Nâng cao chất lượng lao động nông nghiệp ở huyện triệu phong, tỉnh quảng trị - Pdf 35



Trong thời gian thực tập tốt nghiệp vừa qua, để
hoàn thành được khóa luận tốt nghiệp, ngoài sự nỗ
lực của bản thân, tôi đã nhận được rất nhiều sự
quan tâm giúp đỡ của các tập thể, các cá nhân
trong và ngoài trường.
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới
các thầy giáo, cô giáo Khoa Kinh Tế Chính Trò –
Trường Đại học Kinh tế Huếđã tạo mọi điều kiện
giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc
tới thầy giáo T.S Hà Xuân Vấn, đã tận tình hướng
dẫn tôi trong suốt thời gian thực tập tốt nghiệp.
Qua đây tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới các
đồng chí Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội,
Chi cục thống kê và các Phòng ban khác của huyện
Triệu Phong, tỉnh Quảng Trò đã giúp đỡ tôi nhiệt tình
trong thời gian tôi thực tập tại đòa phương.
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn tới gia đình
và bạn bè đã khích lệ, cổ vũ tôi hoàn thành khóa
luận tốt nghiệp này.
11


Sinh vieân

Ñöôøng Gia Coâng
MỤC LỤC
Lời cảm ơn...................................................................................................................i



Lao động nông nghiệp

LLLĐ

Lực lượng lao động

33


DANH MỤC BẢNG

44


DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

55


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nông nghiệp, nông thôn và nông dân có vị trí đặc biệt quan trọng trong sự
nghiệp cách mạng và công cuộc đổi mới nền KT - XH của đất nước. Đảng và Nhà
nước ta chủ trương đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, trong đó lĩnh vực
nông nghiệp là một trong những lĩnh vực đóng vai trò quan trọng đối với quá trình
phát triển. Theo thống kê năm 2013, trong tổng số 89,7 triệu người dân Việt Nam
có 60,7 triệu người sống ở khu vực nông thôn (chiếm hơn 2/3 tổng dân số). Thời
gian qua, mặc dù đã có sự di chuyển mạnh mẽ về dân cư và lao động từ nông thôn
ra thành thị, từ khu vực nông nghiệp sang phi nông nghiệp song trong tổng số 51,7

tài: "Nâng cao chất lượng lao động nông nghiệp ở huyện Triệu Phong, tỉnh
Quảng Trị" để nghiên cứu làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Chính sách phát triển nhân lực nông thôn, nâng cao chất lượng LĐNN là một
chính sách lớn của Đảng và Nhà nước, chính vì vậy đã có rất nhiều nghiên cứu ở các
cấp độ từ trung ương đến địa phương về vấn đề trên. Cụ thể như:
- Đề tài: " Thực trạng và giải pháp phát triển nguồn nhân lực trẻ cho CNH,
HĐH nông nghiệp nông thôn ở thành phố Huế hiện nay", của tác giả Lê Quang Diên,
đề tài nghiên cứu khoa học Trường Đại học Kinh tế Huế năm 2006.
- Tăng Minh Lộc, “ Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ở nông thôn”, Tạp chí
Cộng sản, 10/2008.
-

Lê Hoàng Thuyên, “Nghiên cứu giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao
động nông thôn tỉnh Hà Nam”, luận văn Thạc sỹ - Trường Đại học Nông nghiệp Hà

-

Nội, 2010.
Nguyễn Văn Thuynh, “Nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn
huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam”, khóa luận tốt nghiệp - Trường Đại học Nông nghiệp
Hà Nội, 2011.
- Nguyễn Thị Thu Thủy, "Nâng cao chất lượng lao động nông nghiệp, nông
thôn trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở thị xã Hương Thủy tỉnh Thừa
Thiên Huế ", luận văn Thạc sỹ - Trường Đại học kinh tế-Đại học Huế, 2011.
- Hoàng Anh Cường, "Nâng cao chất lượng lao động nông nghiệp nông thôn
77


trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên

Triệu Đông: 20 hộ, xã Triệu Trạch: 20 hộ, xã Triệu An: 20 hộ, xã Triệu Vân: 20 hộ.


Phương pháp phân tích, tổng hợp.



Phương pháp thống kê.
6. Ý nghĩa của đề tài
- Đề tài có thể làm tài liệu tham khảo cho việc học tập và nghiên cứu.

99


- Giúp chính quyền địa phương có cái nhìn rõ nét hơn về quá trình nâng cao
chất lượng LĐNN, từ đó có những chính sách khả thi nhằm đẩy nhanh sự phát triển
về chất lượng của lao động.
7. Kết cấu đề tài
Ngoài mở đầu, kết luận, kiến nghị, phụ lục và tài liệu tham khảo, nội dung đề
tài gồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về chất lượng lao động trong nông
nghiệp
Chương 2: Thực trạng chất lượng lao động nông nghiệp ở huyện Triệu
Phong, tỉnh Quảng Trị.
Chương 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao chất lượng lao động nông
nghiệp ở huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị.

1010



Thực tế trong từng thời kỳ, và ở mỗi một nước trên thế giới quy định độ tuổi lao
1212


động khác nhau. Ở nước ta, theo Bộ luật lao động, độ tuổi lao động được quy định đối
với nam từ 15 tuổi đến 60 tuổi, đối với nữ từ 15 tuổi đến 55 tuổi. Xét về khía cạnh việc
làm, LLLĐ gồm hai bộ phận là có việc làm và thất nghiệp.
1.1.1.2. Khái niệm lao động nông nghiệp
Theo quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 của Thủ tướng chính phủ:
LĐNN là lao động trong độ tuổi lao động, có trình độ học vấn và sức khỏe phù hợp
với nghề cần học. LĐNN, gồm:
- Người LĐ có hộ khẩu thường trú tại các xã.
-Người LĐ có hộ khẩu thường trú tại các phường, thị trấn nhưng đang trực tiếp
làm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp hoặc hộ gia đình có đất bị thu
hồi.[27]
LĐNN là những người lao động và hoạt động trong các lĩnh vực ở nông thôn.
LĐNN là những người dân không phân biệt giới tính, tổ chức, cá nhân sinh sống
ở vùng nông thôn, từ 15 tuổi trở lên có đủ các yếu tố về tâm sinh lý và thể chất được
quy định trong Luật Lao động và những người ngoài độ tuổi lao động nhưng vẫn tham
gia sản xuất ở nông thôn.
Theo tác giả: “LĐNN là một bộ phận dân số sinh sống và làm việc ở nông thôn
trong độ tuổi lao động theo qui định của pháp luật có khả năng lao động, đang có
việc làm và những người thất nghiệp nhưng có nhu cầu tìm việc làm”.
Do đặc điểm, tính chất, mùa vụ của công việc ở nông thôn mà lực lượng tham
gia sản xuất nông nghiệp không chỉ có những người trong độ tuổi lao động mà còn
có những người trên hoặc dưới độ tuổi lao động tham gia sản xuất với những công
việc phù hợp. Từ khái niệm LĐNN mà ta thấy lao động ở nông thôn rất dồi dào,
nhưng đây cũng chính là thách thức trong việc giải quyết việc làm.
1.1.1.3. Khái niệm nâng cao chất lượng lao động nông nghiệp
Hiện nay có nhiều khái niệm được đưa ra từ các tổ chức quốc tế về nâng cao

chí, sức sáng tạo của trí lực.
- Khi đề cập đến phát triển nguồn lực con người trong quá trình đẩy mạnh
CNH, HĐH đất nước, Đảng ta khẳng định “sự cường tráng về thể chất là nhu cầu
của bản thân con người, đồng thời là vốn quý để tạo ra tài sản trí tuệ và vật chất
cho xã hội”.[9]
- Quá trình CNH, HĐH trong điều kiện cách mạng - khoa học - công nghệ bùng
nổ như hiện nay, hàm lượng trí tuệ chất xám trong sản phẩm lao động chiếm tỉ
trọng lớn nhất thì yêu cầu về sức khỏe tâm hồn càng cao. Để có sức khỏe tinh thần

1414


tốt thì LĐNN phải có sức khỏe cơ thể tốt. Mặt khác, LĐNN còn phải được giáo dục
và đào tạo kỹ lưỡng, nhất là được sống và làm việc trong môi trường xã hội thuận
lợi, có văn hóa đạo đức.
Như vậy, chỉ có những người khỏe mạnh cả về thể chất lẫn tinh thần mới có
thể nâng cao sức mạnh của bản thân, hòa nhịp với cuộc sống hiện tại. Họ làm việc
dẻo dai, có khả năng tập trung về trí tuệ khi làm việc, tạo ra năng suất lao động cao.
 Trình độ văn hóa, chuyên môn kỹ thuật

Bên cạnh yếu tố thể lực thì yếu tố trí lực cũng là nội dung quan trọng phản
ánh chất lượng LĐNN. Yếu tố này tác động cả trực tiếp lẫn gián tiếp đến quá trình
lao động. Khi đánh giá yếu tố trí lực của LLLĐ nông nghiệp điều cần quan tâm đầu
tiên là trình độ văn hóa và chuyên môn kỹ thuật.
- Trình độ văn hóa là tiêu chí về mức độ hoàn thành các cấp học cơ bản của
một nền giáo dục, ở Việt Nam có 3 cấp và 12 lớp học. Trong nội dung này, để đánh
giá được sâu hơn về trình độ văn hóa, cần đánh giá thêm về mức độ đào tạo. Mức
độ đào tạo phản ánh mức độ học tập của LĐNN, ngoài việc đánh giá trình độ văn
hóa thì đánh giá thêm về quá trình theo học các chương trình cao hơn như trung
cấp, cao đẳng, đại học và trên đại học. Điều này phản ánh chất lượng ở mức cao của

đó tìm thấy niềm vui.
- Đối với việc nâng cao chất lượng LĐNN thì ý thức tổ chức và tinh thần trách
nhiệm là yếu tố vô cùng quan trọng. Để quá trình nâng cao chất lượng đạt hiệu quả
tốt thì người lao động phải học tập và rèn luyện tay nghề rất nhiều, điều này cần
phải có ý thức, trách nhiệm, lòng say mê thì mới thực hiện được.
- Có ý thức tổ chức, tinh thần trách nhiệm trong công việc sẽ giúp LĐNN tạo ra
được năng suất cao, từ đó tạo ra thu nhập để cải thiện cuộc sống. Bên cạnh đó, các
danh hiệu như gia đình văn hóa, nông dân sản xuất giỏi… đều có tiêu chí này góp
phần quyết định.
 Năng suất lao động

- Năng suất lao động là chỉ tiêu hiệu quả sử dụng lao động sống, đặc trưng bởi
quan hệ so sánh giữa một chỉ tiêu đầu ra (kết quả sản xuất) và một chỉ tiêu đầu vào
(lao động làm việc). Đây là một chỉ tiêu khá tổng hợp nói lên tính quyết định của
chất lượng LĐNN trong quá trình sản xuất.
- Năng suất lao động là một trong những yếu tố quan trọng tác động tới sức
cạnh tranh, đặc biệt, năng suất lao động lại phản ánh yếu tố chất lượng người lao
1616


động – yếu tố cốt lõi của sự phát triển trong sự cạnh tranh toàn cầu, sự phát triển
của khoa học công nghệ và nền kinh tế tri thức hiện nay.
- Năng suất lao động phản ánh năng lực tạo ra của cải, hay hiệu suất của LĐNN
cụ thể trong quá trình sản xuất, đo bằng số sản phẩm, lượng giá trị sử dụng. LĐNN có
chất lượng càng cao thì tạo ra thu nhập càng cao thể hiện ở việc người lao động có
tay nghề cao thì sẽ tạo ra nhiều sản phẩm hơn với chất lượng tốt hơn người không
có tay nghề.
- Năng suất lao động được quyết định bởi nhiều nhân tố, như trình độ thành
thạo của người lao động, trình độ phát triển khoa học và áp dụng công nghệ, sự kết
hợp xã hội của quá trình sản xuất, quy mô và tính hiệu quả của các tư liệu sản xuất,

bên cạnh đó, do điều kiện tự nhiên như địa hình, thời tiết không cho phép áp dụng
rộng rãi các thiết bị hiện có, cũng như hiệu quả áp dụng chưa cao.
1.1.3. Vai trò của việc nâng cao chất lượng lao động nông nghiệp
Với khoảng 70 % dân số là nông dân, Việt Nam luôn coi trọng những vấn đề
liên quan đến nông dân, nông nghiệp và nông thôn. Nền kinh tế Việt Nam trong gần
30 năm đổi mới vừa qua (1986-2014) đã đạt được nhiều thành tựu phát triển khả
quan.
- Từ một nước thường xuyên thiếu và đói, hàng năm phải nhập hàng triệu tấn
lương thực của nước ngoài, hơn thập niên qua đã trở thành nước xuất khẩu gạo
đứng thứ hai trên thế giới (sau Thái Lan), bộ mặt nông thôn thay đổi theo hướng
văn minh; trình độ văn hoá, khoa học, kỹ thuật của nhiều nông dân được nâng lên
cao hơn trước.
- Nông nghiệp ngày càng có nhiều đóng góp tích cực hơn vào tiến trình phát
triển, hội nhập của kinh tế cả nước vào nền kinh tế toàn cầu. Năm 1986, kim ngạch
xuất khẩu nông-lâm-thuỷ sản mới đạt 400 triệu USD. Đến năm 2014 ước đạt tới
30,8 tỷ USD, tăng gấp 77 lần.
- Nhờ có những thành tựu đó, nông nghiệp không chỉ đã góp phần quan trọng
vào việc ổn định chính trị-xã hội nông thôn và nâng cao đời sống nông dân trên
phạm vi cả nước, mà nông nghiệp đã ngày càng tạo ra nhiều hơn nữa những tiền đề
vật chất cần thiết, góp phần tích cực vào sự đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế và đẩy
mạnh CNH, HĐH đất nước trong những năm qua.

1818


Để làm được những điều này, ngoài sự chỉ đạo sáng suốt của Đảng, Nhà nước
thì chúng ta còn cần rất nhiều yếu tố cấu thành mà quan trọng nhất là chất lượng
LĐNN. Phát triển nông nghiệp có đạt hiệu quả cao hay không là đều dựa vào chất
lượng LĐNN có cao hay không, từ đó ta có thể thấy được vai trò rất to lớn của chất
lượng LĐNN.

tầng sản xuất và hạ tầng xã hội. Tiềm lực kinh tế cũng là nhân tố tác động trực tiếp
và gián tiếp đến chất lượng LĐNN
- Các yếu tố kinh tế tác động đến sự phát triển kinh tế, từ đó tạo ra các điều kiện
về vật chất tác động tích cực vào quá trình nâng cao chất lượng LĐNN. Một tiềm lực
kinh tế yếu kém chẳng hạn nguồn lực ngân sách Nhà nước hay địa phương ít ỏi, ít có
cơ hội đầu tư thích đáng cho giáo dục, đào tạo để nâng cao chất lượng LĐNN thì chắc
chắn LĐNN ở địa phương đó sẽ rất yếu kém.
- Các yếu tố kinh tế ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng LĐNN. Bởi vì, các yếu tố
kinh tế vừa là các điều kiện cho sự phát triển kinh tế của đất nước, địa phương, vùng,
vừa ảnh hưởng tới khả năng đầu tư học tập của LĐNN và chất lượng LĐNN. Sự tác
động của các nhân tố đến chất lượng LĐNN theo hướng thuận chiều của sự phát

2020


triển kinh tế. Trong đó, các cơ sở hạ tầng kinh tế, hạ tầng xã hội có sự chi phối mạnh
mẽ nhất.
Có thể nói, trình độ phát triển KT - XH vừa là nguyên nhân vừa là chất lượng
của nguồn nhân lực. Vì vậy, xem xét sự phát triển kinh tế của một đất nước, một địa
phương, có thể đánh giá sự tác động của nó đến chất lượng nguồn lao động, đồng
thời cũng thấy rõ sự tác động của chất lượng lao động đến sự phát triển của nền kinh
tế.
1.1.4.3. Tình hình xã hội
Thể chế chính trị, phong tục tập quán, cũng là những nhân tố tác động đến
chất lượng LĐNN.
- Về thể chế chính trị: Sự tác động của nó tới chất lượng LĐNN chủ yếu thể
hiện sự ưu tiên đầu tư của Chính phủ tới việc nâng cao trình độ văn hóa và trình độ
chuyên môn kỹ thuật của LĐNN trên các phương diện khác nhau như: Đầu tư các
yếu tố vật chất, sử dụng hợp lý bộ phận LĐNN và có chính sách khuyến khích nâng
cao chất lượng LĐNN.

cần đào tạo, hệ thống cơ sở cần thiết cho đào tạo LĐNN, từ đó xác định nguồn vốn
tài chính cần thiết cho đầu tư thực hiện.
1.1.4.5. Cơ sở vật chất và các trang thiết bị
Tư liệu lao động là những phương tiện vật chất mà con người sử dụng trong
quá trình lao động để tác động vào đối tượng lao động. Chính vì thế, nó có ảnh
hưởng lớn đến năng suất lao động một cách trực tiếp.
- Trong điều kiện tư liệu lao động ngày càng được cải thiện theo hướng giảm
lao động chân tay tăng cường lao động trí óc thì lực lượng LĐNN muốn tham gia
vào quá trình lao động phải không ngừng tự bồi dưỡng và nâng cao năng lực của
bản thân. Vì vậy, quá trình nâng cao chất lượng LĐNN gắn liền với công tác làm
quen, học tập cách sử dụng hiệu quả các trang thiết bị nhằm phục vụ cho sản xuất.
- Sự phát triển của tư liệu lao động làm cho một lượng lớn LĐNN sẽ không còn
được sử dụng, do nhiều công đoạn sản xuất được thay thế bằng các trang thiết bị tự
động. Những lao động này sẽ tự chuyển qua các ngành lao động khác trong nền
kinh tế hoặc trở thành lao động thất nghiệp. Sự thay đổi cơ cấu lao động đi kèm với
sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế tạo ra những nguồn lực lao động mới bổ sung cho
những ngành càng phát triển như dịch vụ.

2222


Như vậy, nhân tố trang thiết bị lao động có tác động trực tiếp đến chất lượng
LĐNN thông qua cải thiện năng suất lao động và gián tiếp thông qua đào thải, sàng
lọc cơ cấu lao động trong nền kinh tế. Với sự phát triển của khoa học công nghệ
nhanh chóng như hiện nay, thì nâng cao chất lượng LĐNN đã trở thành yêu cầu bức
thiết.
1.1.5. Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng lao động nông nghiệp
1.1.5.1. Chỉ tiêu phản ánh tình trạng sức khỏe
Sức khỏe lao động có tác động rất lớn đến sức khỏe của LĐNN khi tham gia
hoạt động sản xuất cũng như chưa tham gia hoạt động sản xuất, trong học tập cũng

Chỉ tiêu đánh giá sức khỏe răng, hàm,mặt.
Chỉ tiêu nội khoa.
Ngoại khoa.
Thần kinh tâm thần.
Da liễu.
1.1.3.2. Chỉ tiêu đánh giá trình độ văn hóa
Nói đến trình độ văn hóa của LĐNN, tức là nói đến trình độ hiểu biết của người

2323


trong độ tuổi lao động về kiến thức phổ thông. Xét về khía cạnh nào đấy, trình độ
văn hóa thể hiện mặt bằng dân trí của một quốc gia.
Các chỉ tiêu đánh giá trình độ LĐNN gồm các chỉ tiêu định lượng về trình độ
văn hóa trung bình của bộ phận dân số trong độ tuổi lao động. Bao gồm các chỉ tiêu
sau:
- Số người trong độ tuổi lao động biết chữ và chưa biết chữ.
- Số năm đi học trung bình dân số từ 15 tuổi trở lên.
- Số người trong độ tuổi lao động có trình độ tiểu học.
- Số người trong độ tuổi lao động có trình độ trung học cơ sở.
- Số người trong độ tuổi lao động có trình độ trung học phổ thông.
- Số người trong độ tuổi lao động có trình độ đại học và trên đại học.
Như vậy, trình độ văn hóa của LĐNN là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá
chất lượng LĐNN. Đấy là cơ sở kiến thức đầu tiên để LĐNN có khả năng nắm bắt
được những kiến thức chuyên môn kỹ thuật phục vụ trong quá trình lao động sau
này. Nâng cao trình độ văn hóa có ý nghĩa to lớn trong chiến lược phát triển nguồn
lực con người của cả quốc gia.
1.1.3.3. Chỉ tiêu đánh giá trình độ chuyên môn kỹ thuật
 Trình độ chuyên môn:


thổ.
- Tỷ lệ % lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật theo bậc đào tạo so với
tổng số lao động đang làm việc.
Thực ra, không phải tất cả các chỉ tiêu này đều có đủ cơ sở số liệu thống kê để
tính toán, có những chỉ tiêu chỉ qua tổng điều tra mới có. Đây là một hạn chế của công
tác thống kê nguồn lao động. Để công tác thống kê, quản lý nguồn lao động có chất
lượng cần sớm ban hành chính thức hệ thống chỉ tiêu đánh giá chất lượng nguồn lao
động.
1.1.3.4. Sử dụng chỉ tiêu HDI
Hiện nay thế giới dùng chỉ tiêu HDI để đánh giá trình độ phát triển nguồn
nhân lực của mỗi quốc gia trên ba phương diện là mức độ phát triển kinh tế, giáo
dục và y tế. HDI được xác định bởi ba chỉ tiêu sau:
-

GDP thực tế bình quân đầu người.
Kiến thức ( tỷ lệ người lớn biết chữ và tỷ lệ nhập học của các cấp giáo dục).
Tuổi thọ bình quân.
Tuy chỉ tiêu HDI không phải là chỉ tiêu phản ánh riêng chất lượng của nguồn
nhân lực một quốc gia. Song đây là chỉ tiêu quan trọng được sử dụng rộng rãi trên
thế giới để đo chất lượng con người nói chung, ưu điểm của chỉ tiêu HDI là thuận

2525



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status