ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA ĐỊA LÝ
--- ---
BÀI TIỂU LUẬN
HỌC PHẦN: LÝ LUẬN DẠY HỌC ĐỊA LÝ
Đề tài:
PHƯƠNG PHÁP TÍCH HỢP GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG
TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÝ Ở TRUNG HỌC CƠ SỞ
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
SINH VIÊN THỰC HIỆN
PGS-TS.NGUYỄN NGỌC MINH
TRẦN THỊ THANH DỊU
MSSV: 13S6031024
LỚP ĐỊA 3
Huế, tháng 4 năm 2016
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA ĐỊA LÝ
--- ---
tránh khỏi những thiếu sót, vì vậy tôi rất mong
nhận được ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo và
các bạn sinh viên để đề tài được hoàn thiện hơn.Em
xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên thực hiện
Trần Thị Thanh Dịu
MỤC LỤC
MỤC LỤC.........................................................................................................................4
A.MỞ ĐẦU.......................................................................................................................1
1. Lí do chọn đề tài............................................................................................................1
B. NỘI DUNG..................................................................................................................6
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ TÍCH HỢP GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG TRONG
DẠY HỌC ĐỊA LÝ Ở TRUNG HỌC CƠ SỞ.................................................................6
1.1. Một số vấn đề chung về môi trường......................................................................6
1.1.1. Khái niệm môi trường.........................................................................................6
Tại khoản 1 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường ngày 29 tháng 11 năm 2005 quy định:
“Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người,
có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh
vật”.[11] 1.1.2. Cấu trúc của môi trường tự nhiên.......................................................6
1.1.5. Một số vấn đề cấp bách về môi trường hiện nay...........................................7
1.2. Quan niệm về giáo dục môi trường.....................................................................10
1.2.1. Khái niệm giáo dục môi trường....................................................................10
1.3. Quan niệm tích hợp..............................................................................................11
1.3.1. Khái niệm......................................................................................................11
1.3.2. Mục đích tích hợp trong dạy học..................................................................11
1.3.3. Mục đích tích hợp giáo dục môi trường trong dạy học................................11
1.4. Đặc điểm tâm sinh lí học sinh Trung học cơ sở.................................................12
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG DẠY HỌC TÍCH HỢP GIÁO MÔI TRƯỜNG TRONG
3.6.1. Yêu cầu trong lựa chọn phương pháp..........................................................31
3.6.2. Các phương pháp tích hợp giáo dục môi trường..........................................32
C. KIẾN NGHỊ ĐỀ XUẤT.............................................................................................42
1. Đối với cán bộ cấp trên...........................................................................................42
2. Đối với giáo viên.....................................................................................................42
2. Đối với học sinh......................................................................................................43
D. KẾT LUẬN................................................................................................................43
E. TÀI LIỆU THAM KHẢO..........................................................................................44
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
Từ hoặc cùm từ
Bảo vệ môi trường
Dân số
Giáo dục môi trường
Khu công nghiệp
Môi trường
Phương pháp dạy học
trong những năm gần đây, tốc độ suy thoái của môi trường gia tăng rất nhanh
gây nên những hậu quả nghiêm trọng, điểm hình nhất là sự nóng lên toàn cầu,
biến đổi khí hậu, nước biển dâng, ô nhiễm môi trường và cạn kiệt tài nguyên,...
đe dọa đến cuộc sống của hàng triệu người trên thế giới. Nguyên nhân cơ bản
dẫn tới tình trạng suy thoái môi trường là do sự thiếu hiểu biết, thiếu ý thức của
con người. GDMT là một trong những biện pháp hữu hiệu nhất, kinh tế nhất và
có tính bền vững trong các biện pháp để thực hiện mục tiêu BVMT và phát triển
bền vững đất nước. Thông qua giáo dục, từng người và cộng đồng được trang bị
kiến thức về môi trường, ý thức BVMT, năng lực phát hiện và xử lý các vẫn đề
về môi trường. Trong đó giáo dục ý thức BVMT cho học sinh là vẫn đề quan
trọng nhất vì các em đang ngồi trên ghế nhà trường hôm nay sẽ tiếp tục việc bảo
vệ môi trường sống của chính bản thân các em cũng như toàn nhân loại trong
tương lai. Trong công tác này các thầy cô giáo có vai trò hết sức quan trọng khi
triển khai công tác giáo dục BVMT cho phù hợp với khả năng nhận thức của
học sinh cũng như phù hợp điều kiện của nhà trường và địa phương.
Vấn đề GDMT cho học sinh là rất cần thiết. Việc hình thành cho học sinh
tình yêu thiên nhiên, yêu quê hương đất nước, tôn trọng và có ý thức bảo vệ các
di sản thiên nhiên, thân thiện với môi trường, quan tâm đến môi trường sống của
cá nhân, gia đình và của cộng đồng,bảo vệ rừng,nguồn nước, không khí, đất
đai,...chủ động và tích cực tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường, phê phán
hành vi có hại cho môi trường,...những điều đó phụ thuộc nhiều vào nội dung và
cách thức giáo dục trong nhà trường cũng như ngoài xã hội. GDMT cần được
đưa vào chương trình giáo dục nhằm bồi dưỡng tình yêu thiên nhiên, xây dựng
kĩ năng và thói quen BVMT.
Trong chương trình Địa lý THCS, học sinh được nghiên cứu tìm hiểu về các
thành phần ,quá trình và các quy luật diễn ra trong môi trường tự nhiên. Điều đó
liên quan chặt chẽ đến môi trường, qua đó giáo viên có thể vừa cung cấp kiến
1
xây dựng các phương tiện giảng dạy GDMT [14].
Tiếp theo hội nghị các khu vực, từ 14 đến 26 tháng 10 năm 1977, một hội
nghị quốc tế về GDMT được tổ chức tại Tbilisi (Cộng hòa Grudia), gồm 66 đại
biểu của 66 nước thành viên của UNESCO. Hội nghị này là đỉnh cao của giai
đoạn xây dựng chương trình và đặt cơ sở cho sự phát triển GDMT trên bình diện
quốc tế.Sau các hội nghị trên, một hội nghị quốc tế về GDMT do UNESCO và
UNEP được tổ chức từ 17 đến 21 tháng 08 năm 1987 tại Matsxcơva, gồm 300
chuyên gia của 100 nước và các quan sát viên IUCN (Hội thảo bảo vệ tài
2
nguyên và thiên nhiên quốc tế) cùng các tổ chức quốc tế khác tham gia. Hội thảo
đã đề ra 9 mục tiêu và chiến lược hành động quốc tế trong lĩnh vực GDMT và
đào tạo giáo viên cho thập kỉ 90.Các chương trình được phát triển trong thời kì
này yêu cầu phải nhấn mạnh đến mối quan hệ giữa con người và sinh quyển
trong mọi lĩnh vực kinh tế xã hội, văn hóa và sinh thái. Hội nghị đã đặt tên cho
thập kỉ này là: “Thập kỷ toàn thế giới cho GDMT”. GDMT ngày càng phát triển
rộng khắp, chỉ tính từ năm 1985 IEEP đã liên quan trực tiếp với 133 nước từ các
vùng khác nhau trên Trái Đất. Đã có 25.000 học sinh của các trường phổ thông
trung học và cơ sở, khoảng 10.000 giáo viên và khoảng 1.500.000 các nhà giáo
dục, các nhà hành chính - giáo dục đã và đang đóng góp cho nghiên cứu GDMT
[3].Nhìn chung, chương trình giáo dục môi trường trong nhà trường trên thế giới
tập trung vào bốn hướng chính: Thứ nhất là chiến lược tích hợp; thứ hai là các
kiến thức đưa thành môn riêng; thứ ba là đưa thành các chủ đề; thứ tư là ở nhiều
nước phối hợp cả ba phương thức trên cho phù hợp với điều kiện dạy học từng
nước và từng cấp học khác nhau.
Trong ba phương thức này, phương thức tích hợp được hầu hết các nước
chấp nhận.
3.2. Ở Việt Nam
Vấn đề GDMT đã và đang thu hút được sự quan tâm đông đảo của các nhà
- Xác định nội dung tích hợp GDMT qua chương trình SGK Địa lý THCS.
- Xác định các phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục để tiến hành tích
hợp GDMT trong dạy học Địa lí THCS
- Nâng cao chất lượng dạy học Địa lý và GDMT ở cấp THCS từ đó nâng cao
ý thức và định hướng hành động BVMT cho học sinh.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng hợp cơ sở lí luận, cơ sở thực tiễn về GDMT
- Xác định nội dung tích hợp GDMT trong các bài Địa lý ở THCS
- Đưa ra các phương pháp, hình thức tổ chức để tích hợp GDMT trong
dạy học Địa lý ở THCS.
5. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Phương pháp tích hợp GDMT trong dạy học Địa lý
ở THCS
- Khách thể nghiên cứu: Quá trình tích hợp giáo dục môi trường dạy học Địa
lý ở THCS
6. Giới hạn nghiên cứu
- Đề tài nghiên cứu nội dung, phương pháp, hình thức tích hợp GDMT trong
dạy học chương trình Địa lý cấp THCS. Có nhiều hình thức tích hợp trong dạy
học nhưng đề tài chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu tích hợp lòng ghép nội dung
giáo dục môi trường trong dạy học Địa lý.
- Đề tài giới hạn trong chương trình SGK cấp THCS (từ lớp 6 đến lớp 9)
- Về thời gian: Đề tài nghiên cứu trong học kì II năm học 2015-2016
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp thu thập, phân tích, tổng hợp tài liệu
Phương pháp này được thực hiện thông qua việc nghiên cứu, kế thừa các
tài liệu lí luận và các tài liệu khác có liên quan như: Lí luận dạy học Địa lí, các
luận văn, các bài báo, bài viết trong hội thảo giáo dục môi trường, trong hội nghị
nghiên cứu khoa học và đổi mới nội dung phương pháp giảng dạy Địa lí… Quá
trình kế thừa có tính chọn lọc, phân tích và xử lý theo yêu cầu của đề tài để phát
hiện được những vấn đề trọng tâm, cũng như còn bỏ ngỏ.
ở THCS
5
B. NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ TÍCH HỢP GIÁO DỤC MÔI
TRƯỜNG TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÝ Ở TRUNG HỌC CƠ SỞ
1.1. Một số vấn đề chung về môi trường
1.1.1. Khái niệm môi trường
Tại khoản 1 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường ngày 29 tháng 11 năm 2005 quy
định: “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh
con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con
người và sinh vật”.[11]
1.1.2. Cấu trúc của môi trường tự nhiên
Môi trường tự nhiên có 2 thành phần cơ bản: môi trường vật lý và môi trường
trường sinh vật [11].
- Môi trường vật lý là thành phần vô sinh của môi trường tự nhiên, bao gồm
đất, nước, không khí, nhiệt độ, nguyên tố hoá học…
- Môi trường sinh vật là thành phần hữu sinh của môi trường tự nhiên, bao
gồm động vật, thực vật, vi sinh vật, vi khuẩn…
Môi trường bao gồm bốn quyển: khí quyển, sinh quyển, thủy quyển, thạch
quyển [9].
1.1.3. Thành phần của môi trường
Thành phần môi trường là yếu tố vật chất tạo thành môi trường như đất, nước,
không khí, âm thanh, ánh sáng, sinh vật, hệ sinh thái và các hình thái vật chất
khác…chúng thuộc một trong bốn quyển của Trái Đất đó là khí quyển, sinh
quyển, thủy quyển, thạch quyển [10].
1.1.4. Vai trò của môi trường
Môi trường đóng vai trò rất quan trọng trong cuộc sống, nó có những chức
đầu người ngày càng thấp, trong khi đó nhu cầu lương thực ngày càng cao
- Suy thoái đa dạng sinh học:
Rừng, các hệ sinh thái biển, các sinh cảnh tự nhiên đang bị phá huỷ (mỗi
năm có khoảng 5% diện tích rừng nhiệt đới bị mất đi. Rừng Amazon mỗi năm bị
phá khoảng 24.000 km2). Cho đến năm 1600 đã có khoảng 85 loài thú và 113
loài chim đã bị tuyệt chủng, tương ứng với 2,1% các loài thú và 1,3% các loài
chim. Xu hướng và tốc độ tuyệt chủng tăng dần và tập trung vào khoảng 150
năm trở lại đây. Từ khoảng năm 1600-1700, tốc độ tuyệt chủng là 10 năm/1 loài,
đến thời điểm từ năm 1850-2000, tốc độ trung bình là 1 năm/1 loài. 2/3 số bãi cá
trên biển đang bị khai thác quá giới hạn tái sinh. Tốc độ suy giảm đa dạng sinh
học ngày càng tăng. Dự tính trong 10 năm đầu thế kỷ 21 sẽ có 25.000 loài sẽ
biến mất. Sự du nhập các loài ngoại lai vào hệ sinh thái bản địa làm phá huỷ hệ
sinh thái ở nhiều vùng trên thế giới.
- Ô nhiễm không khí:
Ô nhiễm không khí ngày càng trầm trọng. Việc thải vào khí quyển quá mức
các loại khí gây hiệu ứng nhà kính đã và đang làm Trái đất nóng dần lên. Nhiệt
độ tăng sẽ gây ra hiện tượng băng tan chảy ở các vùng cực, nước biển dâng lên
sẽ phá huỷ các hệ sinh thái đất ngập nước và những vùng thấp, làm biến đổi khí
hậu toàn cầu.
Biến đổi khí hậu đã làm gia tăng về tần suất và cường độ của các thiên tai
như bão lũ, hạn hán, động đất, sóng thần làm hàng triệu người chết. Băng tan ở
7
Nam cực và Bắc cực do nhiệt độ Trái đất tăng lên; dự báo vào khoảng năm
2070, nhiệt độ trái đất sẽ tăng 2,5 - 4,50C, nước biển dâng cao 0,3-1 m. Tầng
Ôzôn, tấm lá chắn bảo vệ cuộc sống của muôn loài, trong đó có loài người khỏi
tác động xấu của tia cực tím có hại của mặt trời đã và đang bị phá hoại nghiêm
trọng. Lỗ hổng Ôzôn đã đạt mức 27-28 triệu km2 (ở riêng Nam cực).
Số lượng thiên tai gia tăng đáng lo ngại: trong thế kỷ 20, thập kỷ 20 có 50
Nam là một trong những nước có tính đa dạng sinh học vào nhóm cao nhất thế
giới. Thế nhưng, trong 4 thập kỷ qua, theo ước tính sơ bộ đã có 200 loài chim bị
8
tuyệt chủng và 120 loài thú bị diệt vong. Hoạt động buôn bán trái phép động vật
hoang dã diễn ra khá nghiêm trọng. Bên cạnh đó, hơn 100 loài sinh vật ngoại lai
đang hiện diện tại nước ta cũng là mối nguy lớn cho môi trường sinh thái, như:
ốc bươu vàng, cây mai dương, bọ cánh cứng hại dừa, tấn rùa tai đỏ.
- Ô nhiễm sông ngòi: Với những dòng sông ở các thành phố lớn như Hà Nội
hay thành phố Hồ Chí Minh, tình trạng bị ô nhiễm nặng nề là điều dễ dàng nhận
thấy qua thực tế, cũng như qua sự phản ánh trên các phương tiện thông tin đại
chúng. Tuy nhiên, sông ở nhiều vùng nông thôn cũng đang phải đối mặt với tình
trạng ô nhiễm nặng nề do rác thải sinh hoạt, rác thải làng nghề, rác thải nông
nghiệp và rác thải từ các khu công nghiệp vẫn đang từng ngày, từng giờ đổ
xuống. Các dòng sông đang phải đối mặt với tình trạng ô nhiễm nặng nề nhất là:
sông Cầu, sông Nhuệ - Đáy, sông Đồng Nai và hệ thống sông Tiền và sông Hậu
ở Tây Nam Bộ, đồng bằng sông Cửu Long. Những con sông này đã trở nên độc
hại, làm hủy hoại nguồn thủy sản và ảnh hưởng trực tiếp tới môi trường sống,
sức khoẻ của cộng đồng.
- Ô nhiễm từ sản xuất nông nghiệp: Báo cáo mới đây của Bộ Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn cho thấy, nguồn chất thải vào môi trường từ trồng trọt và
chăn nuôi đang có xu hướng gia tăng, trong khi việc kiểm soát chưa đạt hiệu quả
cao.Kết quả điều tra năm 2006 cho thấy, khu vực nông thôn thải ra khoảng 10
triệu tấn/năm chất thải rắn sinh hoạt, nhưng đến năm 2010 tăng lên tới 13,5 triệu
tấn/năm. Số rác thải này cộng với lượng chất thải từ sản xuất nông nghiệp đã
khiến cho tình trạng ô nhiễm môi trường ở khu vực nông thôn ngày càng trở nên
đáng lo ngại.
- Ô nhiễm từ sản xuất công nghiệp: Thống kê cho thấy, năm 2011 mỗi
ngày các KCN nước ta thải ra khoảng tám nghìn tấn chất thải rắn (CTR), tương
hệ, quy luật...) tạo cho học có ý thức, thái độ đối với môi trường; trang bị các kĩ
năng thực hành [3]. Kết quả là học sinh có ý thức trách nhiệm với môi trường và
biết cách hành động thích hợp để bảo vệ môi trường, ứng xử thích nghi thông
minh với môi trường.
1.2.2. Nội dung giáo dục môi trường trong môn Địa lý ở Trung học cơ sở
Kiến thức giáo dục BVMT trong SGK các lớp liên quan đến các vấn đề sau :
- Dân số - Tài nguyên - Môi trường
- Sử dụng hợp lí hay không hợp lí các nguồn tài nguyên thiên nhiên.
- Suy giảm tính đa dạng sinh học.
- Ô nhiễm môi trường.
- Biến đổi khí hậu.
- Đô thị hóa và môi trường.
- Phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường: các biện pháp khai thác tài nguyên
thiên nhiên, các biện pháp kĩ thuật chống ô nhiễm môi trường, các biện pháp
quản lí môi trường...
Trong những vấn đề trên, vấn đề: Dân số - Tài nguyên - Môi trường; sử dụng
tài nguyên thiên nhiên; đô thị hóa và môi trường; phát triển kinh tế và bảo vệ
môi trường được đề cập trong chương trình sách giáo khoa nhiều hơn so với
những vấn đề còn lại. Tuy nhiên, không phải bài học nào, nội dung nào cũng
tích hợp yếu tố giáo dục BVMT, do đó nhiệm vụ quan trọng của người giáo viên
là phải xác định được những kiến thức giáo dục BVMT một cách rõ ràng hoặc
ẩn chứa trong nội dung bài học. Nhìn chung, những kiến thức giáo dục BVMT
trong môn Địa lí THCS có thể phân biệt thành 2 nhóm:
10
- Những kiến thức đề cập đến các thành phần của môi trường, các nguồn tài
nguyên thiên nhiên như địa hình, khí hậu, nước, thổ nhưỡng, sinh vật, các cảnh
quan thiên nhiên, các hiện tượng tự nhiên (như trượt đất, lở núi, động đất, gió
1.3.3. Mục đích tích hợp giáo dục môi trường trong dạy học
Mục đích tích hơp lồng ghép kiến thức môi trường và giáo dục môi trường
thông qua các bài dạy địa lí ở THCS nhằm giúp các em:
- Thu nhận được những thông tin, những kiến thức cơ bản về môi trường và
hiểu sự phụ thuộc lẫn nhau giữa hoạt động của con người và môi trường, về mối
quan hệ giữa con người và môi trường...( Ví dụ: GDMT qua bài 26: Đất, các
11
nhân tố hình thành đất GV cung cấp cho HS những kiến thức về đặc điểm và
các thành phần của đất, giúp các em hiểu được tác động của con người tới môi
trường đất, hậu quả của suy thoái đất đối với hoạt động sống và sản xuất của con
người, sự cần thiết của việc cải tạo và hạn chế sự suy thoái đất,…)
- Phát triển những kĩ năng bảo vệ và giữ gìn môi trường, kĩ năng dự đoán,
phòng tránh và giải quyết những vấn đề môi trường nảy sinh. ( Ví dụ: GDMT
qua bài Bài 15: Các mỏ khoáng sảnGV trang bị kiến thức về các loại khoáng
sản và đặc điểm,tình hình khai thác và sử dụng khoáng sản , từ đó HS có thể
nhận thức khoáng sản là loại tài nguyên không thể phục hồi và dự báo được sự
suy giảm và cạn kiệt của một số loại tài nguyên khoáng sản trong tương lai từ đó
cần phải khai thác, sử dụng các khoáng sản một cách hợp lí và tiết kiệm.
- Tham gia tích cực vào những hoạt động khôi phục, bảo vệ và gìn giữ môi
trường. (Ví dụ: chăm sóc bồn hoa cây cảnh trong nhà trường, trồng cây xanh,
không bẻ cây ngắt cành,thu gom rác thải tại đường làng ngõ xóm hay bãi
biển,phân loại rác thải, tận dụng rác thải có thể tái chế,…)
- Có ý thức về tầm quan trọng của môi trường trong sạch đối với sức khoẻ
con người. Với chất lượng cuộc sống của chúng ta, phát triển thái độ tích cực
đối với môi trường....
- Phân tích được những vấn đề môi trường chứa đựng trong nội dung bài học,
liên hệ được với tình hình môi trường của nước ta, của từng địa phương nơi các
em học tập. Từ đó giáo dục cho các em ý thức, trách nhiệm và hành vi BVMT.
Đây là một thuận lợi cơ bản mà giáo viên cần khai thác triệt để khi tiến hành tích
hợp GDMT vào trong dạy học Địa lí THCS.Việc dạy tích hợp GDMT vào trong
dạy học Địa lí THCS sẽ góp phần thu hút sự quan tâm và phát triển hứng thú
học tập cho các em đối với bộ môn.
- Lứa tuổi này dễ bị tác động từ bên ngoài, các em thấy người lớn làm thì
thường có xu hướng học theo, làm theo, chính vì vậy nhiều em bị ảnh hưởng bởi
người lớn và có những thói quen xấu tới vệ sinh môi trường như vứt rác bừa bãi,
lãng phí nước hay thờ ơ với những hành vi xấu đối với môi trường,…vì vậy cần
giáo dục kịp thời, uốn nắn hành vi và định hướng thái độ hành vi về môi trường
đúng dắn cho học sinh.
- Năng lực tư duy của các em cũng chưa thật hoàn thiện, có nhiều thắc mắc,
chưa định hướng đúng vấn đề,có khi còn vội vàng, thiếu chuẩn xác, do vậy rất
cần sự hướng dẫn của giáo viên để giúp các em nhanh chóng hoàn thiện khả
năng nhận thức của mình. Việc giúp các em phát triển khả năng nhận thức là
một nhiệm vụ quan trọng của giáo viên, vấn đề đặt ra ở đây là làm thế nào để
nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập của học sinh, điều này đòi hỏi phải đổi
mới PPDH nói chung trong đó có sử dụng dạy học tích hợp để thực hiện được
tốt nhiệm vụ đó.
13
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG DẠY HỌC TÍCH HỢP GIÁO MÔI
TRƯỜNG TRONG MÔN ĐỊA LÝ Ở TRUNG HỌC CƠ SỞ
2.1. Thực trạng tích hợp giáo dục môi trường hiện nay trong nhà trường
Trung học cơ sở
2.1.1. Tình hình chung
Trong chỉ thị số 36 - CT/TW ngày 25 tháng 06 năm 2008 Ban chấp hành
Trung ương Đảng về “tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kì công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” đã nêu rõ một trong những giải pháp hàng
học thực hiện nội dung tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường vào trong các tiết
học còn ít.
- Trong thực tế giảng dạy bộ môn Địa lý ở trường THCS, nhiều giáo viên
mới chỉ chú trọng tới việc cung cấp cho học sinh những kiến thức theo đúng yêu
cầu phải đạt được sau môt tiết học. Hơn thế nữa, một tiết học diễn ra trong thời
gian 45 phút cũng khiến nhiều giáo viên “ngại”rèn kĩ năng và tích hợp với các
môn học khác, đặc biệt là với việc hình thành ý thức BVMT cho học sinh.Vì vậy
vấn đề này nhiều khi bị xem nhẹ.
- Một số giáo viên chưa hướng dẫn các em liên hệ những kiến thức đã học
với thực tiễn, chưa rút ra được những bài học từ thực tiễn sau khi được học lý
thuyết
- Một số giáo viên đã có liên hệ thực tiễn, tuy nhiên số lượng vẫn còn hạn
chế và hiệu quả mang lại chưa cao.
- Việc cập nhật thông tin, số liệu, sự kiện ở địa phương của một số giáo viên
chưa liên tục vì vậy quá trình vận dụng tích hợp giáo dục môi trường còn nhiều
hạn chế.
2.1.3. Đối với học sinh
- Việc nắm bắt các kiến thức, nhìn nhận vấn đề còn mông lung (Ví dụ: Các
em chưa hiểu rõ thực trạng của vấn đề ô nhiễm môi trường hiện nay? Hậu quả
mà nó mang đến? nguyên nhân dẫn đến tình trạng đó? Vai trò của mình trong
bảo vệ môi trường?...), các em chưa biết cách vận dụng lí thuyết vào thực tiễn,
các em hiểu “như thế nào là bảo vệ môi trường” nhưng nhiều em không thực
hiện, lười thực hiện hoặc xem nhẹ, không có ý thức bảo vệ môi trường
- Các em học sinh chưa ý thức cũng như chưa đề cao vai trò của bản thân
trong việc BVMT, các em hình tượng khái niệm “bảo vệ môi trường” là vẫn to
lớn, là công việc khó khăn nằm ngoài khả năng của bản thân nên còn xem nhẹ
hành động của bản thân
- Nhiều học sinh chưa tự giác trong việc giữ vệ sinh nơi công cộng, nơi sinh
sống và học tập. Ở trường học, các em còn quá ỷ lại vào việc kiểm tra đôn đốc
của thầy cô trong vệ sinh khuôn viên lớp học và lao động, nhiều lúc chỉ mang
- Tích hợp trong giáo dục là một vấn đề còn mới đối với nhiều nhà trường,
giáo viên, phương diện quản lí, tâm lí học sinh và phụ hunh.
- Nhiều học sinh xem Địa lý là môn phụ, học thuộc nhiều trong khi kiến thức
không nắm vững và còn sao nhãng việc học.
- Trong thực tế giảng dạy bộ môn Địa lý ở trường THCS, nhiều giáo viên
mới chỉ chú trọng tới việc cung cấp cho học sinh những kiến thức theo đúng yêu
cầu phải đạt được sau môt tiết học.
- Một số ít giáo viên chưa xác định rõ trọng tâm kiến thức, chưa có kinh
nghiệm lồng ghép các kiến thức GDMT trong tiết dạy để làm cho tiết học sinh
động hơn. Lượng kiến thức trong mỗi bài nhiều song thời gian cho mỗi tiết học
ít, thời gian cho việc tích hợp GDMT còn hạn chế.
16
- Nhiều nhà trường có cơ sở vật chất kĩ thuật còn thiếu thốn đặc biệt ở vùng
sâu, vùng xa thì công tác tích hợp GDMT cũng gặp không ít khó khăn và trở
ngại.
2.3. Nguyên nhân thực trạng
2.3.1. Đối với giáo viên
Giáo viên phải nhận thức được rằng: Chỉ có thể giảng dạy đạt chất lượng
hiệu quả cao học sinh mới có ý thức tự chủ, chủ động tích cực trong việc khai
thác kiến thức và lĩnh hội kiến thức mới thì mới đáp ứng nhu cầu của việc yêu
cầu đổi mới phương pháp dạy, nội dung chất lượng đào tạo của mỗi học sinh,
đúng với việc thực hiện theo cuộc vận động " Hai không" của Bộ GD-ĐT phát
động với 4 nội dung. Giáo viên phải là người sử dụng thành thạo các phương
pháp dạy học lấy học sinh làm trung tâm, khả năng vận dụng kiến thức bài học
vào vấn đề tích hợp giáo dục môi trường đạt hiệu quả cao nhất. Giáo viên cần
xác định rõ trong chương trình học bài nào, phần nào cần có sự tích hợp vấn đề
GDMT trong đó để định hướng cho học sinh khai thác kiến thức. Giáo viên áp
rộng rãi trong thực tiễn dạy học hay tích hợp nhưng mang lại hiệu quả chưa cao,
vì thế cần rất nhiều nghiên cứu khác để giáo dục môi trường trong trường Trung
học thật sự mang lại hiệu quả cao.
CHƯƠNG 3: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TÍCH HỢP GIÁO DỤC
MÔI TRƯỜNG TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÝ THCS
3.1. Khái quát nội dung chương trình Địa lý Trung học cơ sở
Môn Địa lí trong nhà trường trung học gồm ba mạch nội dung : Địa lí đại
cương, Địa lí thế giới và Địa lí Việt Nam.Ở cấp Tiểu học, học sinh đã tiếp xúc
với một số yếu tố địa lý, các kiến thức ban đầu về địa lý tự nhiên đại cương và
địa lý thế giới và địa lý Việt Nam trong môn Tự nhiên - Xã hội của các lớp 1, 2,
3 và môn Khoa học của lớp 4, 5 và Lịch sử và Địa lí của lớp 4, lớp 5.Lên đến
cấp Trung học, các mạch nội dung của địa lí được củng cố và phát triển dần dần
trong chương trình môn Địa lý từ lớp 6 đến lớp 9.
Mạch nội dung Địa lí đại cương (tự nhiên, kinh tế - xã hội) được đưa vào
chương trình các lớp đầu cấp (lớp 6 và một phần ở đầu lớp 7), nhằm giúp học sinh
có được một hệ thống kiến thức mang tính phổ thông về bản đồ, Trái Đất - môi
trường sống của con người, về dân cư và những hoạt động của dân cư trên Trái
Đất làm cơ sở cho việc học địa lí thế giới và địa lí Việt Nam.
Mạch nội dung Địa lí thế giới (ở các lớp 7, 8) nhằm giúp cho học sinh nắm
được những đặc điểm nổi bật về thiên nhiên, dân cư, kinh tế - xã hội của các
châu lục; về nền kinh tế thế giới đương đại, một số vấn đề mang tính toàn cầu và
địa lý một số khu vực, quốc gia đại diện cho các trình độ phát triển kinh tế - xã
hội khác nhau trên thế giới, góp phần chuẩn bị hành trang cho học sinh bước vào
cuộc sống trong thời đại bùng nổ thông tin và mở rộng giao lưu, hợp tác giữa
nước ta với các nước trong khu vực và trên thế giới.
Mạch nội dung Địa lí Việt Nam được sắp xếp ở những lớp cuối cấp (các lớp
8, 9) nhằm giúp học sinh nắm được những đặc điểm nổi bật về thiên nhiên, dân
cư, kinh tế và các vấn đề đặt ra đối với đất nước, các vùng, địa phương nơi học
sinh đang sống ;chuẩn bị cho phần lớn học sinh ra đời, tham gia lao động sản