ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ
SỞ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG
ĐỀ TÀI KHOA HỌC CẤP TỈNH
“THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
HỆ THỐNG ĐÀI TRUYỀN THANH CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG
TRỊ ĐẾN NĂM 2020”
Xác nhận của cơ quan chủ trì đề tài
Trần Phương Nam
Quảng Trị, tháng
Chủ nhiệm đề tài
Nguyễn Hoàn
năm 2013
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Từ lâu, hệ thống đài truyền thanh cơ sở là phương tiện tuyên truyền hữu hiệu
của địa phương, là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân; là công cụ trực tiếp
của Đảng, chính quyền địa phương trong công tác chỉ đạo, quản lý, điều hành để
phát triển kinh tế, xã hội. Đây là cơ quan thông tin, tuyên truyền để giúp nhân dân
nắm bắt các chủ trương, chính sách của cấp trên và chính quyền địa phương. Tuy
22/6/2011 đã đề ra mục tiêu: “Các trạm truyền thanh đều có thể tự sản xuất chương
trình cho mình, phù hợp với đặc điểm địa phương, truyền thanh xã trở thành một
công cụ tuyên truyền hiệu quả, cung cấp thông tin thiết yếu liên quan đến đời sống
sinh hoạt và hoạt động nông nghiệp, lâm nghiệp. Phát triển mạnh hệ thống truyền
thanh cấp xã đến với đông đảo nhân dân, trong đó có vùng dân tộc thiểu số, nâng
cao chất lượng nội dung của chương trình truyền thanh xã, đặc biệt là khu vực
không có sóng truyền hình tỉnh”.
Trước những yêu cầu đó, việc thực hiện đề tài nghiên cứu: “Thực trạng và
giải pháp nâng cao chất lượng hệ thống đài truyền thanh cơ sở trên địa bàn tỉnh
Quảng Trị đến năm 2020” là rất cần thiết, vừa mang tính thời sự trước mắt, vừa có
tính chiến lược lâu dài.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Thời gian qua, với chức năng, nhiệm vụ được giao, hệ thống đài truyền thanh
cơ sở đã trở thành phương tiện thông tin có sức lan tỏa mạnh mẽ và hiệu quả. Đặc
biệt, ở các huyện miền núi, vùng sâu, vùng xa đã chứng minh vai trò to lớn của hệ
thống này. Việc nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của hệ thống đài truyền
thanh cơ sở sẽ góp phần đưa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật
của Nhà nước đến với đông đảo quần chúng nhân dân, tạo nhịp cầu nối giữa Đảng,
Nhà nước và nhân dân, góp phần xây dựng hệ thống chính trị xã, phường, thị trấn
vững mạnh.
3
Tuy nhiên, hiện nay có 2 luồng quan điểm. Một quan điểm cho rằng cần xóa
bỏ hệ thống đài truyền thanh cơ sở, chỉ cần duy trì Đài Phát thanh-Truyền hình
(PT-TH) tỉnh, bởi ở một số địa phương, hệ thống này chưa thực sự phát huy vai trò,
hiệu quả. Các đài huyện thực hiện việc cộng tác thông tin cho Đài PT-TH tỉnh đã
cung cấp thông tin về tình hình hoạt động của địa phương. Một quan điểm khác cho
rằng cần có sự nghiên cứu sâu sắc để từ đó đánh giá đúng thực trạng hoạt động của
Nghiệp vụ phát thanh, Đài Tiếng nói Việt Nam, số 2; “Nhà báo hiện đại” của The
Missouri Group, NXB Trẻ, TP Hồ Chí Minh, năm 2007…
Qua tìm hiểu, nghiên cứu một số tài liệu, chúng tôi nhận thấy, do có nhiều đặc
điểm khác biệt về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội… nên hệ thống đài truyền
thanh cơ sở ở nước ta nói chung, tỉnh Quảng Trị nói riêng không có đặc điểm giống
như nhiều nước trên thế giới. Những nghiên cứu về phát thanh nước ngoài góp
phần hỗ trợ thêm về mặt kỹ thuật sản xuất chương trình, cơ sở vật chất... Một số
quan điểm và kinh nghiệm phát triển khác của phát thanh thế giới khó vận dụng
vào điều kiện nước ta nói chung, tỉnh Quảng Trị nói riêng.
Trong nước: Ở thời điểm này, bức tranh chung về hệ thống phát thanh ở Việt
Nam vẫn có cả hai gam màu sáng - tối. Ở một số địa phương trong cả nước, không
chỉ hệ thống các đài phát thanh cấp huyện và cấp xã, mà kể cả phát thanh cấp tỉnh
cũng bị báo in, báo hình, báo mạng lấn át. Tuy nhiên, ở nhiều nơi, đặc biệt là tại
các tỉnh miền núi vốn còn nghèo và các địa phương vùng sâu, vùng xa… phát
thanh vẫn tiếp tục phát huy hiệu quả và có được lượng công chúng thính giả thường
xuyên và đông đảo.
Trong những năm qua, đã có một số công trình nghiên cứu trong nước có liên
quan đến phát thanh ở nhiều góc độ khác nhau như: phương thức sản xuất phát
thanh hiện đại hoặc tài liệu hướng dẫn nghiệp vụ cho người làm báo phát thanh.
Một tài liệu có tiêu đề “Hướng dẫn nghiệp vụ phát thanh - truyền thanh địa
phương nông thôn” của Đài Tiếng nói Việt Nam (tái bản năm 2005) có phần trình
bày, hướng dẫn những kỹ năng làm chương trình phát thanh ở các địa phương nông
thôn như: lựa chọn đề tài cho chương trình, kỹ năng phỏng vấn người dân, phỏng
5
vấn cán bộ làng, xã, kỹ năng dẫn chương trình, sử dụng micro và ghi âm… Hầu hết
tài liệu này để phục vụ những người làm phát thanh địa phương tham khảo về mặt
nghiệp vụ.
Qua tìm hiểu của chúng tôi, trong khoảng 5 năm vừa qua, ở hai cơ sở đào tạo
pháp phát triển cơ sở vật chất, kỹ thuật; nâng cao chất lượng chương trình; nâng cao
chất lượng đội ngũ... theo hướng hiện đại. Trong đó chú trọng thực hiện các giải
pháp phát triển phát thanh hiện đại: phát triển phát thanh qua Internet ở thành phố
Đông Hà; phát triển truyền thanh và truyền hình ở 2 huyện miền núi (Hướng Hóa và
Đakrông)...
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng:
- 10 Đài truyền thanh, truyền thanh - truyền hình cấp huyện:
+ Đài Truyền thanh thành phố Đông Hà;
+ Đài Truyền thanh huyện Vĩnh Linh;
+ Đài Truyền thanh huyện Gio Linh;
+ Đài Truyền thanh huyện Triệu Phong;
+ Đài Truyền thanh huyện Hải Lăng;
+ Đài Truyền thanh huyện Cam Lộ;
+ Đài Truyền thanh thị xã Quảng Trị;
+ Đài Phát thanh - Truyền hình huyện Hướng Hóa;
+ Đài Phát thanh - Truyền hình huyện Đakrông;
+ Đài Phát thanh - Truyền hình huyện đảo Cồn Cỏ.
- 58 đài truyền thanh trên địa bàn tỉnh Quảng Trị bao gồm: Xã Vĩnh Ô, xã
Vĩnh Hà (huyện Vĩnh Linh); xã Cam Nghĩa, xã Cam Thủy (huyện Cam Lộ); xã Hải
Xuân, xã Hải Vĩnh, xã Hải Ba, xã Hải Quế, xã Hải Dương, xã Hải An, xã Hải Khê,
xã Hải Thành, xã Hải Thiện, xã Hải Thọ, xã Hải Trường, xã Hải Sơn, xã Hải Tân,
xã Hải Hòa, xã Hải Chánh, thị trấn Hải Lăng (huyện Hải Lăng); xã Tân Thành, xã
Tân Lập, xã Hướng Lập, xã Hướng Sơn, xã Hướng Linh, xã Húc, xã Ba Tầng, xã
Thuận, xã Thanh, xã Hướng Lộc, xã A Xing, xã A Túc, xã A Dơi, xã Xy, thị trấn
7
Lao Bảo (huyện Hướng Hóa); xã Ba Nang, xã A Vao, xã A Bung, xã A Ngo, xã Tà
Rụt, xã Húc Nghì, xã Tà Long, xã Đakrông, xã Mò Ó, xã Hướng Hiệp, xã Triệu
chí, cơ quan quản lý nhà nước về báo chí, Ban Tuyên giáo, lãnh đạo chính quyền
các cấp nhằm đánh giá ưu điểm, nhược điểm, xác định giải pháp, nâng cao chất
lượng hoạt động của hệ thống đài truyền thanh cơ sở.
- Phương pháp tổng hợp: Trên cơ sở kết quả phân tích, đánh giá, rút ra những
kết luận khoa học cần thiết cho đề tài.
6. Ý nghĩa thực tiễn và tính mới về khoa học
6.1. Ý nghĩa thực tiễn
- Đối với việc xây dựng đường lối, chính sách, pháp luật
Kết quả khảo sát, đánh giá từ thực tế hoạt động của hệ thống đài truyền thanh
cơ sở sẽ giúp chính quyền địa phương, cơ quan quản lý nhà nước về báo chí đề ra
các cơ chế, chính sách, đề xuất hoàn thiện khung pháp lý cho hệ thống đài truyền
thanh cơ sở hoạt động tốt hơn, phát huy hơn nữa hiệu quả tuyên truyền và vận động
nhân dân thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
- Đối với phát triển kinh tế - xã hội
Hệ thống các đài truyền thanh, truyền hình cơ sở là công cụ tuyên truyền, là
cầu nối đưa tiếng nói của Đảng và Nhà nước đến với mọi tầng lớp nhân dân, góp
phần thúc đẩy sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội, đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa,
biên giới, vùng núi, hải đảo.
- Đối với nơi ứng dụng kết quả nghiên cứu
Đài Phát thanh - Truyền hình tỉnh và hệ thống đài truyền thanh cơ sở trên địa
bàn tỉnh sẽ được đầu tư, phát triển, nâng cao chất lượng các chương trình; đặc biệt
đối với thành phố Đông Hà và 02 huyện miền núi Hướng Hóa và Đakrông sẽ được
quan tâm hỗ trợ để hoạt động theo hướng phát thanh hiện đại.
6.2. Tính mới về khoa học
- Đối với phát triển lĩnh vực khoa học có liên quan
Tài liệu nghiên cứu phục vụ cho công tác nghiên cứu về loại hình phát thanh ở
Việt Nam nói chung, hệ thống đài truyền thanh cơ sở ở các địa phương nói riêng.
9
2.1.2. Những đài truyền thanh ra đời sau năm 1975
10
2.1.3. Sự ra đời hệ thống đài xã
2.2. Thực trạng hoạt động của hệ thống đài truyền thanh cơ sở
2.2.1. Về số lượng
2.2.2.Về chất lượng và thời lượng
2.2.3.Về cơ sở vật chất
2.2.4. Về nguồn nhân lực
2.2.5. Về chế độ, chính sách
2.3. Một số hạn chế, tồn tại
2.3.1. Về chất lượng nội dung và kỹ thuật
2.3.2.Về nguồn nhân lực
2.3.3. Về cơ chế chính sách
2.4. Một số vấn đề đặt ra đối với hoạt động của hệ thống đài truyền thanh
cơ sở trên địa bàn tỉnh Quảng Trị đến năm 2020
2.4.1. Bối cảnh phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Quảng Trị đến năm 2020
2.4.2. Yêu cầu phát triển hệ thống phát thanh Việt Nam đến năm 2020
2.4.3. Yêu cầu phát triển hệ thống đài truyền thanh cơ sở trên địa bàn tỉnh
Quảng Trị đến năm 2020
• Tiểu kết chương 2
+ Chương 3: Các giải pháp nâng cao chất lượng hệ thống đài truyền
thanh cơ sở trên địa bàn tỉnh đến năm 2020
3.1. Nhóm giải pháp thông tin, tuyên truyền nâng cao nhận thức về tầm
quan trọng của đài truyền thanh
3.1.1. Nâng cao nhận thức cấp ủy, chính quyền địa phương các cấp
3.1.2. Tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng
3.2. Nhóm giải pháp đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị
3.2.1.Đối với đài huyện
a. Phát thanh là gì?
Phát thanh là một loại hình báo chí mà đặc trưng cơ bản của nó là dùng âm
thanh phong phú, sinh động (lời nói, tiếng động, âm nhạc) để truyền tải thông điệp
nhờ sử dụng sóng điện từ và hệ thống truyền thanh tác động vào thính giác công
chúng.
Chiến lược phát triển thông tin đến năm 2010 ban hành kèm theo Quyết định
số 219/2005/QĐ-TTg ngày 09/09/2005 của Thủ tướng Chính phủ đã định nghĩa về
phát thanh như sau: “Phát thanh là loại hình thông tin đại chúng mà nội dung
thông tin được chuyển tải bằng âm thanh, tiếng nói qua làn sóng vô tuyến điện và
truyền thanh qua hệ thống dây dẫn”.
+ Thông thường người ta chia phát thanh thành 2 loại:
AM (Amplitude Modulation) là kỹ thuật điều biên được áp dụng trong phát
thanh sóng dài, sóng trung và sóng ngắn.
FM (Frequency Modulation) là kỹ thuật điều tần được áp dụng trong phát
thanh sóng cực ngắn.
Phần lớn các đài phát thanh AM có công suất máy phát lớn và tầm hoạt động
xa, song chất lượng loại phát thanh này thường bị ảnh hưởng bởi nhiễu tĩnh. Đài
FM phát sóng thẳng, hầu như không bị ảnh hưởng bởi nhiễu nên chất lượng tín hiệu
rất tốt. Tuy nhiên, đài FM có phạm vi phủ sóng nhỏ, nó chỉ thích hợp với các trung
tâm đô thị lớn, các khu vực đông dân.
b. Thế nào là truyền thanh?
Theo tài liệu Bồi dưỡng kiến thức cho cán bộ thông tin và truyền thông cơ sở
(Bộ Thông tin và Truyền thông, năm 2012): “Truyền thanh là phương thức truyền
tải thông tin tiếng động, âm thanh qua dây dẫn tín hiệu từ máy phát tổng đài đến
13
các loa. Hệ thống truyền thanh được vận hành bởi tập hợp các thiết bị đầu cuối từ
thu âm, thu tín hiệu đầu vào sóng radio, thiết bị khuếch đại tín hiệu âm thanh, hệ
thống dây dẫn và các loa”.
gắn bó với các chương trình phát thanh và xem đó như một người bạn thân thiết
của họ. Những người không biết chữ, bị khuyết tật (trừ thính giác) đều có thể nghe
thông tin do phát thanh cung cấp. Những thông tin họ nghe trên đài, loa phóng
thanh không chỉ đơn giản là những mẩu tin về thời tiết, thông tin có nội dung gần
gũi gắn bó với đời sống sinh hoạt hàng ngày của họ mà còn có nhiều thông tin quan
trọng nhằm nâng cao nhận thức, hiểu biết của họ.
1.1.3. Khái quát sự phát triển của hệ thống đài truyền thanh cơ sở Việt Nam
Đài Tiếng nói Việt Nam được ra đời từ ngày 7/9/1945. Tuy nhiên, phải đến
năm 1956, với sự giúp đỡ của Liên Xô thời kỳ đó, chúng ta mới bắt đầu xây dựng
đựơc các đài phát thanh tỉnh. Đến những năm 60 của thế kỷ XX, hệ thống đài
truyền thanh ở nước ta đã từng bước được tăng cường số lượng và nâng cao dần
chất lượng. Nhiệm vụ chính của các đài huyện trong giai đoạn này là tiếp phát sóng
đài Trung ương, đài tỉnh và tự xây dựng các bản tin, các chương trình phát thanh để
phản ánh về công việc của các hợp tác xã; cổ vũ những phong trào thi đua lao động
sản xuất, các điển hình; phê phán thói xa hoa, lãng phí, quan liêu trong quản lý tài
sản tập thể… Do số lượng đầu báo ở ta khi đó còn rất ít nên vị trí, vai trò của các
đài huyện là rất lớn.
Từ năm 1976, Nhà nước ta đã quyết định đưa các đài truyền thanh xã, phường
vào bộ máy tổ chức của hệ thống truyền thanh 4 cấp gồm: cấp Trung ương; cấp
tỉnh, thành phố trực thuộc; cấp huyện, thị xã; cấp xã, phường, thị trấn. Riêng hai
cấp sau được gọi chung bằng một thuật ngữ là “đài cơ sở”.
Chính vì thế, khái niệm “Hệ thống đài truyền thanh cơ sở” trong đề tài
khoa học này được hiểu bao gồm: Đài truyền thanh huyện, thị xã, thành phố
(gọi tắt là đài huyện) và đài truyền thanh xã, phường, thị trấn (gọi tắt là là đài
xã).
15
Sự phát triển của khoa học kỹ thuật và công nghệ thông tin trong những năm
lần thứ V (Khóa IX) về công tác tư tưởng, lý luận trong tình hình mới, Chỉ thị số
22/CT-TW ngày 17/10/1997 của Bộ Chính trị về tiếp tục đổi mới và tăng cường sự
lãnh đạo, quản lý công tác báo chí xuất bản; Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc
lần thứ X (2006), Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI (2011), Chiến
lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020...
Quan điểm chỉ đạo về phát triển thông tin của Đảng và Nhà nước ta thể hiện
qua những điểm quan trọng sau đây:
- Hoạt động thông tin và các loại hình thông tin ở nước ta đặt dưới sự lãnh đạo
của Đảng, quản lý của Nhà nước và tuân thủ các quy định của pháp luật.
Thông tin phải làm tốt nhiệm vụ phổ biến, giáo dục và bảo vệ chủ nghĩa MácLênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bảo vệ đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng,
pháp luật của Nhà nước, góp phần mở rộng và phát huy dân chủ xã hội, với chủ đề
trọng tâm là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
- Phát triển nhanh, mạnh, vững chắc hệ thống thông tin ở nước ta, đảm bảo
thông tin không chỉ phục vụ tốt nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc mà còn là
lĩnh vực có khả năng tạo nguồn thu quan trọng, đóng góp vào ngân sách Nhà nước.
- Thông tin phải đảm bảo tính chân thật, tính giáo dục, tính nhân dân, tính
chiến đấu, phù hợp với lợi ích của đất nước và của nhân dân; phải góp phần quan
trọng trong việc cung cấp tri thức, nâng cao dân trí, hình thành và định hướng dư
luận xã hội lành mạnh; tăng cường sự đoàn kết, nhất trí về tư tưởng chính trị và tinh
thần trong nhân dân; biểu dương các nhân tố mới, điển hình tiên tiến; tích cực đấu
tranh, phê phán các quan điểm sai trái, thù địch, đấu tranh chống tiêu cực, tham
nhũng và các tệ nạn xã hội; giữ gìn và phát huy truyền thống văn hóa dân tộc, tiếp
thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Những người làm công tác thông tin phải tuân thủ
định hướng của Đảng, pháp luật của Nhà nước, có bản lĩnh chính trị vững vàng,
phẩm chất đạo đức trong sáng và có năng lực chuyên môn nghiệp vụ cao.
17
- Phát triển đi đôi với quản lý thông tin tốt. Phát triển phải gắn với sự quản lý,
Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng chỉ rõ: “Phát triển
đi đôi với quản lý tốt hệ thống thông tin đại chúng. Báo chí, xuất bản... làm tốt
chức năng tuyên truyền thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và
Nhà nước; phát hiện những nhân tố mới, cái hay, cái đẹp trong xã hội, giới thiệu
gương người tốt việc tốt, những điển hình tiên tiến, phê phán các hiện tượng tiêu
cực, uốn nắn những nhận thức lệch lạc, đấu tranh với những quan điểm sai trái; coi
trọng nâng cao tính chân thật, tính giáo dục và tính chiến đấu của thông tin. Sử
dụng Internet đẩy mạnh thông tin đối ngoại, đồng thời hạn chế, ngăn chặn những
hoạt động tiêu cực qua mạng. Khắc phục khuynh hướng "thương mại hoá" trong
hoạt động báo chí, xuất bản. Nâng cao bản lĩnh chính trị, tư tưởng, ý thức trách
nhiệm, trình độ văn hoá và nghề nghiệp, phẩm chất đạo đức của đội ngũ báo chí,
xuất bản”.
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011-2020 cũng yêu cầu:
“Nâng cao chất lượng hệ thống thông tin, báo chí, Internet, xuất bản. Bảo đảm
quyền được thông tin và cơ hội tiếp cận thông tin của nhân dân, đặc biệt ở các vùng
sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc. Tiếp tục đổi mới cơ chế và nâng cao hiệu quả
quản lý, đẩy mạnh xã hội hóa các lĩnh vực văn hóa, thông tin, hình thành thị trường
văn hóa lành mạnh”.
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát
triển năm 2011) một lần nữa khẳng định vai trò của hệ thống thông tin đại chúng,
đồng thời đặt ra yêu cầu: “Phát triển các phương tiện thông tin đại chúng đồng bộ,
hiện đại, thông tin chân thực, đa dạng, kịp thời, phục vụ có hiệu quả sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc”.
1.2.2. Quan điểm chỉ đạo phát triển thông tin của tỉnh Quảng Trị
Triển khai thực hiện các quan điểm của Đảng, Nhà nước về phát triển thông
tin, truyền thông, Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Trị lần thứ XV đề ra yêu
cầu, nhiệm vụ: “Nâng cao chất lượng tư tưởng, chính trị và hiệu quả xã hội trong
hoạt động thông tin, truyền thông, báo chí, văn học nghệ thuật theo định hướng của
19
Chức năng thứ ba, thực hiện nhiệm vụ kết nối trực tiếp giữa Đảng - chính
quyền với người dân: Xã hội càng phát triển, dân trí càng cao, ý thức và sự quan
tâm của người dân đối với xã hội, đối với những vấn đề nhạy cảm liên quan đến họ
và liên quan đến trách nhiệm của các cấp chính quyền cũng ngày càng nâng cao.
Thực hiện tốt chức năng kết nối sẽ đáp ứng được những yêu cầu của dân chủ hóa,
công khai hóa.
Chức năng thứ tư, đài truyền thanh như là một công cụ điều hành trong hệ
thống điều hành xã hội. Điều này thể hiện rõ nét ở đài truyền thanh cơ sở, đặc biệt
vào những lúc cần xử lý các tình huống cấp bách như: dịch bệnh, thiên tai, xuất
hiện các dư luận bất thường… Cần xác định quan niệm như vậy để phát huy hết
khả năng của đài truyền thanh vì trên thực tế ngày càng có nhiều hệ thống điện tử
được sử dụng như một công cụ điều hành, ví dụ như mạng Internet, cầu truyền hình
trực tiếp…
Như vậy, trong bối cảnh mới, bên cạnh những chức năng truyền thống, đài
truyền thanh còn có thêm những chức năng và khả năng tương tác mới. Thông qua
việc thực hiện tốt các chức năng của mình, đài truyền thanh thể hiện vai trò của
mình đối với đời sống cộng đồng trong bối cảnh mới.
1.3.2. Vai trò của hệ thống đài truyền thanh cơ sở
So với đài Trung ương và đài tỉnh, các đài cơ sở có những ưu thế nổi bật là
thông tin sát thực, trực tiếp, cụ thể đến từng người dân trong địa bàn. Trong thực tế,
có những loại nội dung thông tin mà chỉ có đài truyền thanh cơ sở mới có thể đề
cập đến được một cách sâu sát, mang lại hiệu ứng trực tiếp, tức thời. Đó là những
chuyện gần gũi với đời sống thường nhật như chuyện cấy cày, thời vụ, làng trên
xóm dưới, rồi các hoạt động như bầu cử, đại hội, hội họp, ma chay, hiếu hỷ, tiêm
chủng, thông báo tình hình lũ, lụt, di tản dân cư đột xuất do thiên tai…
Có thể nói, chương trình của các đài cơ sở từ lâu đã thực sự đáp ứng được nhu
cầu của các thính giả tại những khu vực này, trở thành người bạn chân tình chia sẻ
những buồn vui, trăn trở về mọi khía cạnh của cuộc sống; là nơi gợi mở, hướng dẫn
đã trở thành một kênh thông tin quan trọng, cùng với Đài Tiếng nói Việt Nam, các
22
đài khu vực, đài tỉnh, thành phố... làm tốt nhiệm vụ tuyên truyền, phổ biến đường
lối, chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; đưa các Nghị quyết,
chính sách vào cuộc sống; góp phần nâng cao dân trí, bảo tồn và phát huy bản sắc
văn hóa dân tộc; góp phần xây dựng hệ thống chính trị, tăng cường dân chủ hóa
trong đời sống cơ sở; thực hiện chức năng làm cầu nối giữa Đảng, Nhà nước, các
đoàn thể xã hội với nhân dân; củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân vào sự
lãnh đạo của Đảng và Nhà nước...
Những người làm phát thanh Việt Nam hiện nay đang cố gắng nâng cao hiệu
quả của thông tin phát thanh trong đời sống xã hội, đảm bảo vai trò định hướng và
hướng dẫn dư luận xã hội; hoàn thiện và tăng thêm các hệ chương trình phát thanh;
chú trọng nâng cao chất lượng nội dung các hệ chương trình, vừa toàn diện vừa
chuyên sâu, đáp ứng nhu cầu thông tin của mọi đối tượng thính giả; tăng thời
lượng, nâng cao chất lượng nội dung chương trình để đáp ứng nhu cầu thông tin và
mục tiêu giáo dục cộng đồng, nhất là đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số…
Trong xu hướng chung của truyền thông, báo chí hiện đại là hội tụ tất cả các
phương tiện biểu đạt (lời nói, âm nhạc, tiếng động, hình ảnh, màu sắc, bố cục, giao
diện trang báo… ), phát thanh hiện đại ở Việt Nam không đứng ngoài cuộc và bước
đầu đã tìm được cách thích ứng hợp lý.
1.3.3. Những vấn đề đặt ra từ bối cảnh mới
Cuộc cách mạng của công nghệ kỹ thuật số và sự bùng phát mạnh mẽ của
mạng thông tin toàn cầu Internet đã buộc người ta phải đặt ra những câu hỏi về sự
tồn tại của các loại hình báo chí truyền thống như báo in, phát thanh và kể cả truyền
hình. Riêng với phát thanh ở Việt Nam - một loại hình báo chí vốn đang chịu nhiều
sức ép trong mấy thập kỷ vừa qua thì vấn đề này lại càng trở nên bức xúc hơn bao
giờ hết.
Là loại hình truyền thông ra đời sớm nhất (chỉ sau báo in), gắn với sự ra đời
Trên nền tảng của công nghệ kỹ thuật số (Digital), phát thanh đã có những
bước phát triển mới, nhảy vọt. Có thể nói, kỹ thuật số đã góp phần quan trọng để
thúc đẩy phát thanh truyền thống bước sang thời kỳ hiện đại. Phát thanh kỹ thuật số
24
có chất lượng âm thanh tốt như đĩa CD, tín hiệu không còn bị nhiễu hay bị cản trở
bởi các yếu tố tự nhiên.
Trong thực tế, không chỉ riêng phát thanh mà báo in và truyền hình cũng đang
tận dụng tối đa công nghệ và kỹ thuật mới (kỹ thuật số, mạng Interrnet… ) để hiện
đại hóa chính mình nhằm tiếp tục thích ứng và phát huy sức mạnh trong bối cảnh
mới. Riêng với loại hình phát thanh, các phương thức sản xuất chương trình hiện
đại, mới mẻ như phát thanh có hình, phát thanh trên mạng, phát thanh tương tác,
phát thanh thực tế… thực sự là một cuộc cách mạng giúp cho nó đổi mới toàn diện
trong nỗ lực thích ứng để tồn tại, phát triển. Phương thức sản xuất các chương trình
phát thanh hiện đại cũng hạn chế được những nhược điểm, hạn chế của phát thanh
truyền thống.
Phát thanh hiện đại không tự nảy sinh mà là sự kế thừa và phát triển của phát
thanh truyền thống. Đó là sự thay đổi phương thức trong sản xuất các chương trình
phát thanh cho phù hợp với tình hình mới và đáp ứng nhu cầu của công chúng. Sự
thay đổi phương thức trong sản xuất không chỉ dựa trên nền tảng của công nghệ, kỹ
thuật mới mà còn đòi hỏi kỹ năng mới để tạo ra được chất lượng nội dung và hình
thức mới và qua đó có thể hình thành công chúng mới… Trong phương thức sản
xuất các chương trình phát thanh hiện đại, những ưu điểm của phát thanh truyền
thống (như: có đối tượng thính giả rộng rãi; tính tức thời và tỏa khắp; ưu thế
chiếm lĩnh không gian toàn bộ thời gian trong ngày; tính giao tiếp cá nhân; thông
điệp len lỏi khắp nơi và có khả năng tác động nhanh; dễ tác động vào tình cảm;
sinh động trong cách thể hiện; sự thuyết phục, lôi kéo của lời nói tác động vào
thính giác; kích thích trí tưởng tượng, buộc thính giả phải tự hình dung, liên
tưởng; thiết bị rẻ tiền, đơn giản, dễ phổ biến… ) vẫn tiếp tục được phát huy mạnh