Bài tập lớn học kì
Ngô Th
ị Sen
MỤC LỤC
Lời mở đầu......................................................................................................1
Nội dung..........................................................................................................3
1. VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI
NGOÀI HỢP ĐỒNG...................................................................................3
1.1 Khái niệm Trách nhiệm bồi thường thiệt hại (BTTH) ngoài hợp
đồng.........................................................................................................3
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại được đề cập rất sớm trong hệ thống
pháp luật nước ta, cụ thể tại BLDS năm 1995 đã đưa ra các qui định chi
tiết về trách nhiệm bồi thường thiệt hại, tiếp đó BLDS 2005 đã hoàn
thiện hơn nữa các qui định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài
hợp đồng..................................................................................................3
1.2 Điều kiện phát sinh trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng..................3
1.3 Nguyên tắc bồi thường thiệt hại .......................................................4
1.4 Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại ...............................5
2. TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO XÂM PHẠM MỒ
MẢ..............................................................................................................6
2.1 Khái niệm mồ mả và trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm
mồ mả......................................................................................................6
2.2 Các yếu tố xác định trách nhiệm bồi thường xâm phạm mồ mả ......6
3. MỘT SỐ THỰC TRẠNG LIÊN QUAN ĐẾN XÂM PHẠM MỒ MẢ.
...................................................................................................................12
4. MỘT SỐ VẤN ĐỀ VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN CÁC QUI
ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT DÂN SỰ VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG
THIỆT HẠI DO XÂM PHẠM MỒ MẢ...................................................13
4.1 Về khái niệm thế nào là mồ mả và xâm phạm................................13
4.2 Cần phân định rõ ràng trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm
phạm mồ mả trong những trường hợp cụ thể .......................................14
Lu
ậ
t Dân
Sự
Vi
ệ
t Nam
2
Bài tập lớn học kì
Ngô Th
ị Sen
Nội dung
1. VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT
HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG
1.1 Khái niệm Trách nhiệm bồi thường thiệt hại (BTTH) ngoài
hợp đồng
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại được đề cập rất sớm trong hệ thống
pháp luật nước ta, cụ thể tại BLDS năm 1995 đã đưa ra các qui định chi tiết
về trách nhiệm bồi thường thiệt hại, tiếp đó BLDS 2005 đã hoàn thiện hơn
nữa các qui định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Từ qui định tại Điều 604 BLDS 2005:
"1. Người nào do lỗi cố ý hoặc vô ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe,
danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của các
nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà
gây thiệt hại thì phải bồi thường.
2. Trong trường hợp pháp luật qui định người gây thiệt hại phải bồi
thường cả trong trường hợp không có lỗi thì áp dụng qui định đó."
Có thể hiểu trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một
loại trách nhiệm pháp lý được phát sinh dựa trên các điều kiện do pháp luật
qui định khi một chủ thể có hành vi gây thiệt hại cho các lợi ích được pháp
Theo Điều 605 BLDS 2005 thì việc bồi thường thiệt hại phải tuân
theo 3 nguyên tắc sau:
- Thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể
thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật
hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường nhiều lần hoặc một
lần, trừ trường hợp pháp luật có qui định khác.
Lu
ậ
t Dân
Sự
Vi
ệ
t Nam
4
Bài tập lớn học kì
Ngô Th
ị Sen
- Người gây thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường, nếu do lỗi vô
ý mà gây thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của
mình.
- Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì người bị thiệt
hại hoặc người gây thiệt hại có quyền yêu cầu tòa án hoặc cơ quan nhà nước
có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường.
1.4 Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại
Bất cứ chủ thể nào cũng có thể thực hiện hành vi gây thiệt hại, tuy
nhiên không phải bất cứ chủ thể nào khi gây thiệt hại cũng có khả năng thực
hiện việc bồi thường thiệt hại.
BLDS 2005 qui định về năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt
hại của cá nhân tại Điều 606 như sau:
- Người từ đủ 18 tuổi trở lên gây thiệt hại thì phải tự bồi thường,
nhân. Mồ mả của cá nhân gắn liền với nhân thân của người đó.
Bồi thường thiệt hại do xâm phạm mồ mả loại trách nhiệm đặc biệt
bởi lẽ thiệt hại xảy ra xâm phạm đến nhân thân của cá nhân và liên quan đến
đời sống tâm linh của gia đình người bị thiệt hại. Trách nhiệm bồi thường
thiệt hại do xâm phạm mồ mả: loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài
hợp đồng, phát sinh đối với người gây thiệt hại đối với mồ mả của cá nhân và
gia đình của người bị thiệt hại.
2.2 Các yếu tố xác định trách nhiệm bồi thường xâm phạm mồ mả
- Mồ mả là nơi mai táng thi thể hoặc hài cốt của cá nhân, theo đó mồ
mả là quyền nhân thân gắn liền vĩnh viễn với người chết, không thể chuyển
dịch hay thay đổi được cho người khác. Mồ mả cũng là quyền nhân thân của
Lu
ậ
t Dân
Sự
Vi
ệ
t Nam
6
Bài tập lớn học kì
Ngô Th
ị Sen
người thân thích, người trong dòng tộc của người có mồ mả đó. Tính chất
hai mặt của quyền nhân thân liên quan đến mồ mả, đây là điểm khác biệt so
với quyền nhân thân của người sống. Như vậy vấn đề dặt ra là phải làm rõ
tính chất hai mặt của quyền nhân thân này để xác định trách nhiệm dân sự
của người xâm phạm mồ mả.
- Hành vi xâm phạm mồ mả luôn luôn là hành vi trái pháp luật.
- Người được bồi thường thiệt hại là những người thân thích của cá
nhân có mồ mả bị xâm phạm.
chết (trừ trường hợp phải di rời mồ mả theo quyết định của cơ quan nhà
nước có thẩm quyền);
Thứ ba, người có hành vi thay đổi tấm bia ghi tên người chết có xác,
hài cốt, tro hài cốt dưới mộ gây ra sự nhầm lẫn với người thân thích của
người chết đó;
Thứ tư, người có hành vi san phẳng mồ mả của người chết, làm mất
dấu tích của ngôi mộ, khiến không thể phát hiện được vị trí của ngôi mộ đó.
Hành vi của người xâm phạm mồ mả có một trong các dấu hiệu trên là
căn cứ để xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm mồ mả.
Căn cứ vào một trong bốn dấu hiệu trên, người gây thiệt hại có trách nhiệm
bồi thường những chi phí hợp lý để hạn chế khắc phục thiệt hại. Khi xác
định hành vi xâm phạm mồ mả còn cần hiểu theo nghĩa rộng là hành vi xâm
phạm đến không gian (phạm vi), hình dáng, tường rào bao bọc xung quanh
ngôi mộ. Bởi vị trí ngôi mộ được xây dựng có mối liên hệ hữu cơ với mục
đích giữ gìn, bảo vệ xác, hài cốt, tro hài cốt của người có ngôi mộ đó, do vậy
mọi hành vi làm biến dạng kiến trúc liên quan đến mục đích bảo vệ người đã
chết được nguyên vẹn, đều bị coi là hành vi xâm phạm mồ mả.
Khi xác định hành vi xâm phạm mồ mả, cần phải phân biệt với những
Lu
ậ
t Dân
Sự
Vi
ệ
t Nam
8
Bài tập lớn học kì
Ngô Th
ị Sen
hành vi không bị coi là xâm phạm mồ mả nhưng thuộc trách nhiệm dân sự
t Nam
9
Bài tập lớn học kì
Ngô Th
ị Sen
không phải là tài sản, do vậy người xâm phạm mồ mả của người khác thì
ngoài trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tài sản là khoản chi phí hợp lý để
hạn chế khắc phục thiệt hại thực tế đã xảy ra trên nguyên tắc bồi thường toàn
bộ thiệt hại. Ngoài ra, người xâm phạm mồ mả còn phải bồi thường bồi đắp
tổn thất về tinh thần cho những người thân thích của cá nhân có mồ mả bị
xâm phạm. Vì hành vi xâm phạm mồ mả không những gây thiệt hại về phần
tài sản như đã xác định ở trên mà còn xâm phạm đến quyền nhân thân của cá
nhân có mồ mả đó đồng thời cũng gây ra những tổn thất về tinh thần đối với
những người thân thích của cá nhân có mồ mả bị xâm phạm. Nhận định này
được dựa trên những căn cứ sau:
+ Quyền nhân thân gắn liền với mồ mả của cá nhân được pháp
luật bảo vệ. Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân chấm dứt khi người đó
chết nhưng quyền nhân thân gắn liền với mồ mả của cá nhân được pháp luật
bảo đảm.
+ Những người thân thích của cá nhân có mồ mả bị xâm phạm
được xác định theo quy định của pháp luật dân sự là sự tổn thất về mặt tinh
thần. Về người thân thích của cá nhân có mồ mả bị xâm phạm có được coi là
tương tự như trong trường hợp thiệt hại do danh dự, uy tín, nhân phẩm bị
xâm phạm theo quy định tại Điều 611 Bộ luật dân sự không? Điều 611 Bộ
luật dân sự chỉ quy định thiệt hại cho người còn sống mà nhân phẩm, danh
dự, uy tín của người đó bị xâm phạm. Vấn đề đặt ra ở đây là những người
thân thích của cá nhân có mồ mả bị xâm phạm có được hưởng khoản tiền bồi
thường thiệt hại để bù đắp tổn thất về tinh thần do mồ mả của cá nhân là
người thân thích của họ bị xâm phạm không? Trong trường hợp mồ mả của
cá nhân do bị đào bới và bị làm tiêu hủy, giảm sút hài cốt dẫn đến tình trạng