BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
----------
HOÀNG THỊ HẢI CHÂU
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀI TRUYỀN THANH
CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG TRỊ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
MÃ SỐ: 60340410
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN TÀI PHÚC
HUẾ, 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và
chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào. Tôi cũng xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho
việc thực hiện luận văn đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn đã được chỉ rõ nguồn
gốc.
Huế, ngày tháng
năm 2016
Tác giả luận văn
Hoàng Thị Hải Châu
ii
TÓM LƯỢC LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC KINH TẾ
Họ và tên học viên: Hoàng Thị Hải Châu
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế; Niên khóa: 2014 - 2016
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Tài Phúc
Tên đề tài: Nâng cao chất lượng đài truyền thanh cơ sở trên địa bàn tỉnh
Quảng Trị.
1. Tính cấp thiết của đề tài
Từ lâu, hệ thống đài truyền thanh cơ sở là phương tiện tuyên truyền hữu hiệu
của địa phương, là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân; là công cụ trực tiếp
của Đảng, chính quyền địa phương trong công tác chỉ đạo, quản lý, điều hành để
phát triển kinh tế, xã hội. Đây là cơ quan thông tin, tuyên truyền để giúp nhân dân
nắm bắt các chủ trương, chính sách của cấp trên và cấp ủy, chính quyền địa phương.
Tuy nhiên, địa hình của tỉnh tương đối dốc và bị chia cắt bởi đồi núi, khí hậu nhiệt
đới ẩm gió mùa cộng với tác động của thời tiết mưa nắng thất thường, nhất là các xã
ven biển, ảnh hưởng của sự xâm nhập mặn làm cho các thiết bị của các đài truyền
thanh thường xuyên bị sét, gỉ, hỏng hóc. Đặc biệt, các xã ở vùng sâu, vùng xa thuộc
khu vực miền núi, trung du có địa hình núi cao thường xuyên bị chắn sóng, khuất
sóng, lõm sóng. Đồng thời, một số cụm dân cư sống phân tán rải rác cũng gặp
những khó khăn trong việc thu sóng phát thanh và truyền hình của tỉnh, huyện.
Chính vì vậy, “Nâng cao chất lượng đài truyền thanh cơ sở trên địa bàn tỉnh
Quảng Trị” là một yêu cầu cấp thiết.
2. Phương pháp nghiên cứu
2.1. Phương pháp điều tra thu thập số liệu
- Đối với số liệu thứ cấp:Số liệu thứ cấp thu thập từ các số liệu báo cáo tổng
kết đánh giá của của các đài truyền thanh huyện và đài truyền thanh xã; từ Sở Thông
QLNN
:
Quản lý nhà nước
TTCS
:
Truyền thanh cơ sở
UBND
:
Ủy ban nhân dân
BTTTT
:
Bộ Thông tin truyền thông
NĐ
:
Nghị định
viii
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Từ lâu, hệ thống đài truyền thanh cơ sở là phương tiện tuyên truyền hữu hiệu
của địa phương, là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân; là công cụ trực tiếp
của Đảng, chính quyền địa phương trong công tác chỉ đạo, quản lý, điều hành để
phát triển kinh tế, xã hội. Đây là cơ quan thông tin, tuyên truyền để giúp nhân dân
nắm bắt các chủ trương, chính sách của cấp trên và cấp ủy, chính quyền địa phương.
Tuy nhiên, địa hình của tỉnh tương đối dốc và bị chia cắt bởi đồi núi, khí hậu nhiệt
đới ẩm gió mùa cộng với tác động của thời tiết mưa nắng thất thường, nhất là các xã
ven biển, ảnh hưởng của sự xâm nhập mặn làm cho các thiết bị của các đài truyền
thanh thường xuyên bị sét, gỉ, hỏng hóc. Đặc biệt, các xã ở vùng sâu, vùng xa thuộc
khu vực miền núi, trung du có địa hình núi cao thường xuyên bị chắn sóng, khuất
sóng, lõm sóng. Đồng thời, một số cụm dân cư sống phân tán rải rác cũng gặp
những khó khăn trong việc thu sóng phát thanh và truyền hình của tỉnh, huyện.
Công tác đầu tư, xây dựng, nâng cấp trang thiết bị của hệ thống đài truyền
thanh cơ sở có nhiều hạn chế. Hoạt động của hệ thống này thời gian gần đây phát
sinh nhiều bất cập, có địa phương sử dụng đài truyền thanh phát sóng vô tuyến, có
địa phương sử dụng phát sóng hữu tuyến, không có sự thống nhất chung. Hầu hết,
trang thiết bị của các đài truyền thanh đã lạc hậu, máy phát có công suất nhỏ đã qua
sử dụng lâu năm nên bị xuống cấp trầm trọng. Đội ngũ cán bộ, nhân viên làm việc
tại các đài truyền thanh cơ sở chưa được quan tâm đúng mức, chưa được hưởng các
chế độ cần thiết.
Theo Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Trị đến năm
2020 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 321/QĐ-TTg ngày
2/3/2011, tỉnh Quảng Trị được xác định xây dựng sớm trở thành một trong những
trung tâm giao lưu, hợp tác phát triển với các địa phương trong nước và với các
nước trong tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng, là một trong những cửa ngõ hướng ra
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng
Hệ thống đài truyền thanh cơ sở, chất lượng đài truyền thanh cơ sở, các nhân tố ảnh
hưởng đến chất lượng đài truyền thanh cơ sở trên địa bàn tỉnh Quảng Trị.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
2
- Nội dung: Nghiên cứu lý luận và thực tiễn về các nhân tố tác động đến chất lượng
đài truyền thanh cơ sở
- Về không gian: Nghiên cứu được thực hiện tại địa bàn tỉnh Quảng Trị
- Về thời gian: Từ 2013 đến 2015 đối với số liệu thứ cấp. Số liệu sơ cấp được thu
thập trong quá trình điều tra khảo sát tại địa phương trong thời gian thực hiện đề tài.
4. Phương pháp nghiên cứu
4.1. Phương pháp thu thập số liệu
4.1.1. Số liệu thứ cấp
Số liệu thứ cấp thu thập từ các số liệu báo cáo tổng kết đánh giá của của các
đài truyền thanh huyện và đài truyền thanh xã; từ Sở Thông tin và Truyền thông,
Niên giám thống kê và các nguồn số liệu liên quan khác.
4.1.2. Số liệu sơ cấp
Các thông tin được thu thập thông qua việc phát phiếu điều tra và phỏng vấn
trực tiếp cán bộ xã và người dân tại 141 xã phường trên địa bàn tỉnh Quảng Trị và 10
đài truyền thanh huyện, thị, thành phố.
4.2. Các Phương pháp tổng hợp, xử lý số liệu và phân tích
- Phương phápTổng hợp, suy luận khoa học.
- Phương pháp phân tích thống kê
- Các Phương pháp phân tích định lượng và phân tích định tính
- Công cụ hỗ trợ: Toàn bộ số liệu điều tra được nhập và xử lý bằng phần mềm
Excel và SPSS 16.0
4.3. Các phương pháp khác: Phương pháp chuyên gia tham khảo, ....
Phần lớn các đài phát thanh AM có công suất máy phát lớn và tầm hoạt động
xa, song chất lượng loại phát thanh này thường bị ảnh hưởng bởi nhiễu tĩnh. Đài
FM phát sóng thẳng, hầu như không bị ảnh hưởng bởi nhiễu nên chất lượng tín hiệu
rất tốt. Tuy nhiên, đài FM có phạm vi phủ sóng nhỏ, nó chỉ thích hợp với các trung
tâm đô thị lớn, các khu vực đông dân.
* Khái niệm về truyền thanh
4
“Truyền thanh là phương thức truyền tải thông tin tiếng động, âm thanh qua
dây dẫn tín hiệu từ máy phát tổng đài đến các loa. Hệ thống truyền thanh được vận
hành bởi tập hợp các thiết bị đầu cuối từ thu âm, thu tín hiệu đầu vào sóng radio,
thiết bị khuếch đại tín hiệu âm thanh, hệ thống dây dẫn và các loa”. [16]
Đài truyền thanh được hiểu như đài chuyển tiếp tín hiệu truyền thanh, bao
gồm tập hợp các thiết bị thu sóng radio, tách sóng và khuếch đại tín hiệu âm thanh,
sau đó tiếp tục truyền tín hiệu âm thanh theo đường dây truyền thanh để thực hiện
việc chuyển tiếp chương trình phát thanh, chương trình truyền thanh địa phương.
Cùng với sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ, hiện nay hệ thống
truyền thanh đang được thay thế chuyển từ hình thức truyền dẫn tín hiệu bằng dây
dẫn kim loại (hữu tuyến) sang sử dụng phát sóng ngắn hệ FM có chất lượng tín hiệu
tốt, ít bị nhiễu tĩnh. Tuy nhiên, thuật ngữ truyền thanh vẫn được dùng để chỉ chung
cho hoạt động thu, tiếp, phát tín hiệu radio ở cấp huyện, thị, xã, phường, thị trấn.
1.1.2. Khái quát sự phát triển của hệ thống đài TTCS Việt Nam
Đài Tiếng nói Việt Nam được ra đời từ ngày 7/9/1945. Tuy nhiên, phải đến
năm 1956, với sự giúp đỡ của Liên Xô thời kỳ đó, chúng ta mới bắt đầu xây dựng
đựơc các đài phát thanh tỉnh. Đến những năm 60 của thế kỷ XX. Hệ thống đài
truyền thanh ở nước ta đã từng bước được tăng cường số lượng và nâng cao dần
chất lượng. Nhiệm vụ chính của các đài huyện trong giai đoạn này là tiếp phát sóng
đài Trung ương, đài tỉnh và tự xây dựng các bản tin, các chương trình phát thanh để
1.1.3. Đặc điểm về phát thanh, truyền thanh
So với truyền hình thì phát thanh thông tin nhanh hơn: Khi có một sự kiện mới
xảy ra, phát thanh chính là phương tiện để truyền tải thông tin một cách nhanh nhất
đến công chúng. Báo in bị giới hạn về diện tích trang báo, số câu chữ trong mỗi số
báo, thời gian in ấn. Báo hình (truyền hình) phải qua công đoạn quay, dựng, chỉnh
sửa thì mới ra được sản phẩm. Báo điện tử tuy nhanh hơn nhưng để cung cấp thông
tin và bạn đọc tiếp cận được thông tin đó cần có mạng Internet và thiết bị điện tử.
Trong khi đó, với các địa phương, kể cả nơi có điều kiện kinh tế, xã hội còn khó
khăn, phát thanh có thể tổng hợp và đưa tin ngay sau khi xảy ra sự kiện hoặc có thể
đưa tin trực tiếp khi mà chương trình, sự kiện đó vẫn đang xảy ra.
6
Độ phủ sóng rộng: So với truyền hình, phát thanh có độ phủ sóng rộng, dễ tiếp
nhận và có khả năng kích thích trí tưởng tượng. Cho đến nay, chưa có nước nào trên
thế giới, kể cả các nước phát triển nhanh như Mỹ, Anh, Pháp… từ bỏ phát thanh cả.
Có đối tượng thính giả rộng rãi: Không chỉ ở thành thị, nơi có các nguồn thông
tin phong phú và đa dạng mà ngay ở nông thôn, những nơi có trình độ dân trí chưa
cao, người dân vẫn hàng ngày gắn bó với các chương trình phát thanh và xem đó
như một người bạn thân thiết của họ. Những người không biết chữ, bị khuyết tật
(trừ thính giác) đều có thể nghe thông tin do phát thanh cung cấp. Những thông tin
họ nghe trên đài, loa phóng thanh không chỉ đơn giản là những mẩu tin về thời tiết,
thông tin có nội dung gần gũi, gắn bó với đời sống, sinh hoạt hàng ngày của họ mà
còn có nhiều thông tin quan trọng nhằm nâng cao nhận thức, hiểu biết của họ.
Truyền thanh cơ sở (TTCS) là tập hợp các thiết bị công nghệ và công cụ kỹ thuật
hiện đại để sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin qua tín hiệu
phát thanh.
Thông tin tín hiệu phát thanh là thông tin được tạo lập bằng phương pháp
dùng tín hiệu điều biên (AM - Amplitude Modulation) (đối hệ thống truyền thanh
thức, trình độ. Hiện nay, cần phải làm rõ chức năng thông tin không chỉ giới hạn
trong “tin tức thời sự”, mà phải mở rộng ra mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội,
giáo dục, văn hóa, đời sống, sản xuất, pháp luật…
Giải trí là một nhu cầu đặc biệt trong cuộc sống hiện đại với rất ít thời gian
nhàn rỗi và nghỉ ngơi. Nếu không quan tâm đầy đủ đến chức năng giải trí thì hiệu
quả tuyên truyền cũng sẽ rất hạn chế. Nội dung của giải trí trong lĩnh vực truyền
thanh không chỉ giới hạn ở “vùng ca nhạc”.
- Chức năng thứ ba, thực hiện nhiệm vụ kết nối trực tiếp giữa Đảng - chính
quyền với người dân: Xã hội càng phát triển, dân trí càng cao, ý thức và sự quan
tâm của người dân đối với xã hội, đối với những vấn đề nhạy cảm liên quan đến họ
và liên quan đến trách nhiệm của các cấp chính quyền cũng ngày càng nâng cao.
Thực hiện tốt chức năng kết nối sẽ đáp ứng được những yêu cầu của dân chủ hóa,
công khai hóa.
8
- Chức năng thứ tư, đài truyền thanh như là một công cụ điều hành trong hệ
thống điều hành xã hội. Điều này thể hiện rõ nét ở đài truyền thanh cơ sở, đặc biệt vào
những lúc cần xử lý các tình huống cấp bách như: dịch bệnh, thiên tai, xuất hiện các dư
luận bất thường… Cần xác định quan niệm như vậy để phát huy hết khả năng của đài
truyền thanh vì trên thực tế ngày càng có nhiều hệ thống điện tử được sử dụng như một
công cụ điều hành, ví dụ như mạng Internet, cầu truyền hình trực tiếp… ”.
Như vậy, trong bối cảnh mới, bên cạnh những chức năng truyền thống, đài
truyền thanh còn có thêm những chức năng và khả năng tương tác mới. Thông qua
việc thực hiện tốt các chức năng của mình, đài truyền thanh thể hiện vai trò của
mình đối với đời sống cộng đồng trong bối cảnh mới. [15]
1.2.2. Vai trò của hệ thống Đài TTCS
So với đài Trung ương và đài tỉnh, các đài TTCS có những ưu thế nổi bật là
thông tin sát thực, trực tiếp, cụ thể đến từng người dân trong địa bàn. Trong thực tế,
quả vào các hoạt động trên tất cả các mặt kinh tế, xã hội, văn hóa, quốc phòng. Nó
đã trở thành một kênh thông tin quan trọng, cùng với Đài Tiếng nói Việt Nam, các
đài khu vực, đài tỉnh, thành phố... làm tốt nhiệm vụ tuyên truyền, phổ biến đường
lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; đưa các Nghị quyết,
chính sách vào cuộc sống; góp phần nâng cao dân trí, bảo tồn và phát huy bản sắc
văn hóa dân tộc; góp phần xây dựng hệ thống chính trị, tăng cường dân chủ hóa
trong đời sống cơ sở; thực hiện chức năng làm cầu nối giữa Đảng, Nhà nước, các
đoàn thể xã hội với nhân dân; củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân vào sự
lãnh đạo của Đảng và Nhà nước...
10
Những người làm phát thanh Việt Nam hiện nay đang cố gắng nâng cao hiệu
quả của thông tin phát thanh trong đời sống xã hội, đảm bảo vai trò định hướng và
hướng dẫn dư luận xã hội; hoàn thiện và tăng thêm các hệ chương trình phát thanh;
chú trọng nâng cao chất lượng nội dung các hệ chương trình, vừa toàn diện vừa
chuyên sâu, đáp ứng nhu cầu thông tin của mọi đối tượng thính giả; tăng thời lượng,
nâng cao chất lượng nội dung chương trình để đáp ứng nhu cầu thông tin và mục
tiêu giáo dục cộng đồng, nhất là đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số… Trong xu
hướng chung của truyền thông, báo chí hiện đại là hội tụ tất cả các phương tiện biểu
đạt (lời nói, âm nhạc, tiếng động, hình ảnh, màu sắc, bố cục, giao diện trang
báo… ), phát thanh hiện đại ở Việt Nam không đứng ngoài cuộc và bước đầu đã tìm
được cách thích ứng hợp lý. [16]
1.3. Chất lượng đài truyền thanh cơ sở
1.3.1. Khái niệm chất lượng đài truyền thanh cơ sở
- Khái niệm chất lượng: Từ điển tiếng Việt định nghĩa “Chất lượng: cái tạo
nên phẩm chất, giá trị của một con người, một sự vật, sự việc”.
Thông thường, người ta cho rằng, chất lượng là sự phù hợp với mục đích sử
dụng, là đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Hiệp hội về chất lượng của Mỹ (ASQ) đã
càng được nâng cao phù hợp hơn với nhu cầu của người nghe.
Như vậy, các yếu tố cấu thành chất lượng truyền thanh cơ sở bao gồm nhiều
yếu tố, nhiều khía cạnh bao gồm có nguồn nhân lực, cơ sở vật chất, nội dung
chương trình, chất lượng phát sóng… Các yếu tố này có vai trò quan trọng trong
việc nâng cao chất lượng đài truyền thanh cơ sở. Để nâng cao chất lượng truyền
thanh cơ sở cần phải giải quyết tốt các yếu tố cấu thành trên. Và nhân tố con người
hay nhân tố nguồn nhân lực luôn đóng vai trò quan trọng nhất, nhân tố quyết định
để ngày càng nâng cao chất lượng đài truyền thanh cơ sở hiện nay.
1.3.2. Các yếu tố cấu thành chất lượng truyền thanh cơ sở
1.3.2.1. Nội dung chương trình
Nội dung chương trình là một yếu tố quan trọng trong việc cấu thành chất
lượng truyền thanh cơ sở. Nhìn chung, nội dung tại các Đài truyền thanh cơ sở đã có
những đóng góp tương đối tích cực trong việc đưa chủ trương, đường lối của Đảng,
chính sách, pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống. Qua hệ thống loa truyền thanh,
người dân được thông báo kịp thời về tình hình thiên tai, dịch bệnh, sâu rầy phá hoại
mùa màng, động viên mọi nguồn lực để xây dựng địa phương, vận động thanh niên
12
lên đường nhập ngũ, thực hiện kế hoạch hoá gia đình... Đặc biệt các đợt tuyên
truyền bầu cử Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, Đại hội Đảng bộ các cấp, Đài
truyền thanh cơ sở đã tuyên truyền sâu rộng và có hiệu quả.Khoảng 35% các đài tổ
chức sản xuất từ 01 - 02 chương trình của xã/tuần, thời lượng mỗi chương trình
khoảng 15 phút.
Tuy nhiên, do thực trạng về cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật và tổ chức
bộ máy của Đài truyền thanh cơ sở chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ, do vậy
hoạt động của các Đài truyền thanh cơ sở không đồng đều, phụ thuộc nhiều vào khả
năng của từng địa phương và còn bộc lộ nhiều tồn tại, hạn chế, hiệu quả hoạt động
chưa cao.
1.3.2.2. Kết cấu và thời lượng chương trình
không thể phát huy được tác dụng.
Hiện nay hầu hết các đài đều bố trí 1 cán bộ phụ trách cả nội dung và kỹ
thuật.Các xã, phường, thị trấn bố trí nhân lực phụ trách truyền thanh cơ sở là cán
bộ văn hóa xã hội, đoàn thanh niên, cựu chiến binh hoặc bảo vệ kiêm nhiệm, trong
khi đó, do yêu cầu nhiệm vụ nên thường xuyên thay đổi vị trí công tác dẫn tới
không ổn định, bất cập, thiếu kinh nghiệm và chuyên môn nghiệp vụ mặc dù hàng
năm, các Đài Truyền thanh – Truyền hình huyện, thành phố vẫn tổ chức tập huấn
cho cán bộ truyền thanh xã, phường, thị trấn. Hầu hết cán bộ làm công tác truyền
thanh cơ sở không được đào tạo đúng chuyên ngành, trình độ chủ yếu là tốt nghiệp
trung học phổ thông, bổ túc trung học phổ thông, một số có bằng trung cấp, cao
đẳng, đại học nhưng không đúng chuyên ngành báo chí, phát thanh – truyền hình.
Điều đó ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng truyền thanh.
1.3.3. Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng đài truyền thanh cơ sở
a) Chỉ tiêu phản ánh về cơ sở vật chất, thiết bị đài truyền thanh cơ sở
Cơ sở vật chất, trang thiết bị đài TTCS là tổng các yếu tố được tạo nên bởi
cơ sở hạ tầng (phòng máy, độ cách âm, cách nhiệt… đủ tiêu chuẩn tối thiểu), thiết
bị phát thanh (máy phát thanh, thiết bị tiếp sóng đài cấp trên…) và các thiết bị phụ
trợ (thiết bị sản xuất chương trình phát thanh, kết nối Internet, bàn ghế…).
Có các chỉ tiêu phản ánh như:
- Tốt (đầy đủ về hạ tầng, thiết bị phát thanh, thiết bị phụ trợ và các thiết bị
này đang còn hoạt động tốt)
14
- Trung bình (thiếu một trong 3 yếu tố trên và thiết bị chính (máy phát
thanh) hoạt động ở mức trung bình)
- Yếu (thiếu một trong 3 yếu tố trên và thiết bị chính (máy phát thanh) hoạt
động kém hoặc đã hư hỏng)
b) Chỉ tiêu phản ánh về nguồn nhân lực đài truyền thanh cơ sở
sóng phục thuộc vào công suất bức xạ, giản đồ hướng của Anten phát và ảnh hưởng
của địa hình đến sự lan truyền của sóng.
Là một trong những chỉ tiêu quan trọng nhất trong tiêu chí đánh giá chất
lượng của Đài TTCS, phạm vi phủ sóng đến người dân có được rộng khắp thì mức
độ tiếp nhận thông tin tuyên truyền đến với người dân càng nhiều.
1.3.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng
Cơ sở vật chất và
thiết bị
Nguồn nhân lực
Chất lượng Đài TTCS
Nội dung chương trình phát
thanh
Tỷ lệ phủ sóng phát thanh
Hình 1. 1. Mối quan hệ giữa các nhân tố ảnh hưởng đến chất hượng Đài TTCS
1.3.4.1. Về cơ sở vật chất và thiết bị
Cơ sở vật chất và thiết bị là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng Đài
TTCS; nếu không có hạ tầng (phòng máy) và thiết bị (máy phát sóng, thiết bị sản
xuất chương trình, hệ thống loa phóng thanh…) thì sẽ không có Đài TTCS.
Chất lượng, độ bền của thiết bị cũng ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng
Đài TTCS và độ bền của hệ thống. Máy phát sóng không đảm bảo các tiêu chuẩn kỹ
thuật (còn phát xạ, chế độ lọc nhiễu thấp...); loa phóng thanh có công suất nhỏ; bộ
thu tín hiệu còn bị giao thoa tần số nên âm thanh thu được không được rõ, còn bị
can nhiễu; dẫn đến chất lượng phát thanh thấp.
1.3.4.2. Về nguồn nhân lực