; Lạm quyền trong khi thi


hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi; Giả mạo trong công tác vì vụ lợi; Đưa hối lộ, môi giới hối lộ được
thực hiện bởi người có chức vụ, quyền hạn để giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc
địa phương vì vụ lợi; Lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tài sản của Nhà nước vì vụ lợi;
Nhũng nhiễu vì vụ lợi; Không thực hiện nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi; Lợi dụng chức vụ, quyền hạn
để bao che cho người có hành vi vi phạm pháp luật vì vụ lợi; cẳn trở, can thiệp trái pháp luật vào việc
kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án vì vụ lợi.
Phòng ngừa tham nhũng: Phòng ngừa tham nhũng được coi là yếu tố quan trọng, mang tính
chiến lược, quyết định hiệu quả đấu tranh chống tham nhũng. Luật Phòng, chống tham nhũng đã
quy định một hệ thống các biện pháp nhằm phòng ngừa tham nhũng và có thể coi đây là nội dung
quan trọng nhất của Luật bao gồ m các biê ̣n pháp đươ ̣c quy đinh

Công tác phòng, chống tham nhũng trong thời gian qua vẫn còn nhiều hạn chế, yếu kém, đó
là:
- Giữa quyết tâm chính trị và hành động thực tiễn còn khoảng cách đáng kể. Việc vận dụng
một số chủ trương, chính sách và áp dụng các quy định pháp luật về phòng, chống tham nhũng
chưa sát với tình hình thực hiện tiễn, thiếu sáng tạo. Một số cơ chế, chính sách, quy định chậm
được bổ sung, sửa đổi, dẫn đến lúng túng, hiệu quả thấp trong tổ chức thực hiện. Tính tiên


phong, gương mẫu của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu trong
phòng, chống tham nhũng còn yếu. Việc tự phát hiện hành vi tham nhũng ngay trong từng cơ
quan, tổ chức, đơn vị còn rất hạn chế. Cũng có ý kiến đánh giá số vụ việc, vụ án tham nhũng
được phát hiện và xử lý còn thấp, chưa tương xứng với tình hình. Một số vụ việc, vụ án tham
nhũng xử lý chậm, kéo dài, sự phối hợp chưa đồng bộ, thiếu nhất quán giữa các cơ quan tiến
hành tố tụng, việc thông tin chưa đầy đủ, kịp thời đã gây tâm lý hoài nghi trong nhân dân. Tình
trạng sách nhiễu của một bộ phận cán bộ, công chức chậm được khắc phục, gây bức xúc trong xã
hội. Tổ chức, hoạt động của các cơ quan, đơn vị chuyên trách về phòng, chống tham nhũng có
mặt chưa hợp lý, hiệu quả còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra.
3.3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả phòng, chố ng tham nhũng
Để nâng cao hiê ̣u quả phòng chố ng tham nhũng trên cơ sở những kinh nghiê ̣m thực tế từ
Singapore và thực tế triể n khai Luâ ̣t phòn g, chố ng tham nhũng ở Viê ̣t Nam , trước hế t cầ n tâ ̣p
trung vào các giải pháp sau:
Thứ nhấ t , tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối với công tác
phòng, chống tham nhũng.
Thứ hai, tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục, truyền thông về công tác phòng, chống
tham nhũng.
Thứ ba, tiếp tục khẩn trương bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách về quản lý kinh tế - xã
hội; đẩy mạnh cải cách hành chính, kiên quyết loại bỏ những cản trở về thể chế và thủ tục hành
chính tạo điều kiện cho sách nhiễu, tham nhũng.
Thứ tư, tiếp tục hoàn thiện thể chế và tăng cường năng lực thanh tra, kiểm tra, kiểm toán,
giám sát, điều tra, truy tố xét xử trong phát hiện, xử lý hành vi tham nhũng. Trước mắt cần tập

̣ trong đó Singap ore là mô ̣t điể n hình. Để từ đó , chúng ta có
cách áp dụng sao cho phù hợp với tình hình riêng của quốc gia mình.
Đề tài đươ ̣c thực hiê ̣n trong thời gia ngắ n do vâ ̣y không tránh khỏi thiế u sót và ha ̣n chế . Tác
giả rất mong n hâ ̣n đươ ̣c ý kiế n đóng góp từ quý thầ y cô và ba ̣n bè , đồ ng nghiê ̣p để hoàn thiê ̣n
thêm đề tài.
References
1.

Diên Anh (2006), "Hiện thực hóa Luật Phòng, chống tham nhũng", Khoa học pháp lý, (12).

2.

Chính phủ (2006), Nghị định số 107/2006/NĐ-CP ngày 22/8 quy định xử lý trách nhiệm của
người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khi để xảy ra tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn
vị do mình quản lý, phụ trách, Hà Nội.

3.

Chính phủ (2006), Nghị định số 120/2006/NĐ-CP ngày 20/10 quy định chi tiết và hướng dẫn
thi hành một số điều của luật phòng, chống tham nhũng, Hà Nội.

4.

Chính phủ (2005), Nghị định 136/2006/NĐ-CP ngày 14/11 quy định chi tiết và hướng dẫn
thi hành một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo và các Luật sửa đổi, bổ sung một số điều
của Luật Khiếu nại, tố cáo, Hà Nội.

5.

Chính phủ (2007), Báo cáo số 27/BC-CP ngày 14/3 về việc thực hiện luật phòng, chống tham

khóa IX, Hà Nội.
13. Đảng cộng sản Việt Nam (2005), Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới (Đại hội VI, VII,
VIII, IX), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính
trị quốc gia, Hà Nội.
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (2007), Văn kiện Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương
khóa X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội.
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (2012), Nghị quyết Trung ương 4 khoá XI về một số vấn đề cấp
bách về xây dựng Đảng hiện nay, Hà Nội.
18. Đảng Cộng sản Việt Nam (2012), Kế hoạch số 08-KH/TW ngày 12/3 của Bộ Chính trị về
việc tăng cường kiểm tra, giám sát việc thanh tra, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử các vụ
việc, vụ án tham nhũng, Hà Nội.


19. Nguyễn Đăng (2006), "Cần xác định thêm phạm vi điều chỉnh và chế địng kê khai tài sản
trong dự thảo Luật phòng, chống tham nhũng", Nghiên cứu lập pháp, (5).
20. Trương Khánh Hoàn (2002), "Thanh tra bộ, ngành cần quy về một mối", Nghiên cứu lập pháp,
(3).
21. Phạm Văn Hùng (2006), "Những vấn đề cơ bản của nghị quyết về tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn
và quy chế hoạt động của Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng", Nghiên cứu
lập pháp, (10).
22. Nguyễn Đình Đặng Lục (2006), "Những việc cần làm đồng bộ trong đấu tranh phòng chống
tham nhũng", Nghiên cứu lập pháp, (15).
23. Đinh Văn Minh (2006), Một số vấn đề về tệ nạn tham nhũng và những nội dung cơ bản của
Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
24. Lê Nết (2005), "Nên tham khảo kinh nghiệm của Singapore khi xây dựng Luật Phòng, chống
tham nhũng", Nghiên cứu lập pháp, (60).
25. Hoàng Phê (Chủ biên) (1997), Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, Đà Nẵng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status