1
Lời mở đầu
20 năm qua với sự nỗ lực phấn đấu không ngừng của toàn
Đảng, toàn dân, công cuộc đổi mới ở nước ta đã đạt được những
thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử. Cùng với sự phát triển kinh tế,
các vấn đề xã hội nói chung cũng được quan tâm ở mức độ thích
đáng; việc làm, thu nhập, đời sống của đội ngũ lao động và sau lao
động không ngừng được cải thiện. Là một bộ phận của chính sách bảo
hiểm xã hội , chế độ hưu trí đang là vấn đề bức xúc hiện nay, bởi lẽ
nó ảnh hưởng rất lớn đến đời sống người lao động khi về già. Trong
bối cảnh nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị
trườngcó sự quản lý của Nhà nước, khi mà có sự phân tầng và phân
cực xã hội đang diễn ra ngày càng rõ nét giữa người lao động và
người sử dụng lao động nên chế độ bảo hiểm hưu trí phải là sự tương
trợ cộng đồng, là người trẻ giúp người già nhằm giảm bớt những bất
cập bảo đảm xã hội, bảo đảm cuộc sống vật chất và tinh thần cho
người lao động khi về hưu an dưỡng lúc tuổi già.
Để thực hiện yêu cầu này, trong những năm gần đây Nhà
nước đã đầu tư rất nhiều cho việc nghiên cứu cải cách chế độ bảo
hiểm xã hội nói chung, chế độ bảo hiểm hưu trí nói riêng. Cho đến
nay, những nguyên tắc cơ bản của bảo hiểm hưu trí đã được luật hoá
và định hình một cách cụ thể bằng việc ban hành luật bảo hiểm xã hội
mới có hiệu lực từ ngày 1/1/2007. Vì chế độ bảo hiểm hưu trí giữ vị
trí quan trọng trong hệ thống bảo hiểm xã hội, là vấn đề quan tâm của
tất cả mọi người lao động, nên việc đi sâu tìm hiểu, phân tích, đánh
__________________________ ______________________________________
2
3
Chương II: Những điểm mới của chế độ bảo hiểm hưu trí theo
luật BHXH 2006
Chương III: Đánh giá và kiến nghị hoàn thiện chế độ bảo hiểm
hưu trí ở nước ta.
__________________________ ______________________________________
4
Chương i
khái quát chung về bảo hiểm hưu trí
và sự cần thiết đổi mới chế độ bảo hiểm hưu trí
1.1. Khái quát chung về chế độ bảo hiểm hưu trí:
1.1.1. Quan niệm về chế độ bảo hiểm hưu trí:
Con người muốn tồn tại và phát triển trước hết phải lao
động, trong quá trình lao động con người luôn luôn tác động vào tự
nhiên và tác động qua lại lẫn nhau để tạo ra những sản phẩm, những
giá trị cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của mình. Sản phẩm tạo ra
càng nhiều thì đời sống con người càng đầy đủ, văn minh – nghĩa là
việc thỏa mãn những nhu cầu sinh sống và phát triển của con người
phụ thuộc vào khả năng lao động của chính họ. Nhưng một mặc,
trong quá trình tác động, khai thác tự nhiên, con người luôn chịu sự
tác động của quy luật khách quan, các điều kiện tự nhiên và điều kiện
xã hội, những tác động này nhiều khi con người không kiểm soát nổi
làm ảnh hưởng lớn đến quá trình sinh sống, làm việc của người lao
động. Mặc khác cuộc sống con người luôn tuân theo quy luật: Sinh ra,
còn mở rộng thêm những chế độ khác ngoài bảo hiểm xã hội và xuất
hiện khái niệm mới Social Security (an sinh, an toàn xã hội). Bản
tuyên ngôn nhân quyền do Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua
ngày 10/12/1948 cũng quy định:”Tất cả mọi người với tư cách là
thành viên của xã hội có quyền hưởng bảo đảm xã hội … quyền đó
được đặt ra trên cơ sở sự thoả mãn các quyền về kinh tế, xã hội “.
Trong xã hội hiện đại, các Nhà Nước cũng nhận thấy rằng người lao
1
Xem: C. Mác – Ph.Ăngghen tuyển tập, t5. Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1984.
__________________________ ______________________________________
6
động là nguồn lực chính, là thành phần quan trọng nhất của xã hội .
Nếu cuộc sống của những người lao động và những người không còn
tham gia vào quan hệ lao động nữa gặp khó khăn sẽ ảnh hưởng trực
tiếp đến sản xuất, đến vấn đề ổn định xã hội. Vì vậy, bảo hiểm xã
hội , bảo hiểm hưu trí luôn được chính phủ các nước coi là một trong
những chính sách cơ bản mà Nhà Nước cần quan tâm. Trong đó, chế
độ bảo hiểm hưu trí có tầm quan trọng đặc biệt đối với người lao
động, là một trong các trụ cột của bảo hiểm xã hội. Do đó, đến nay,
hầu hết các nước có quy định về bảo hiểm xã hội trên thế giới đều quy
định và thực hiện chế độ bảo hiểm hưu trí, với mục đích nhằm đảm
bảo quyền lợi hợp pháp của người lao động sau khi đã hoàn thành
nghĩa vụ lao động đối với xã hội, đảm bảo ổn định cuộc sống cho
người lao động khi họ đã hết tuổi lao động về nghỉ hưu an dưỡng lúc
tuổi già.
Điều 25 đến Điều 30 trong phần V của công ước. Các trường hợp
được bảo vệ là tình trạng sống lâu hơn một độ tuổi quy định. Độ tuổi
quy định không được quá 65, tuy nhiên các nhà chức trách có thẩm
quyền có thể ấn định một độ tuổi cao hơn, xét theo khả năng làm việc
của những người cao tuổi trong nước đó.
Công ước số 128 ngày 7/6/1967: công ước về trợ cấp tàn tật,
tuổi già và tiền tuất quy định thêm: “nếu độ tuổi quy định bằng hoặc
cao hơn 65, độ tuổi đó phải được hạ thấp trong những điều kiện quy
định nhằm mục đích cấp trợ cấp tuổi già, đối với những người đã làm
những công việc được pháp luật quốc gia coi là nặng nhọc hoặc độc
hại.
__________________________ ______________________________________
8
Người được bảo vệ đã có một thâm niên 30 năm đóng góp hay
làm việc. Mức trợ cấp tối thiểu so với thu nhập (trước đó) là 40% (với
người có vợ ở tuổi về hưu). Các trường hợp nhận trợ cấp phải được
trả trong suốt thời gian xảy ra trường hợp bảo vệ. Tuy nhiên, trợ cấp
có thể bị đình chỉ nếu người thụ hưởng tiến hành những hoạt động có
thu nhập đã được quy định, hoặc có thể giảm bớt trợ cấp có tính chất
đóng góp khi thu nhập của người đó vượt quá một mức quy định và
có thể giảm bớt trợ cấp không có tính chất đóng góp khi thu nhập hay
những phương tiện sinh sống khác của người đó, hoặc cả hai thứ cộng
lại vượt quá một mức quy định.
Trên đây là những quy phạm tối thiểu mà tổ chức lao động
quốc tế (ILO) đã đưa ra, các quốc gia là thành viên phê chuẩn công
ước chịu sự ràng buộc về nghĩa vụ pháp lý, nghĩa là khi công ước có
hiệu lực thì nước đó phải áp dụng trong pháp luật và thực tiễn nước
hạn, trong đó có chế độ bảo hiểm hưu trí đối với người lao động. Sắc
lệnh 54/SL ngày 1/1/1945 ấn định những điều kiện cho công chức về
hưu. Sắc lệnh 105/SL ngày 14/6/1946 ấn định cấp hưu bổng cho công
chức. Sắc lệnh 76 ngày 20/5/1950 ấn định cụ thể hơn chế độ trợ cấp
hưu trí đối với công chức. Sắc lệnh 77 ngày 22/5/1950 ấn định cụ thể
các chế độ trợ cấp hưu trí đối với công nhân. Tuy nhiên, do hoàn cảnh
chiến tranh kéo dài , kinh tế còn nghèo nàn nên chính sách bảo hiểm
xã hội , bảo hiểm hưu trí còn hạn chế. Sau hoà bình lặp lại, ngày
27/12/1961 Chính phủ đã ban hành điều lệ bảo hiểm tạm thời kèm
theo Nghị định số 218/CP về bảo hiểm xã hội cho công nhân viên
chức Nhà Nước trong đó có chế độ hưu trí. Tiếp đến ngày 18/9/1995
__________________________ ______________________________________
10
cùng với việc cải cách chế độ tiền lương , Hội đồng bộ trưởng ban
hành Nghị định số 236/HĐBT sửa đổi bổ sung các quy định về cách
quy đổi thời gian công tác, cũng như quy định lại cách tính lương hưu
trong chế độ hưu trí.
Tuy nhiên, chính sách bảo hiểm xã hội nói chung và chế độ bảo
hiểm hưu trí nói riêng thực sự có thay đổi căn bản bắt đầu từ năm
1993 với nghị định số 43/CP (ngày 23/6/1993) và tiếp sau đó là các
quy định của Bộ luật lao động và các văn bản hướng dẫn thi hành .
Những đổi mới qua tất cả các thời kỳ đều tập trung vào các nội dung
quan trọng của bảo hiểm hưu trí như đối tượng tham gia, điều kiện
tuổi đời, thời gian đóng và hưởng trợ cấp .
Như vậy, Việt Nam cũng như các nước khác, chế độ hưu trí là
một trong những chế độ bảo hiểm xã hội được Nhà nước hết sức quan
tâm, luôn có sự sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện cho phù hợp với thực
lương mà người lao động và người sử dụng lao động đóng góp vào
quỹ bảo hiểm thì có tới 15% dành chế độ hưu trí và tử tuất. Thời gian
người lao động hưởng chế độ hưu trí thường lâu dài nên chế độ này
ảnh hưởng, chi phối tới đời sống của người lao động nhiều hơn so với
các chế độ bảo hiểm xã hội khác. Nó có vai trò hết sức quan trọng
trong đời sống kinh tế – xã hội của mỗi quốc gia, điều đó đã được
chứng minh trong thực tế, tất cả những người tham gia vào bảo hiểm
xã hội đều có mong muốn được tham gia và hưởng chế độ hưu trí. Vì
vậy, có thể thấy vai trò của chế độ bảo hiểm hưu trí từ 2 góc độ sau:
__________________________ ______________________________________
12
Đối với người lao động: Chế độ bảo hiểm hưu trí có vài trò rất
lớn cho việc bù đắp về thu nhập, đảm bảo đời sống vật chất cho người
lao động khi họ bị mất thu nhập từ lao động nghề nghiệp do hết tuổi
lao động, về nghỉ hưu an dưỡng. Tiền lương hưu mà họ nhận được là
kết qủa tích luỹ trong suốt quá trình làm việc thông qua việc đóng góp
vào quỹ bảo hiểm xã hội. Đây là khoản thu nhập chủ yếu và là chỗ
dựa chính nhằm đảm bảo cuộc sống cả về vật chất lẫn tinh thần cho
người lao động trong quãng đời còn lại sau quá trình lao động. Có thể
khi lúc về già, nhiều người lao động cũng có những khoản tích luỹ, có
chỗ dựa là con cháu, song phần lớn là họ trông cậy vào khoản trợ cấp
hưu trí. Hơn nữa, khoản trợ cấp hưu trí này còn là chỗ dựa tinh thần
cho những người hết tuổi lao động. Những người về hưu sẽ cảm thấy
yên tâm trong cuộc sống khi họ được hưởng lương hưu, không bị mặc
cảm là gánh nặng xã hội.
Đối với nhà nước và xã hội: Nhà nước là người trực tiếp tổ chức,
phù hợp với tình hình kinh tế –chính trị – xã hội. Do đó, chế độ bảo
hiểm xã hội đã thể hiện được tính nhân đạo của bảo hiểm xã hội đối
với con người. Đồng thời, chế độ hưu trí còn khơi dậy và giữ vững
đạo lý tốt đẹp của dân tộc về tương trợ cộng đồng, săn sóc và quan
tâm đến người cao tuổi cũng như phản ánh trình độ văn minh của một
chế độ xã hội.
Như vậy, chính sách bảo hiểm hưu trí nhìn chung phải là một
chính sách mang tính lâu dài, tương đối ổn định. Chế độ bảo hiểm hưu
trí là một trong những vấn đề xã hội, đang dành được sự quan tâm rất
__________________________ ______________________________________
14
lớn của người lao động, của Nhà nước, của ILO và các tổ chức Quốc
tế khác.
1.2. Đánh giá chung về thực trạng bảo hiểm hưu trí trước khi ban
hành Luật BHXH 2006
Bảo hiểm hưu trí là chính sách lớn của Đảng và Nhà nước ta,
luôn được ghi nhận trong các văn kiện của Đảng và Hiến pháp qua các
thời kỳ. Để tổ chức thực hiện, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản
quy phạm pháp luật về bảo hiểm hưu trí, trong đó quy định các chế độ,
chính sách bảo hiểm hưu trí đối với những lao động về hưu an dưỡng
tuổi già, trong đó có cả những người trong lực lượng vũ trang.
1.2.1. Những nội dung hợp lý
Sau một thời gian thực hiện pháp luật về bảo hiểm hưu trí đã
mang lại những kết quả đáng ghi nhận:
Một là, đối tượng tham gia bảo hiểm hưu trí đã được mở rộng
đến tất cả các thành phần kinh tế:Nhà nước và phi Nhà nước.
a, Về ban hành chính sách bảo hiểm xã hội
Điều lệ bảo hiểm xã hội đã ra đời từ cách đây hơn 10 năm mà
đến năm 2006 vẫn mang tính tạm thời, các văn bản chỉ đạo thực hiện,
sửa đổi, bổ sung các chế độ cụ thể vẫn là các văn bản dưới luật, cộng
với sự tuân thủ pháp luật chưa nghiêm đã hạn chế nhiều đến hiệu quả
trong thực tế. Mặc khác, chế độ bảo hiểm hưu trí được sửa đổi quá
nhiều lần trở lên chắp vá, thiếu tính khoa học, nhiều nội không hợp lý
và thiếu thống nhất.
b, Về phạm vi đối tượng
__________________________ ______________________________________
16
Trong suốt thời gian qua, đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội
bắt buộc tuy đã được mở rộng nhưng với số người tham gia chưa
nhiều. Hiện nay, trong khoảng hơn 10 triệu người có quan hệ lao động
thì chỉ mới có 6 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội, chủ yếu vẫn là
lao động thuộc khu vực Nhà nước; số lao động làm việc ở khu vực
ngoài quốc doanh tham gia bảo hiểm xã hội thấp, chỉ chiếm khoảng
20% tổng số lao động thuộc diện phải tham gia bảo hiểm xã hội.
c, Về chế độ bảo hiểm hưu trí hàng tháng
Các quy định về quyền lợi và trách nhiệm của người lao động
được quy định trong chế độ hưu trí này chưa hợp lý:
+ Công thức đóng/ hưởng chưa hợp lý:
- Công thức tính lương hưu hàng tháng còn có sự phân
biệt giữa lao động nam và lao động nữ, trong khi tỷ lệ đóng bảo hiểm
là như nhau. Điều đó là không công bằng giữa các lao động này.
- Đối với người lao động hưởng hưu trí hàng tháng với
mức thấp thì sẽ giảm 1% mức bình quân của tiền lương tháng làm căn
BHXH của từng tháng nhân với khu vực liên doanh, tư nhân,...
- Công thức áp dụng cho người đồng thời đóng hai loại
BHXH trên:
Tổng số TL làm căn cứ
+
Tổng số TL làm căn
Mức bình
đóng BHXH theo thang
cứ
quân tiền
bảng lương do Nhà nước
đóng BHXH không
lương tháng
quy định
theo
= để tính
thang lương bảng do
chưa linh hoạt, vì hiện nay, trong một số lĩnh vực, ngành nghề (ví dụ:
nghiên cứu khoa học, bác sĩ, giáo viên, ...) mặc dù đã đến tuổi về hưu
nhưng đa số họ vẫn đủ sức khỏe và đang phát huy kinh nghiệm làm
việc. Như vậy, quy định này vừa lãng phí lao động, vừa dẫn đến thất
thu và bội chi quỹ bảo hiểm xã hội.
d, Về chế độ bảo hiểm hưu trí một lần:
__________________________ ______________________________________
19
+ Về đối tượng hưởng hưu trí 1 lần, pháp luật cũ còn quy định
quá nhiều đối tượng và không có sự thống nhất giữa các văn bản:
Theo nghị định số 01/2003/NĐ-CP thì chỉ có 2 trường hợp được
hưởng hưu trí 1 lần: người lao động định cư hợp pháp ở nước ngoài và
trường hợp người lao động nghỉ việc đã đủ tuổi nghỉ hưu hoặc suy
giảm khả năng lao động từ 61% trở lên do ốm đau, tai nạn lao động,
bệnh nghề nghiệp nhưng chưa đủ thời gian đóng BHXH để hưởng hưu
trí hàng tháng. Đến thông tư 07/2003/TT-BLĐTBXH lại cho phép
người lao động nghỉ việc chưa đủ điều kiện hưởng hưu trí hàng tháng
nhưng nếu 6 tháng không tiếp tục làm việc thuộc đối tượng tham gia
bảo hiểm xã hội bắt buộc mà người lao động có đơn tự nguyện thì sẽ
giải quyết trợ cấp bảo hiểm xã hội 1 lần.
+ Về mức lương bảo hiểm hưu trí 1 lần quy định là mỗi năm
đóng BHXH tính bằng 1 tháng lương bình quân làm căn cứ đóng bảo
hiểm xã hội. Mức lương này là quá thấp, không tương xứng với mức
đóng.
e, Việc tổ chức thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội:
Vấn đề này còn một số hạn chế, chưa có giải pháp tích cực để
chống tình trạng chiếm dụng, nợ đọng tiền đóng BHXH. Tồn tại này
độ bảo hiểm hưu trí, giải quyết các tồn tại trên theo hướng:
+ Cần pháp điển hoá các chế định về bảo hiểm hưu trí trong một
văn bản thống nhất, trên cơ sở kế thừa và phát huy những thành tựu
đạt được.
__________________________ ______________________________________
21
+ Mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội nói chung và bảo
hiểm hưu trí nói riêng, không chỉ theo hình thức bắt buộc mà còn theo
hình thức tự nguyện.
+ Xác định công thức đóng – hưởng hợp lý trên cơ sở: thống
nhất dần cách tính bảo hiểm giữa các thành phần kinh tế, giải quyết
chế độ hưu trí cho lao động nữ một cách hợp lý, thống nhất điều kiện
về thời gian đóng để hưởng bảo hiểm hưu trí hàng tháng…
+ Cần tách chế độ bảo hiểm hưu trí với các chế độ, chính sách
khác.
+ Cần có quy định về đầu tư, quản lý quỹ bảo hiểm xã hội để
quỹ phát triển hiệu quả, đảm bảo cân đối thu – chi.
Bên cạnh đó, sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam trong
những năm qua cũng đòi hỏi bảo hiểm xã hội phải có sự đổi mới
tương ứng.
Qua 20 năm đổi mới, nền kinh tế nước ta đã có những thay đổi
cơ bản từ một nền kinh tế tự cung, tự cấp, khép kín với cơ chế quản lý
tập trung, bao cấp, chúng ta đã chuyển sang nền kinh tế thị trường,
định hướng XHCH, không những đã thoát khỏi khủng hoảng và lạm
phát mà đã có sự tăng trưởng. Sau khi kết thúc kế hoạch 5 năm (1991
– 1995), với hầu hết các chỉ tiêu kế hoạch đều hoàn thành và hoàn
(Nguồn:
/>thongke/kt_xh/2005/122005/b3 được lưu vào ngày 1/5/2007 05:40:12
GMT của Google). Theo báo cáo mới nhất về “Tổng quan kinh tế
châu á 2006” của ngân hàng phát triển châu á (ADB) thì tăng trưởng
kinh tế của Việt Nam đạt 7,8%, dự báo là 7,6% cho năm 2007. Theo
công bố của Tổng cục Thống kê, tăng trưởng tổng sản phẩm trong
nứơc của năm 2006 tăng 8,17% so với năm 2005. Cũng trong 20 năm
qua, cơ cấu kinh tế có những chuyển biến tích cực theo hướng công
nghiệp hoá - hiện đại hoá gắn sản xuất với thị trường, gắn nhập khẩu
với xuất khẩu, coi xuất khẩu là hướng đột phá để phát triển kinh tế. Về
chuyển dịch cơ cấu ngành, thể hiện rõ nhất thông qua việc điều chỉnh
tỷ trọng từng nganh trong cơ cấu GDP, so sánh năm 2005 với năm
1988 thì thấy: tỷ trọng nông nghiệp trong GDP từ 46,3% giảm xuống
còn 21%, tỷ trọng công nghiệp và xây dựng tăng từ 21,6% lên 41%, tỷ
trọng dịch vụ tăng từ 33% lên 38%. Những số liệu trên đây cho ta thấy
nền kinh tế nước ta tăng trưởng với tốc độ tương đối cao, năm sau cao
hơn năm trước. Trên cơ sở đó, Nhà nước đã năm lần điều chỉnh mức
lương tối thiểu nhằm phù hợp với thực tế tăng trưởng và biến động giá
cả, tiền tệ, kéo theo sự tăng trưởng tương ứng của lương hưu và trợ
cấp. Điều đó đã tác động đến sự ổn định của bảo hiểm hưu trí cũng
__________________________ ______________________________________
23
như việc hoạch định và quản lý quỹ bảo hiểm xã hội, đòi hỏi có sự
thay đổi, tính toán cho phù hợp.
thấy Việt Nam đã có kinh nghiệm để hoàn thiện bảo hiểm xã hội nói
chung và bảo hiểm hưu trí nói riêng phù hợp với điều kiện mới củă
nền kinh tế thị trường.
Xuất phát từ tình hình nói trên, việc ban hành luật BHXH nhằm
pháp điển hoá các quy định hiện hành và bổ sung các quy định mới về
bảo hiểm xã hội cho phù hợp với quá trình chuyển đổi sang nền kinh
tế thị trường định hướng XHCN, đáp ứng nguyện vọng đông đảo của
người lao động, đảm bảo an sinh xã hội và hội nhập quốc tế.
__________________________ ______________________________________
25
Chương ii:
những điểm mới của chế độ bảo hiểm hưu trí theo Luật Bảo hiểm
xã hội 2006
Để khắc phục những vấn đề còn tồn tại của chế độ Bảo hiểm hưu
trí, đồng thời đáp ứng nguyện vọng của đông đảo những người lao
động trong nước, phù hợp với các quy định Quốc tế, Luật Bảo hiểm
xã hội ra đời đã có sự thay đổi đáng kể về bảo hiểm hưu trí. Trong đó,
có một số điểm mới cơ bản sau đây: các quy định về điều kiện hưởng,
mức hưởng lương hưu hàng tháng với mức thấp, nâng mức hưởng trợ
cấp một lần, cách tính bình quân tiền lương tháng, điều chỉnh tiền
lương trên cơ sở chỉ số giá sinh hoạt của từng thời kỳ theo quy định
của Chính phủ. Cụ thể như sau:
2.1. Chế độ bảo hiểm hưu trí hàng tháng:
2.1.1. Điều kiện hưởng bảo hiểm hưu trí hàng tháng
a) Điều kiện về thời gian đóng bảo hiểm
Luật Bảo hiểm xã hội 2006 bổ sung quy định thời gian đóng bảo