Phân tích thống kê ảnh hưởng của các nhân tố đến mức sinh ở Việt Nam hiện nay - Pdf 38

Chuyên đề tốt nghiệp

1

khóa 45

LỜI NÓI ĐẦU
Năm 1957, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc nhất trí thông qua nghị quyết
về các vấn đề dân số trong đó kêu gọi các nước thành viên tính đến mối quan
hệ tương hỗ giữa phát triển kinh tế và biến đổi dân số và cổ vũ các chính phủ
đi theo con đường “kế hoạch hóa gia đình” để giảm bớt sự gia tăng dân số quá
nhanh. Đăc biệt đối với các nước đang phát triển chịu ảnh hưởng trầm trọng
của vấn đề bùng nổ dân số đã ngày càng quan tâm đến chương trình kiểm soát
mức sinh. Theo dự báo của Liên Hợp Quốc thì ngay cả khi các quốc gia đã có
những nỗ lực và thành công nhất định trong công tác dân số thì quy mô dân số
thế giới vẫn có khả năng đạt đến con số 8 tỷ người vào năm 2025, cho dù ngày
nay hơn một nửa số cặp vợ chồng trên thế giới đã tích cực sử dụng các biện
pháp tránh thai và họ đã có ít con hơn cha mẹ mình thì số trẻ sinh ra hàng năm
vẫn lớn hơn nhiều so với vài chục năm trước đây, bởi số người bước vào tuổi
sinh đẻ lớn hơn nhiều so với số người bước ra khỏi độ tuổi sinh đẻ.
Ở nước ta , từ đầu thập niên 60 đến nay, Đảng và nhà nước luôn quan
tâm đến việc hoạch định và thực thi chính sách dân số quốc gia, nhằm giảm
mức sinh và nâng cao chất lượng dân số, phân bố dân cư hợp lý. Chính sách
dân số hướng tới giảm sinh ở Việt Nam ra đời cách đây gần 40 năm, được
đánh dấu bằng nghị quyết 216/CP ngày 26/12/1961 của hội đồng Chính Phủ.
Thời điểm đó dân số nước ta mới có khoảng 30 đến 31 triệu người. Điều đó
chứng tỏ nhà nước ta đã sớm ý thức được tầm quan trọng của việc kiểm soát
mức sinh. Khi xác định mục tiêu của sinh đẻ không chỉ đơn thuần là hạn chế
quy mô dân số mà mục đích quan trọng là “ vì sức khỏe bà mẹ, vì hạnh phúc
và sự hòa thuận của gia đình, đề cao việc nuôi dạy con cái được tốt…”. Mặt


ở Việt Nam.
Đề tài được hoàn thành là nhờ sự hướng dẫn nhiệt tình của TS.Phạm
Đại Đồng. Em xin chân thành cảm ơn thầy.

Phan Thị Huyền

LớpThống Kê KTXH


Chuyên đề tốt nghiệp

3

khóa 45

CHƯƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ MỨC
SINH.3
1.1.Khái niệm và các chỉ tiêu đánh giá mức sinh.3
Trước khi tìm hiểu về một vấn đề nào đó, chúng ta phải biết khái niệm
về nó . Vậy mức sinh là gì?.
1.1.1.Khái niệm về mức sinh.3
Trong dân số học, từ sinh sản chỉ sự sinh sản của phụ nữ, nó liên quan
đến số con đẻ ra mà một người phụ nữ thực có. Sinh sản đối lập với không
sinh sản.
Sinh sản khác vơí khả năng sinh sản. Đó là khả năng sinh lý, khả năng
có thể có con. Có khả năng sinh sản đôí lập với vô sinh.
Mức sinh trước hết phụ thuộc vào khả năng sinh sản của các cặp vợ
chồng, sau đó các yếu tố khác như tuổi kết hôn, ý muốn về số con , trình độ
phát triển kinh tế xã hội, thời gian chung sống của các cặp vợ chồng…Mức
sinh phản ánh mức sinh đẻ thực tế của một dân cư trong thời gian nghiên cứu.

cho một tập hợp dân cư, một tập hợp phụ nữ hiện tại trong một thời kỳ nhất
định thường là một năm. Để phân tích mức sinh, người ta thường dùng các chỉ
tiêu sau:
1.1.2.1. Tỷ số trẻ em so với phụ nữ trong độ tuổi có khả năng sinh đẻ.4
C WR =

P0 − 4
W15- 49

Trong đó CWR: Tỷ số trẻ em so với phụ nữ
P0−4 : số trẻ từ 0-4 tuổi
W15- 49 : số phụ nữ trong độ tuổi có khả năng sinh đẻ.

CWR là chỉ tiêu đơn giản nhất để đánh giá mức độ sinh của dân cư mà
không cần số liệu chi tiết cụ thể. Trong điều kiện thiếu số liệu, CWR lại được
sử dụng làm cơ sở để ước lượng gián tiếp mức sinh. Nhưng đây chỉ là cách đo
lường rất thô, mức độ chính xác không cao.
1.1.2.2. Tỷ suất sinh thô.4
CBR =

B
P

CBR: tỷ suất sinh thô.

Phan Thị Huyền

LớpThống Kê KTXH




Bx
Wx

ASFR x : tỷ suất sinh đặc trưng theo tuổi x.
B x : số trẻ em sinh ra trong năm của những người phụ nữ tuổi x.
Wx : số lượng phụ nữ trung bình trong năm của tuổi x.

Tỷ suất sinh đặc trưng theo tuổi phản ánh mức độ sinph đẻ của từng độ
tuổi phụ nữ. Nó đòi hỏi số liệu phải chi tiếtp, nên nhiều khi không đủ số liệu
để tính toán. Trong thực tế, chỉ tiêu này thường được tính cho một năm đối với
Phan Thị Huyền

LớpThống Kê KTXH


6

Chuyên đề tốt nghiệp

khóa 45

mọi độ tuổi theo phương pháp tiếp cân ngang để đánh giá mức sinh của năm
nghiên cứu.
1.1.2.5. Tổng tỷ suất sinh.6
TFR =

x49

7




Chỉ số về mức sinh ngoài hôn nhân ( I h ).

Phan Thị Huyền

LớpThống Kê KTXH


Chuyên đề tốt nghiệp

7

khóa 45

Các chỉ số này so sánh mức sinh hiện tại của một nước (địa phương)
trong thời kỳ nào đó với mức sinh cao nhất có thể đạt được. Ông đã dùng
phương pháp chuẩn hóa gián tiếp. Các bước tiến hành như sau:


Tìm mức sinh cao nhất đã đạt được từ trước đến nay.



Xác định mức sinh dự tính, chuẩn hóa theo mức sinh cao nhất có

thể đạt được.



khóa 45

dòng của cùng một đoàn hệ, hoặc có thể xác định mức sinh cộng dồn theo
cùng đoàn hệ sinh. Mức sinh cộng dồn đến tuổi 50 là tổng tỷ suất sinh của
đoàn hệ đồng sinh.
Ngoài ra, người ta còn xác định mức sinh cho các đoàn hệ kết hôn.
Thước đo sử dụng để mức sinh của đoàn hệ kết hôn là tỷ suất sinh đặc thù theo
độ dài hôn nhân.
1.2. Những cơ bản liên quan đến việc nghiên cứu mức sinh.8
Khi nghiên cứu về mức sinh, vấn đề đặt ra là những yếu tố nào liên
quan đến việc nghiên cứu mức sinh? Sau đây là một số vấn đề cơ bản cần tìm
hiểu.
1.2.1. Quy mô gia đình .8
Mỗi gia đình là một tế bào của xã hội. Tại nơi đây những đứa trẻ ra đời
và là nơi nuôi dưỡng chúng lớn lên. Một gia đình có quy mô lớn hay nhỏ phụ
thuộc vào số lượng những đứa trẻ được sinh ra. Một trong các phương pháp để
các nhà nghiên cứu nhận biết về thái độ và những chuẩn mực ảnh hưởng đến
quy mô gia đình là đặt ra câu hỏi cơ bản như: “Theo bạn, số trẻ em tối ưu cần
sinh ra là bao nhiêu?”. Sau đó tìm hiểu vì sao người được phỏng vấn lại thích
một con số cụ thể như vậy. Một số nhà dân số học cho rằng những câu hỏi như
vậy là vô nghĩa, không đáng tin cậy. Tuy vậy việc đo lường quy mô gia đình
lý tưởng cho phép ta rút ra sự phân biệt giữa các xã hội hay bộ phận dân số có
tiêu chuẩn về quy mô gia đình lớn, nhỏ. Các nước phát triển và một số nước
Châu Á có quy mô gia đình lý tưởng là một đến hai con. Nhưng con số này lại
lớn hơn nhiều ở những nước Châu Phi. Nhìn chung, phụ nữ ít tuổi mong muốn
số con ít hơn phụ nữ nhiều tuổi.

Phan Thị Huyền

LớpThống Kê KTXH

nhất một con trai. Những gia đình sinh nhiều lần mà vẫn toàn con gái thì tiếp
tục sinh để đạt được mục đích này, đặc biệt là nông thôn. Đối với những gia

Phan Thị Huyền

LớpThống Kê KTXH


Chuyên đề tốt nghiệp

10

khóa 45

đình đã có hai, ba hoặc bốn con nếu đã có ít nhất một con trai thì khả năng
sinh thêm con sẽ giảm đi.
1.2.3 . Nhận thức về biện pháp tránh thai.10
Số con mà một bà mẹ muốn sinh ra cũng phụ thuộc vào nhận thức và
thái độ của họ đối với các biện pháp tránh thai. Nói đến các biên pháp tránh
thai cũng tức là nói đến việc hạn chế sinh đẻ, kế hoạch hóa gia đình. Một số
hình thức cụ thể như áp dụng biện pháp tránh thai, nạo phá thai…là những
nhân tố quyết định liên quan đến hạn chế sinh. Từ kế hoạch hóa gia đình được
sử dụng theo một nghĩa hạn chế hơn, vì nạo phá thai thường không được coi là
một biện pháp kế hoạch hóa gia đình. Tỷ lệ tránh thai thịnh hành là tỷ lê phần
trăm số phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ đanpg sử dụng một biện phâp tránh thai
nào đó.
Mặc dù hiện nay trình độ dân trí của người dân đã tăng lên. Nhưng sự
hiểu biết về các biện pháp tránh thai vẫn còn hanj chế. Thậm chí có nhiều
người đã từng nghe nói đến một số biện pháp tránh thai, nhưng họ không có
hiểu biết đầy đủ về hậu quả và việc áp dụng đúng đắn biện pháp đó. Ở Việt


Chi phí cơ hội: Là những loại chi phí hay thu nhập mà cha mẹ bị

mất do phải nuôi dưỡng con cái. Ki con còn quá nhỏ, người mẹ phải bỏ việc
để nuôn con. Khi đó, cha mẹ sẽ mất đi khoản tiền do việc đi làm trước đây
mang lại. Hoặc nếu bà mẹ vẫn tiếp tục đi làm nhưng lại phải trả các khoản chi
phí cho người con, thì phần này cũng có thể được coi là chi phí cơ hội bởi vì
bà mẹ có thể không phải trả khoản này nếu không có con.
Từ những chi phí trên cho thấy, các cặp vợ chồng quyết định sinh nhiều
con không phải là một quyết định đúng đắn. Chi phí nuôi dưỡng trẻ thì cao mà
lợi ích kinh tế lại thấp. Mặt khác, các khoản lương trợ cấp xã hội được đảm
bảo cũng có nghĩa là cha mẹ không cần con cái trợ cấp họ khi tuổi già. Nhưng
điều này thường phù hợp với những nước có điều kiện kinh tế phát triển. Còn
với những nước đang phát triển lại có chiều hướng khác. Ở đó chi phí kinh tế
thấp hơn nhiều, nhất là ở những vùng nông thôn, những vùng mà trẻ em không
được đi học. Từ còn rất bé, những đứa trẻ đã phải tham gia lao đôngj giúp đỡ
gia đình . Chúng đóng góp vào thu nhập gia đình bằng việc đi làm đồng, nuôi
gia súc, gia cầm…. Khi cha mẹ già yếu, những đứa con sẽ là chỗ dựa duy
nhất. Caldwell đã minh họa thực tế này theo một cách khác. Theo ông, ở
những nước phát triển thì dòng của cải đi từ cha mẹ đến người con, còn ở
những nước đang phát triển, dòng của cải này theo chiều hướng ngược lại, từ

Phan Thị Huyền

LớpThống Kê KTXH


Chuyên đề tốt nghiệp

12

Lợi ích và đảm bảo về kinh tế: Con cái có thể đóng góp vào kinh

tế gia đình nhờ việc làm đồng, làm thuê cho bên ngoài hay làm ở các xưởng
kinh doanh của gia đình…Trẻ em cũng có thể đảm nhận những công việc nhà

Phan Thị Huyền

LớpThống Kê KTXH


Chuyên đề tốt nghiệp

13

khóa 45

tạo điều kiện cho các bà mẹ làm các công việc khác để có thu nhập cao hơn.
Khi bố mẹ già, con cái là người chăm sóc, nuôi dưỡng đặc biệt đối với những
bậc cha mẹ không có lương và các khoản trợ cấp xã hôi khác.


Nuôi dạy con cái cũng là cơ hội học hỏi của cha mẹ. Người phụ

nữ khi có đứa con đầu tiên_khi mang vai trò làm mẹ sẽ trở lên trưởng thành
hơn và có trách nhiệm hơn. Không có con, những người đã kết hôn vẫn chưa
được chấp nhân một cách đầy đủ là người trưởng thành hay là thành viên đầy
đủ của cộng đồng.


Phần thưởng lớn nhất cho cha mẹ khi nuôi dạy con cái là nhìn


Phan Thị Huyền

LớpThống Kê KTXH


Chuyên đề tốt nghiệp



14

khóa 45

Cha mẹ ít có thời gian quan tâm đến nhau hơn, nhiều khi có thể

xảy ra cãi cọ về việc chăm sóc con cái. Đây chính là chi phí gia đình.
Nhìn chung các bậc cha mẹ ở nông thôn nhấn mạnh lợi ích kính tế và
thực dụng của con cái. Còn ở thành thị, bố mẹ lại quan tâm nhiều đến tình
cảm, tâm lý của việc có con.
1.2.5. Sự khác biệt về mức sinh14
Mức sinh giữa các nhóm dân số khác nhau tùy theo địa vị, trình độ văn
hóa, khu vực sống thành thị hay nông thôn và hình thức tôn giáo.
1.2.5.1. Mức sinh và địa vị.14
Địa vị ở đây được xét cả mặt kinh tế và mặt xã hội. Về mặt kinh tế, một
thực tế thường thấy là những người nghèo lại có xu hứớng sinh nhiều con mặc
dù điều kiện của họ không cho phép nuôi dạy con cái tốt. Những người nghèo
thường có trình độ hiểu biết thấp, họ tự biện hộ cho hành vi sinh đẻ nhiều của
mình rằng “trời sinh voi sinh cỏ”. Đối với họ những đứa trẻ là một nguồn lao
động. Họ không hoặc ít quan tâm đến chất lượng con cái. Những đứa con vẫn

dẫn đến tỷ suất sinh thấp hơn, nhưng mối quan hệ thực sự giữa hai biến số này
vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ. Giáo dục chắc chắn ảnh hưởng đến độ tuổi
kết hôn. Trình độ học vấn của phụ nữ cao chắc chắn dẫn đến làm tăng độ tuổi
kết hôn và ở một sốnước làm giảm xác suất đã từng kết hôn. Ngoài ra trình độ
văn hóa cũng liên quan mật thiết với thái độ ngày càng ưa dùng các biện pháp
hạn chế sinh, sự hiểu biết tốt hơn về các biện pháp tránh thai và tăng cường
mối quan hệ vợ chồng. Hawthorn nhận xét “điều sẽ đúng cho tất cả các xã hội
là sự hiểu biết về hạn chế sinh khác nhau phụ thuộc trực tiếp vào sự nhận thức
theo kiểu thành thị hay nơi cư trú, trình độ văn hóa và mức thu nhập cao hơn
mức trung bình”. Trình độ văn hóa còn ảnh hưởng đáng kể đến các yếu tố
khác như thái độ về quy mô gia đình lý tưởng, chi phí và lợi ích của trẻ em.
1.2.5.2. Sự khác biệt giữa nông thôn và thành thị.15
Nông thôn và thành thị có điều kiện sống khác nhau. Và mức sinh cũng
theo đó mà có sự khác biệt rõ rệt. Ở những nước phát triển, mức sinh ở nông
thôn nói chung cao hơn so với ỏ thành phố. Đối với những nước Châu Âu, quá
trình giảm sinh dường như đã bắt đầu ở khu vực thành thị và những thành phố

Phan Thị Huyền

LớpThống Kê KTXH


Chuyên đề tốt nghiệp

16

khóa 45

lớn giảm sinh sớm hơn va nhanh hơn so với những khu vực hành chính sự
nghiệp nhỏ hơn.


17

khóa 45

là nhân tố đáng kể ảnh hưởng đến số con sinh ra của một người phụ nữ.Người
theo Thiên chúa thường có mức sinh cao hơn so với người Do Thái hay đạo
Tin Lành. Và hầu hết các nghiên cứu đề cho thấy người theo đạo Hồi thường
có mức sinh cao hơn so với những người không phải đạo Hồi.
Để giải thích ảnh hưởng của tôn giáo tĩn ngưỡng đến sự khác biệt về
mức sinh, các nhà nghiên cứu đã đưa ra ba giả thiết sau đây:
 Giả thuyết đặc tính: Theo giả thuyết này thì sự khác nhau giữa các
thành viên trong cộng đồng tôn giáo và tôn giáo tín ngưỡng được
xem như là một chỉ số về trình độ văn hóa, nghề nghiệp, thu nhập,
nơi cư trú nông thôn , thành thị và động thái xã hôi.
 Giả thuyết thần học đặc trưng: Theo giả thuyết này, tôn giáo ảnh
hưởng đến mức sinh thông qua học thuyết nhà thờ, hoặc lý tưởng tôn
giáo cụ thể đối với các biện pháp hạn chế sinh và các Để giải thích
theo học thuyết này thì các đặc trưng kinh tế xã hội được cố định.
 Giả thuyết về địa vị của nhóm thiểu số cho rằng: Những điều kiện
xác định sự không an toàn của nhóm thiểu số làm giảm mức sinh của
họ xuống dưới mức của nhóm đa số.
Trên đây là 3 giả thiết về ảnh hưởng chung của tôn giáo. Vậy sự khác
biệt về mức sinh giữa các đạo giáo như thế nào? Chúng ta sẽ tìm hiểu về đạo
Thiên chúa giáo và Hồi giáo.
Xu hướng chung của người Thiên chúa giáo La Mã là khuyến khích
đông con. Lý do được đưa ra là họ ủng hộ quy mô gia đình lớn và không chấp
nhận các biện pháp tránh thai có hiệu quả cao nhẩt. Mặc dù vậy một số lượng
lớn những người Thiên chua giáo đã thực tế áp dụng các biện pháp chưa được
thông qua. Trong một số xã hộ mà người Thiên chúa giáo chiếm ưu thế đã có

đình . Tuy vậy, một số biện pháp kế hoạch hóa gia đình vẫn được áp dụng.
Xuất tinh ngoài âm đạo, kéo dài khoảng cách giữa các lần có thai là biện pháp
được mọi người ủng hộ rộng rãi nhằm bảo vệ sức khỏe bà mẹ bằng việc kéo
dài khoảng cách giữa các lần mang thai. Ngày nay nhiều chính phủ, các nhà
lãnh đạo Hồi giáo ủng hộ chương trình kế hoạch hóa gia đình. Kết quả là tỷ lệ
người sử dụng biện pháp tránh thai ở nhiều nước Hồi giáo đã tăng lên, mức
sinh đã giảm xuống.

Phan Thị Huyền

LớpThống Kê KTXH


19

Chuyên đề tốt nghiệp

khóa 45

1.3. Tái sinh sản.19
Tái sinh sản là quá trình thay thế thế hệ dân số này bằng thế hệ dân số
khác
nhờ quá trình sinh đẻ. Tái sinh sản là khâu chủ yếu của quá trình tái sản xuất
dân số. Muốn duy trì số lượng dân, duy trì nòi giống, cần thiết phải có quá
trình sinh sản và quá trình đó phải diễn ra liên tục.
Đánh gia mức độ tái sinh sản thường dựa vào các chỉ tiêu chủ yếu sau
đây:
1.3.1. Tỷ suất tái sinh thô.19
49


Thứ nhất, xuất phát từ 1000 người con gái mới sinh, có bao nhiêu người
sống được đến tuổi bà mẹ và sinh ra sinh ra được bao nhiêu người con gái.
49

NRR = θ * ∑ ASFR x * l w, x
x =15

NRR: Tỷ suất tái sinh thô.
l w, x : hệ số sống của những bà mẹ từ khi mới đẻ đến tuổi sinh đẻ.

Theo công thức này thì tỷ suất tái sinh tinh là số bé gái trung bình được
sinh ra của những bà mẹ, có tính đến hệ số sống sót đến tuổi sinh đẻ của thế hệ
bà mẹ.
Thứ hai, xuất phát từ những người con gái được sinh ra bởi các bà mẹ
và sống đuợc đến tuổi bà mẹ sinh ra mình.
NRR = GRR * l m
49

NRR = θ * ∑ ASFR x * l m
x =15

l m : Hệ số sống của những người con gái từ khi sinh ra đến tuổi bà mẹ.

Theo cách tiếp cận này thì tỷ suất tái sinh tinh là là số lượng bé gái
trung bình được sinh ra của một bà mẹ, sống được đến tuổi bà mẹ sinh ra
mình.
Mức độ tái sản xuất dân số được đánh giá thông dqua tỷ suất tái sinh
tinh. Nếu NRR =1 là tái sản xuất giản đơn. NRR>1, là tái sản xuất mở rộng,
NRR
i

* Li * X i

49

∑ ASFR

i =15

i

* Li

Trong đó µ : Tuổi đẻ trung bình trong năm.
Li

: Số người sống trung bình độ tuổi (nhóm tuổi) nào đó.

X i : tuổi trung bình trong nhóm tuổi (độ tuổi).

µ càng lớn chưa hẳn đã làm giảm mức sinh, mà ngược lại có thể làm

tăng mức sinh nếu sinh đẻ nhiều, nếu ở độ tuỏi cao vẫn sinh.
1.3.4. Khoảng cách sinh..21
Khoảng cách sinh đuợc định nghĩa là thời gian giữa hai lần sinh ra sống
liên tiếp nhau và thường được đo theo số tháng.
Để lấy số liệu cho phân tích khoảng cách sinh, chúng ta lấy số liệu từ
tổng điều tra dân số hoặc khảo sát về lịch sử sinh đẻ. Cách đơn giản là tính độ
dài trung bình khoảng cách sinh của các bà mẹ có cùng thứ tự sinh. Song, cái

e = lim (1 +
n →∞

1
= 2.718
n)

Gọi T là độ dài thế hệ bà mẹ (từ khi người con gái mới sinh đến khi trở
thành bà mẹ).
Nếu tốc độ tăng dân số nữ giống tốc độ tăng dân số chung thì sau mỗi
thế hệ bà mẹ dân số nữ sẽ tăng lên e rt . Số tăng này sẽ phù hợp với tỷ suất tái
sinh tinh, nghĩa là NRR = e rt .
Lấy lôgarit theo cơ số e ta có:
lnNRR=rT
T=

ln NRR
r

Từ cônh thức (1) có thể xác định được thời gian dân số tăng lên gấp đôi:
2 P0 = P0 * e rt
2 = e rt

Ln2=rt
t=

Phan Thị Huyền

ln 2
r

để điều tiết được nó?
2.1. Cơ sở lý luận.24
Từ giữa thế kỷ XIX, đã có nhiều công trình khoa học phân tích các nhân
tố ảnh hưởng đến mức sinh, như lý thuyết mao dẫn xã hội Pháp, lý luận tiêu
dùng vi mô và mức sinh của G.Beeker, phương pháp của Kinh Davis và Judith
Blake của Ronald Freedman, mô hình sinh tổng hợp của John Bongarts …
nhìn chung, các phân tích này đều đã khẳng định ảnh hưởng của các nhân tố
sinh học và kinh tế xã hội đến mức sinh. Sau đây là một số mô hình về nhân tố
ảnh hưởng đến mức sinh của một số nhà dân số học.
• Phương pháp của Kinh Davis và Judith Blake:
Davis và Blake là hai nhà nghiên cứu đã tạo ra một hệ thống các biến số
có vai trò trung gian giữa các biến số hành vi và trung gian. Trong hệ thống
của họ, có 3 loại biến số cần thiết cho quá trình tái sinh sản:
- Những biến số xác định xác suất giao hợp như: Tuổi kết hôn lần đầu,
tỷ lệ phụ nữ chưa từng có quan hệ tình dục, tỷ lệ ly hôn, góa và tái giá, khả
năng kết hôn...
- Những biến số xác định xác suất thụ thai như: Thời gian cho con bú
bằng sữa mẹ, việc sử dụng các biện pháp tránh thai, tình trạng vô sinh...
- Những biến số xác định xác suất thụ thai dẫn đến sinh con sống như:
Nạo thai, sẩy thai.
Sinh sản không thể tự diễn ra nếu không có quan hệ tình dục, thụ thai và
thai nghén thành công. Do vậy, Davis và Blake đã sử dụng hệ thống biến số

Phan Thị Huyền

LớpThống Kê KTXH


25



Mức sinh

• Mô hình sinh tổng hợp của John Bongaarts:
John Bongaarts là nhà nghiên cứu dân số học đã trình bày một hệ thống
các biến số trung gian, ảnh hưởng của chúng đối với tình trạng mức sinh cao
hay thấp. Ông chia làm 4 loại biến số sau:

Phan Thị Huyền

LớpThống Kê KTXH



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status