Đề án chuyên ngành GVHD: Th.S Phí Thị Hồng Linh
MỤC LỤC
SV: Đỗ Thị Huyền Trang Lớp: Kinh tế phát triển 49B
Đề án chuyên ngành GVHD: Th.S Phí Thị Hồng Linh
LỜI MỞ ĐẦU
Bước vào thế kỉ 21, khoa học và kỹ thuật đã trở thành lực lượng sản
xuất trực tiếp của nền kinh tế toàn cầu, là yếu tố cốt lõi của sự phát triển.
Khoa học kỹ thuật có tiềm năng vô cùng to lớn và có khả năng đưa nền kinh
tế phát triển vượt trội, tạo ra nhiều cơ hội phát triển cho các quốc gia .Tuy
nhiên để tận dụng tối đa các cơ hội này thì các quốc gia cần phải dựa vào
nguồn lực con người , nhanh chóng phát triển nguồn nhân lực để tăng khả
năng cạnh tranh quốc gia trong khu vực và trên thế giới. Trong điều kiện ngày
nay, sự phát triển của một quốc gia thay vì chủ yếu dựa vào nguồn tài nguyên
thiên nhiên như trước đây thì phụ thuộc rất lớn vào nguồn lực con người.
Là một trong những ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, nông
nghiệp luôn đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế ở Việt Nam. Sau hơn
20 năm thực hiện đường đối đổi mới, ngành nông nghiệp và phát triển nông
thôn đã có những bước phát triển đáng kể. Nông thôn Việt nam có nguồn lao
động dồi dào và tiềm năng với công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của Việt
nam. Tuy nhiên, trên thực tế thị trường lao động nông thôn mang tính tự phát
và chưa thực sự phát triển, trình độ chuyên môn kỹ thuật của người lao động
nông thôn còn nhiều bất cập. Đây là thách thức lớn đối với chính lao động
nông thôn cũng như các nhà làm chính sách trước yêu cầu công nghiệp hóa -
hiện đại hóa nông thôn. Chính vì vậy mà em đã chọn đề tài : “Giải pháp
nâng cao chất lượng lao động nông thôn Việt Nam giai đoạn 2011-2015”
để có thể góp một phần ý kiến của mình vào việc cải thiện chất lượng lao
động nông thôn trong quá trình phát triển .
SV: Đỗ Thị Huyền Trang 1 Lớp: Kinh tế phát triển 49B
Đề án chuyên ngành GVHD: Th.S Phí Thị Hồng Linh
I.Cơ sở lí luận chung về lao động nông thôn
1. Các khái niệm cơ bản
trí lực và thể lực lao động:
Trí lực thể hiện năng lực trí tuệ của lao động , được đánh giá thông qua
trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn kĩ thuật
Thể lực thể hiện thể trạng và tầm vóc của lao động ,được đánh giá bằng
các chỉ tiêu về chiều cao , cân nặng,
2. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng lao động nông thôn
a. Giáo dục và cải thiện chất lượng lao động
Giáo dục theo nghĩa rộng là tất cả các dạng học tập của con người nhằm
nâng cao kiến thức và kỹ năng của con người trong suốt cuộc đời. Giáo dục
phổ thông ( giáo dục cơ bản) nhằm cung cấp những kiến thức cơ bản để phát
triển năng lực cá nhân. Giáo dục nghề và giáo dục đại học (đào tạo) vừa giúp
người học có kiến thức đồng thời còn giúp cung cấp tay nghề, kỹ năng và
chuyên môn. Với mỗi trình độ đào tạo nhất định , người được đào tạo biết
được họ sẽ phải đảm nhận những công việc gì? Yêu cầu kĩ năng cũng như
chuyên môn nghề nghiệp phải như thế nào? Kết quả, giáo dục làm tăng lực
lượng lao động có trình độ tạo khả năng thúc đẩy đổi mới công nghệ. Vai trò
của giáo dục đối với việc nâng cao chất lượn lao động được đánh giá qua tác
động của nó làm tăng tri thức cho lao động nông thôn , giúp họ tiếp thu với
các công nghệ mới nhằm tăng năng suất lao động, do đó thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế dài hạn. Giáo dục còn góp phần tạo ra một lực lượng lao động có
trình độ, có kỹ năng làm việc với năng suất cao, là cơ sở thúc đẩy tăng trưởng
nhanh và bền vững. Ngoài ra, giáo dục cũng giúp cho việc cung cấp kiến thức
và những thông tin để người dân đặc biệt là phụ nữ có thể sử dụng những
công nghệ nhằm tăng cường sức khỏe, dinh dưỡng.
SV: Đỗ Thị Huyền Trang 3 Lớp: Kinh tế phát triển 49B
Đề án chuyên ngành GVHD: Th.S Phí Thị Hồng Linh
b. Dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe
Sức khỏe của người lao động thường được đánh giá ở thể lực, điều này
phụ thuộc rất lớn vào chế độ dinh dưỡng và chăm sóc sức khỏe, đặc biệt là
dịch vụ chăm sóc sức khỏe thường xuyên và chính sách bảo hiểm y tế đối với
chiếm hơn 3/4 lao động của cả nước. Tuy vậy nguồn nhân lực nông nghiệp-
nông thôn vẫn chưa phát huy hết tiềm năng do trình độ chuyên môn của lao
động nông thôn thấp và kỹ thuật lạc hậu. Chất lượng lao động nông thôn còn
nhiều hạn chế tạo nên hiệu quả sử dụng lao động thấp, gây lãng phí các nguồn
lực của xã hội. Bên cạnh đó, trình độ văn hóa và chuyên môn kỹ thuật của lao
động nông thôn luôn thấp hơn so với mức chung của cả nước, vì thế khả năng
chuyển đổi nghề nghiệp, tìm kiếm hoặc tự tạo việc làm tốt hơn đối với nhóm
lao động này là rất khó. Lề lối làm ăn trong ngành nông nghiệp truyền thống
và tình trạng ruộng đất manh mún, nhỏ lẻ như hiện nay đã hạn chế tính chủ
động, sáng tạo của người nông dân trong sản xuất, kinh doanh, cũng như khả
năng tiếp cận thị trường của người lao động. Vì vậy , nâng cao chất lượng lao
động nông thôn đang là yêu cầu cấp thiết đặt ra để đấy mạnh sự phát triển
kinh tế nông nghiệp- nông thôn và góp phần vào sự phát triển kinh tế chung
của đất nước.
II.Thực trạng chất lượng lao động nông thôn Việt Nam
1. Thực trạng thể lực lao động nông thôn
Nền tảng đầu tiên của nguồn nhân lực là thể trạng và sức khoẻ, đây là kết
quả tổng hợp của nhiều nhân tố: đời sống thuận lợi, môi trường vệ sinh, chăm
sóc sức khoẻ ban đầu tốt, chế độ dinh dưỡng đầy đủ và hợp lý, chế độ khám
chữa bệnh, điều kiện thể dục thể thao, hưởng thụ văn hoá, học tập
SV: Đỗ Thị Huyền Trang 5 Lớp: Kinh tế phát triển 49B
Đề án chuyên ngành GVHD: Th.S Phí Thị Hồng Linh
Theo số liệu thống kê của Viện dinh dưỡng Việt nam , xem xét chiều cao
trung bình và cân nặng trung bình ở khu vực nông thôn giai đoạn từ 2005-2008:
Bảng 1: Chiều cao trung bình của dân cư khu vực nông thôn
Đơn vị: cm
Khu vực Giới Nhóm tuổi Trung bình
Nông thôn
Nam
25-34 162.43
sức khoẻ của người lao động nông thôn còn hạn chế nhất là về cân nặng và chiều
cao. Điều này chịu ảnh hưởng rất lớn của việc sinh hoạt ăn uống hàng ngày , chi
phối bởi mức thu nhập. Do dân số và lao động tăng nhanh, năng suất lao động
thấp kém vì vậy mức thu nhập của dân cư nông thôn rất thấp.
Mạng lưới y tế cơ sở đã được mở rộng và củng cố tới tận cấp xã nhưng
đầu tư chưa thoả đáng nên chất lượng khám chữa bệnh và chăm sóc sức khoẻ
cho người dân còn hạn chế. Mặt khác, chế độ đãi ngộ cho các cán bộ y tế nhất
là cán bộ ở vùng sâu vùng xa chưa thoả đáng nên không khuyến khích được
cán bộ y tế ở địa phương. Số lượng, bác sỹ, dược sỹ đại học ở tuyến huyện
còn ít, chất lượng hạn chế và cơ cấu chưa hợp lý. Tình trạng ô nhiễm môi
trường cũng đang trở thành vấn đề nghiêm trọng ở nhiều vùng nông thôn Việt
Nam. Trong sản xuất nông nghiệp tình trạng lạm dụng phân thuốc hoá học
làm ô nhiễm đất, nước và tồn dư thuốc cao trong nông sản chưa được kiểm
soát có hiệu quả, trong tình hình dịch bệnh của gia súc, gia cầm diễn biến
phức tạp, có bệnh có khả năng lây lan cho người nhưng ở phần lớn nông thôn,
gia súc, gia cầm vẫn nuôi xen kẽ trong các khu dân cư ,tất cả những điều trên
đều gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe người lao động.
2. Thực trạng trình độ học vấn lao động nông thôn Việt nam
Học vấn là một trong những chỉ tiêu quan trọng phản ánh chất lượng lao
động. Kết quả của cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 cho thấy tỷ
lệ biết chữ của dân số từ 15 tuổi trở lên là 94%, tỷ lệ biết chữ ở thành thị cao
hơn nông thôn do có khoảng cách phát triển giữa thành thị và nông thôn. Tuy
nhiên trong những năm gần đây, nhờ có chính sách phổ cập giáo dục tiểu học
và xóa mù chữ nên sự chênh lệch về tỷ lệ biết chữ giữa khu vực thành thị và
nông thôn là rất thấp : dưới 5% ( 96.9% ở khu vực thành thị và 92.0% ở khu
vực nông thôn ).
SV: Đỗ Thị Huyền Trang 7 Lớp: Kinh tế phát triển 49B
Đề án chuyên ngành GVHD: Th.S Phí Thị Hồng Linh
Trình độ học vấn lao động nông thôn có thể được phân tổ theo 5 nhóm ,
bao gồm : nhóm lao động chưa đi học, nhóm lao động chưa tốt nghiệp tiểu
trung bình thể hiện rõ chất lượng học sinh nông thôn thấp hơn nhiều so với
thành thị. Theo các nhà nghiên cứu, năng suất lao động sẽ tăng nếu người
nông dân có trình độ học vấn ở mức độ nào đó, và nếu tốt nghiệp phổ thông,
mức tăng này là 11%. Ngoài ra trình độ học vấn còn cho người lao động khả
SV: Đỗ Thị Huyền Trang 8 Lớp: Kinh tế phát triển 49B
Đề án chuyên ngành GVHD: Th.S Phí Thị Hồng Linh
năng lĩnh hội những kiến thức, kinh nghiệm sản xuất kinh doanh. Với chất
lượng của nguồn nhân lực nông thôn Việt Nam như vậy sẽ hạn chế người lao
động trong sản xuất và kinh doanh, đặc biệt là tự tạo việc làm.
Trình độ học vấn lao động nông thôn còn thể hiện qua chỉ tiêu số năm
đi học bình quân, tuy nhiên còn có sự cách biệt khá lớn về số năm bình quân
đi học giữa lao động ở nông thôn và thành thị . Chẳng hạn ở nhóm lao động
từ 15-19 tuổi, đối với lao động nam, số năm đi học của lao động ở nông thôn
là 7,6 năm, trong khi đó số năm đi học của lao động ở thành thị là 8,8 năm.
Tương tự với lao động nữ ở nhóm này là : nông thôn 7,4 năm và thành thị
9,4 năm.
3. Thực trạng trình độ chuyên môn kĩ thuật của lao động nông thôn
Việt nam
Nhìn chung trình độ chuyên môn kĩ thuật của lao động nông thôn vẫn
còn khá thấp. Năm 2005, lao động có trình độ chuyên môn kĩ thuật chỉ chiếm
16,88% trong tổng lực lượng lao động nông thôn. Trong đó, lao động nông
thôn có trình độ cao đẳng, đại học trở lên chỉ chiếm 2,12% trong tổng lực
lượng lao động nông thôn. Bên cạnh đó, có tới trên 27,6 triệu lao động nông
thôn không có trình độ chuyên môn kĩ thuật (lao động phổ thông), chiếm
83,12% trong tổng lực lượng lao động nông thôn. Tỷ lệ này cao hơn rất nhiều
so với khu vực thành thị (tỷ lệ lao động phổ thông chỉ chiếm 49,3%). Điều tra
năm 2006 cho thấy hơn 83% lực lượng lao động nông thôn chưa qua đào tạo,
trong số gần 17% còn lại (khoảng 5,6 triệu người) đã qua đào tạo thì chỉ có
hơn 2% có bằng cao đẳng hoặc đại học (khoảng 0,7 triệu người), hơn 3%
(hơn 1 triệu người) tốt nghiệp trung học chuyên nghiệp, gần 3% khác (gần 1
đào tạo nghề không chính thức như cơ sở nghề truyền thống hoặc các Trung
tâm học tập cộng đồng. Với năng lực của hệ thống cơ sở đào tạo nghề trên,
hàng năm khoảng 1.700.000 ngườicó thể được đào tạo (quy mô tuyển sinh
năm 2007 là 1.436.000 người). Năng lực thực tế này là thách thức lớn đối với
số lao động nông thôn chưa qua đào tạo là gần 28 triệu người (2005) và mục
tiêu của nghị quyết trung ương 7 là nâng tỷ lệ lao động nông thôn qua đào tạo
năm 2020 đạt trên 50%. Khả năng đáp ứng nhu cầu học nghề của hệ thống
SV: Đỗ Thị Huyền Trang 10 Lớp: Kinh tế phát triển
49B
Đề án chuyên ngành GVHD: Th.S Phí Thị Hồng Linh
dạy nghề hiện tại là rất nhỏ - đây là trở ngại phải giải quyết sớm để phát triển
nguồn nhân lực nông thôn.
III. Giải pháp nâng cao chất lượng lao động nông thôn Việt nam
Trước xu thế phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ, của toàn cầu
hoá và đặc biệt sự nổi lên của nền kinh tế tri thức, đầu tư vào nguồn nhân lực
con người đang thực sự được coi là hướng ưu tiên số một của nhiều quốc gia.
Đầu tư vào con người, vào nguồn nhân lực đang trở thành yếu tố có tác động
mạnh mẽ nhất đến tăng trưởng kinh tế.
Bên cạnh các lợi thế cạnh tranh hữu hình như tài nguyên thiên nhiên, vị
trí địa lí, nguồn vốn thì lực lượng lao động dồi dào, đặc biệt là lao động
nông thôn chính là lợi thế cạnh tranh lớn của nước ta. Vì vậy, cần có các giải
pháp phát triển nguồn lao động nông thôn gắn với chất lượng đáp ứng được
nhu cầu phát triển kinh tế đất nước trong qúa trình hội nhập.Phát triển nguồn
nhân lực cho nông thôn Việt Nam là nhiệm vụ liên quan đến nhiều mặt đời
sống, thu nhập, môi trường, giáo dục, y tế và đào tạo nghề, cần có sự tham gia
của nhiều ngành, nhiều cấp từ trung ương tới địa phương. Bên cạnh các biện
pháp tổng hợp như qui hoạch sản xuất và khu dân cư nông thôn, phát triển
cộng đồng nông thôn, xây dựng văn hoá mới và phát huy truyền thống dân
tộc, bảo vệ và phát triển môi trường nông thôn, công tác phát triển nguồn
nhân lực nông thôn của ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn cần tập
bộ đảm bảo chất lượng. Thực hiện hỗ trợ một phần bảo hiểm y tế cho lao
động nông thôn và 100% cho đối tượng chính sách, đối tượng khó khăn.
3. Các giải pháp về đào tạo nghề :
Đào tạo nghề đã góp phần tích cực đáp ứng được yêu cầu của chính sách
chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động trong nông thôn. Đào tạo nghề
cho lao động, nhất là cho lao động trẻ nông thôn những năm gần đây phát
SV: Đỗ Thị Huyền Trang 12 Lớp: Kinh tế phát triển
49B
Đề án chuyên ngành GVHD: Th.S Phí Thị Hồng Linh
triển nhanh chóng, đã bước đầu đáp ứng nhu cầu sử dụng lao động trẻ qua đào
tạo nghề tại các địa phương và các vùng.
Đào tạo nghề cho các lao động làm việc trong lĩnh vực nông lâm ngư
nghiệp dựa trên hình thức đào tạo tại chỗ là chủ yếu nhằm nâng cao kỹ năng
sản xuất góp phần nâng cao năng suất lao động trong sản xuất nông nghiệp
nói chung. Đồng thời cần hoàn thiện hệ thống cơ sở dạy nghề trên phạm vi cả
nước trong đó số lượng và quy mô cụ thể cần dựa trên quy hoạch cụ thể. Tuy
nhiên, về mặt không gian cần chú ý bố trí mạng lưới cơ sở đào tạo gắn chặt
với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế để đảm bảo cung cấp một cách hiệu
quả nhất lao động cho các ngành kinh tế trên từng vùng lãnh thổ. Các hình
thức đào tạo cần được đa dạng hóa nhằm đáp ứng tối đa các yêu cầu của
người học nhất là những lao động nông thôn nghèo, các nhóm người yếu thế
qua đó xây dựng các chương trình dạy nghề phù hợp với từng nhóm đối
tượng. Một trong những chính sách cần đặc biệt quan tâm đổi mới là chính
sách hỗ trợ dạy nghề cho nông dân cần giảm dần tính bình quân hoá kinh phí
dạy nghề và thay đổi hình thức hỗ trợ nhằm sử dụng nguồn vốn hỗ trợ một
cách hiệu quả.
Đào tạo nghề cho lao động nông thôn chuyển sang hoạt động trong các
lĩnh vực sản xuất phi nông nghiệp là một hoạt động cực kì quan trọng phục vụ
cho mục tiêu chuyển dịch cơ cấu sản xuất. Hình thức đào tạo nghề cho đối
tượng này cũng cần được nhanh chóng cải tiến, lấy trọng tâm là các trường
SV: Đỗ Thị Huyền Trang 15 Lớp: Kinh tế phát triển
49B
Đề án chuyên ngành GVHD: Th.S Phí Thị Hồng Linh
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình kinh tế phát triển – Nhà xuất bản Lao động xã hội.
2. Tổng điều tra dân số và nhà ở 1/4/2009 – Tổng cục thống kê.
3. Kết quả khảo sát mức sống hộ gia đình – Tổng cục thống kê.
4. Niên giám thống kê Việt Nam
SV: Đỗ Thị Huyền Trang 16 Lớp: Kinh tế phát triển
49B
Đề án chuyên ngành GVHD: Th.S Phí Thị Hồng Linh
SV: Đỗ Thị Huyền Trang 17 Lớp: Kinh tế phát triển
49B