ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
KHOA LỊCH SỬ
~~~~~~~~~~
DƯƠNG THỊ TRANG
QUÁ TRÌNH CẢI CÁCH, MỞ CỬA Ở TRUNG
QUỐC VÀ MỘT SỐ SO SÁNH VỚI CÔNG
CUỘC ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM
NIÊN LUẬN NĂM THỨ BA
NGÀNH ĐÔNG PHƯƠNG HỌC
KHÓA 37 (2013 – 2017)
Huế, 7/2016
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
KHOA LỊCH SỬ
~~~~~~~~~~
DƯƠNG THỊ TRANG
QUÁ TRÌNH CẢI CÁCH, MỞ CỬA Ở TRUNG
QUỐC VÀ MỘT SỐ SO SÁNH VỚI CÔNG
CUỘC ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM
NIÊN LUẬN NĂM THỨ BA
NGÀNH ĐÔNG PHƯƠNG HỌC
Organization of Petroleum Exporting Countries (Tổ chức các
nước xuất khẩu dầu lửa)
TW
:
WTO :
Trung ương
Tổ chức Thương mại Thế giới
Niên luận năm thứ 3
MỞ ĐẦU
1.
Lý do chọn đề tài
Trên con đường hội nhập và phát kinh tế luôn luôn đòi hỏi phải có
sự đổi mới để phù hợp với bối cảnh quốc tế. Quan hệ quốc tế xuất hiện
nhiều xu hướng: đối đầu, hợp tác, đối thoại… Mọi sự biến đổi ấy đòi hỏi
các quốc gia phải thích ứng và thay đổi.
Hiểu và nắm bắt được tình hình ấy, nước Cộng hòa Nhân dân
Trung Hoa đã thực hiện cải cách và cuối những năm 70 của thế kỷ XX.
Qua những chính sách và đường lối mới Trung Quốc hứa hẹn mở ra một
trang sử và một tương lai mới cho đất nước này. Việc tìm hiểu về quá
Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Việc tìm hiểu về quá trình cải các mở cửa của Trung Quốc từ lâu
đã thu hút được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu trong và ngoài
nước. Đã có nhiều tài liệu, công trình được in ấn, đăng tải, phát hành
rộng rãi.
Song song với sự phát triển quan hệ tốt đẹp của quan hệ hợp tác
Việt – Trung trong hơn một thập niên gần đây, ở Việt Nam đã xuất hiện
nhiều công trình, bài viết của các nhà nghiên cứu về cải cách mở cửa của
Trung Quốc nhằm hiểu rõ hơn về nước láng giềng và đối sánh công cuộc
cải cách của hai quốc gia tiêu biểu phải kể đến như: Hồ Châu: “Công
nghiệp hóa và hiện đại hóa ở Trung Quốc. Thực tiễn kinh nghiệm đối với
Việt Nam (1994)”, Nguyễn Minh Hằng: “Cải cách kinh tế của Cộng hòa
Nhân dân Trung Hoa, lựa chọn mới cho sự phát triển (1995)” , Chu Công
Phùng: “Nền kinh tế của Trung Quốc sau 15 năm cải cách mở cửa (6 –
1994)”… ngoài ra, cũng xuất hiện hàng loạt các công trình nghiên cứu
hợp tác giữa hai nước, điển hình là cuốn Nghiên cứu Trung Quốc của
giáo sư, Tiến sĩ Phạm Thế Tăng năm 2003, cuốn “Trung Quốc cải cách
mở cửa – Những bài học kinh nghiệm (2003)” do nhà nghiên cứu
Nguyễn Văn Hồng chủ biên…
Có nhiều sách báo, tạp chí liên quan đến vấn đề như: “ Một số vấn
đề phát triển các xí nghiệp vừa và nhỏ ở Trung Quốc” của tạp chí ngoại
thương (1998), “Một số vấn đề cải cách mở cửa của Trung Quốc và đổi
mới ở Việt Nam” của Quang Vinh năm 2001.
Bên cạnh đó các tư liệu được khai thác tại Viện nghiên cứu Trung
Quốc, Học viện ngoại giao Việt Nam… đã cung cấp một số tư liệu gốc
chi tiết, chính xác và những thông tin cập nhật cải cách mở cửa ở Trung
Quốc và Việt Nam nhằm bổ sung và làm phong phú thêm cho đề tài.
7
-
ngành như:
Phương pháp phân tích
Phương pháp tổng hợp
Phương pháp đối chiếu so sánh
Phương pháp thống kê…
Các nguồn tư liệu bao gồm: các công trình viết về cải cách mở cửa
ở Trung Quốc, công cuộc đổi mới ở Việt Nam; các nguồn tư liệu trên báo
chí và tư liệu thông tin trên mạng Internet.
8
SVTH: Dương Thị Trang
Niên luận năm thứ 3
4.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài này chính là hai chủ thể Trung
Quốc và Việt Nam, cụ thể ở đây là tìm hiểu quá trình cải cách mở cửa ở
Trung Quốc và một số so sánh với công cuộc đổi mới ở Việt Nam.
5.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Về không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu về cải cách mở cửa và
một số so sánh giữa hai chủ thể Trung Quốc và Việt Nam.
Niên luận năm thứ 3
quát tiền đề cải cách mở cửa trước năm 1978, điều này có tác dụng cung
cấp những hiểu biết bước đầu giúp cho việc nhìn nhận vấn đề chính dễ
dàng và chính xác hơn.
7.
Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, niên luận được chia làm 2 chương
như sau:
Chương I: Công cuộc cải cách, mở cửa ở Trung Quốc
Chương II: Một số so sánh với công cuộc đổi mới ở Việt Nam
Trong quá trình thực hiện niên luận, chúng tôi đã gặp một số khó
khăn. Trước hết, do sự hạn chế về trình độ ngoại ngữ của bản thân nên
tác giả chưa tận dụng được hết các tư liệu bằng tiếng nước ngoài. Trong
khi đó, đây là một đề tài khá mới mẻ, chưa có nhiều tài liệu đề cập đến
nên tác giả phải thống kê, chắt lọc từ nhiều nguồn tư liệu khác nhau, đòi
hỏi khả năng tổng hợp cao và thời gian nghiên cứu dài.
Chính vì vậy đề tài mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu, đánh giá
tổng quát mà chưa có điều kiện đi sâu nghiên cứu, nên chắc chắn đề tài
cần nhiều sự bổ sung và hoàn thiện hơn.
Tuy tác giả được đào tạo có hệ thống trong suốt 3 năm bậc Đại
học, nhưng khả năng và kinh nghiệm nghiên cứu của bản thân còn rất
hạn chế. Đây là công trình đầu tay của một sinh viên bước đầu làm quen
với công tác nghiên cứu khoa học, trình độ chuyên môn còn hạn chế,
việc nghiên cứu chưa được sâu sắc. Vì vậy, niên luận không thể tránh
khỏi những thiếu sót. Tác giả rất mong nhận được sự chỉ bảo, góp ý chân
thành từ quý thầy cô cũng như những ai quan tâm đến vấn đề này để tác
giả có thể đúc rút kinh nghiệm cho hành trình nghiên cứu khoa học trong
tương lai.
I.
TIỀN ĐỀ CẢI CÁCH, MỞ CỬA Ở TRUNG QUỐC
Đối với công cuộc cải cách, đổi mới thì hoàn cảnh có vai trò hết
sức quan trọng. Tuy đó không phải là điều kiện quyết định đối với thành
công của cuộc cải cách, đổi mới nhưng nó lại góp phần vào sự thành
công và thắng lợi. Và thực tế lịch sử ở Trung Quốc đã chứng minh điều
đó.
Công cuộc cải cách và mở cửa kinh tế ở Trung Quốc, xuất phát từ
những bối cảnh lịch sử nhất định, đó là cuộc cách mạng khoa học công
nghệ trên thế giới đang diễn ra mạnh mẽ, thúc đẩy quá trình quốc tế hóa
và toàn cầu hóa. Những gợi mở của thực tiễn xây dựng Chủ nghĩa xã hội
trong phong trào Chủ nghĩa Cộng sản quốc tế. Chính điều đó đã buộc
Trung Quốc phải có những điều chỉnh trong Đường lối phát triển kinh tế;
về bối cảnh trong nước: ở Trung Quốc lúc bấy giờ do có những khó khăn
về kinh tế, nền kinh tế lâm vào trì trệ và khủng hoảng nghiêm trọng cũng
đã buộc Trung Quốc phải có những điều chỉnh trong Đường lối và chính
sách phát triển kinh tế.
Cải cách Kinh tế Trung Quốc (giản thể: 改 革 开 放 ; bính
âm: Găigé kāifàng) (Cải cách khai phóng) là một chương trình thực hiện
các thay đổi về kinh tế gọi là "Chủ nghĩa Xã hội mang màu sắc Trung
Quốc" ở Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được những người theo chủ
nghĩa thực dụng bên trong Đảng Cộng sản Trung Quốc do Đặng Tiểu
Bình lãnh đạo và vẫn đang tiếp diễn cho đên đầu thế kỷ 21. Mục tiêu của
cải tổ kinh tế Trung Quốc là tạo ra giá trị thặng dư đủ để cung cấp tài
chính cho quá trình hiện đại hóa nền kinh tế của Trung Hoa Đại lục.
Cả nền kinh tế chỉ huy xã hội chủ nghĩa được những người bảo
thủ trong Đảng Cộng sản Trung Quốc và nỗ lực của Chủ nghĩa
12
Ảnh hưởng của các cuộc khủng hoảng
Năm 1973, cuộc khủng hoảng dầu mỏ bùng nổ, là thời kỳ giá dầu
mỏ tăng cao gây áp lực lớn cho nền kinh tế. Bắt đầu diễn ra từ ngày 17
tháng 10 năm 1973 khi các nước thuộc Tổ chức các quốc gia Ả Rập xuất
khẩu
dầu
mỏ (gồm
các
nước Ả
Rập trong OPEC cùng
với Ai
Cập và Syria ) quyết định ngừng xuất khẩu dầu mỏ sang các nước ủng
hộ Israel trong cuộc chiến tranh Yom Kippur chống lại Ai Cập và Syria
(gồm Hoa Kỳ, Nhật Bản và các nước Tây Âu). Sự kiện này đã khiến giá
13
SVTH: Dương Thị Trang
Niên luận năm thứ 3
dầu thế giới tăng cao đột ngột và gây ra cuộc khủng hoảng kinh tế 19731975 có quy mô toàn cầu.
14
SVTH: Dương Thị Trang
Niên luận năm thứ 3
Các nước tư bản có sự biến đổi to lớn về kinh tế xã hội, chuyển
dần từ xã hội công nghiệp sang xã hội thông tin hoặc xã hội hậu công
nghiệp. Trong các nước tư bản phát triển, Nhà nước như là một trung tâm
điều tiết vĩ mô, như người tổ chức đời sống kinh tế - xã hội. Cuộc cách
mạng khoa học – công nghệ đã đẩy chủ nghĩa tư bản đến một giai đoạn
mới – giai đoạn tư bản đọc quyền Nhà nước. Chủ nghĩa tư bản thích ứng
với cơ sở vật chất kỹ thuật của xã hội mới đang hình thành, đẩy mạnh sự
quá độ lên chủ nghĩa xã hội trong các nước tư bản xã hội.
Dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học – công nghệ chủ
nghĩa tư bản đã phát triển lên một bước mới về lực lượng sản xuất và
quan hệ sản xuất, quốc tế hóa, khu vực hóa các tổ chức kinh tế sự điều
chỉnh và thích ứng mới của chủ nghĩa tư bản hiện đại tạo ra thời cơ có
thể rút ngắn quá trình phát triển nhưng cũng tạo ra những thách thức mới
với những nước đang phát triển trong đó có Trung Quốc và Việt Nam.
Thế giới đang bước vào thời kỳ phát triển mới mà những lợi thế
về nguồn nhân công rẻ và tài nguyên thiên nhiên ngày càng ít tác dụng.
Nhịp độ tăng trưởng kinh tế của mọi nước phụ thuốc nhiều vào áp dụng
khoa học công nghệ. Đổi mới công nghệ ngày càng chủ yếu tạo ra năng
lực cạnh tranh trên thị trường thế giới.
Các nước đang phát triển trước tác động của cuộc cách mạng khoa
học công nghê đang gặp những thách đố gay gắt. Các nước này thường
giàu nguồn nhân lực, không thiếu tài nguyên thiên nhiên, có truyền thống
văn hóa phong phú những nghèo về tri thức khoa học và năng lực công
nghệ vì vậy thiếu sự cạnh tranh trên thị trường thế giới.
Nam…xảy ra những cuộc xung đột biên giới giữa Trung Quốc với các
nước Ấn Độ, Liên Xô… Tháng 2 – 1972, Tổng thống Mĩ R.Níchxơn
sang thăm Trung Quốc, mở đầu quan hệ mới theo chiều hướng hoà dịu
giữa hai nước.
Nếu trước đây Trung Quốc coi trọng yếu tố an ninh và ý thức hệ,
coi lợi ích kinh tế là thứ yếu, đóng cửa xây dung, tự lực cánh sinh là
chính thì ngày nay Trung Quốc cho rằng: “Sự phát triển của Trung Quốc
không thể tách khỏi thế giới” [6;1].
Bối cảnh lịch sử trên đòi hỏi Trung Quốc tiến hành cải cách để
phù hợp với xu thế chung của thế giới và đưa đất nước thoát ra khỏi tình
trạng không ổn định.
16
SVTH: Dương Thị Trang
Niên luận năm thứ 3
III.
ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI
1. Tình hình Trung Quốc trước cải cách
Tình hình kinh tế Trung Quốc từ ngày thành lập nước Cộng hòa
Nhân dân Trung Hoa (1/10/1949), cho đến trước cải cách – mở cửa kinh
tế trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm với nhiều hạn chế, yếu kém của
mô hình kế hoạch hóa tập trung. Thông qua những chính sách kinh tế sai
lầm, coi thường các quy luật khách quan của “ Đại nhảy vọt” và “Đại
cách mạng văn hóa vô sản”, nền kinh tế Trung Quốc đã rơi vào khủng
hội. Điều chỉnh cơ cấu nền kinh tế theo hướng tập trung phát triển nông
nghiệp, sản xuất hàng tiêu dùng và các ngành công nghiệp đáp ứng nhu
cầu cấp bách của đất nước. Đối với các ngành công nghiệp nặng, Trung
Quốc chủ trương giảm bớt quy mô và tốc độ phát triển, ưu tiên đầu tư
cho công nghiệp nhẹ và các ngành khác. Mở cửa, thu hút nguồn lực từ
bên ngoài. Cải cách thể chế chính trị gắn liền với cải cách kinh tế.
2.2.
Các giai đoạn thực hiện cải cách – mở cửa kinh tế của Trung Quốc
2.2.1. Giai đoạn bắt đầu cải cách (12/1978 – 10/1984)
Nhằm xây dựng một kỷ nguyên mới bắt đầu với một hội nghị của
Đảng Cộng sản Trung Quốc ngày 18/12/1978, đánh dấu bằng việc công
nhận trang trại tư nhân quy mô nhỏ, bước đầu tiên từ bỏ chính sách công
xã trong nông nghiệp và công nghiệp thời Mao Trạch Đông, dựng một
nền kinh tế bắt đầu từ nông nghiệp. Cải cách kinh tế Trung Quốc mở đầu
bằng việc thực hiện "chế độ trách nhiệm trong sản xuất nông nghiệp" mà
sau này được người ta gọi tắt là "khoán sản lượng tới hộ" vốn đã diễn ra
thực tế trước đó tại hai tỉnh An Huy và Tứ Xuyên. Với việc để cho người
nông dân được tự chủ làm ăn và được hưởng toàn bộ sản phẩm làm ra
trên mảnh đất được phân phối sau khi nộp cho nhà nước một số phần
trăm thu hoạch, tính tích cực sản xuất hay là nói sức sản xuất trong nông
nghiệp Trung Quốc đã được giải phóng mạnh mẽ. Thuế nông nghiệp đã
được xoá bỏ, con em nông dân một số vùng sâu vùng xa được phát sách
giáo khoa, được miễn học phí, chính sách hộ khẩu với những nông dân
vào thành phố làm thuê đã được nới lỏng... Chỉ trong một thời gian ngắn,
với diện tích canh tác chỉ chiếm 7% thế giới, nhưng Trung Quốc đã nuôi
được 22% dân số thế giới. Cho đến nay có thể nói đây là bước cải cách
mang tính đột phá, là thành tựu lớn nhất trong cải cách nông nghiệp ở
2.2.2. Giai đoạn mở rộng cải cách kinh tế (10/1984 – 9/1988)
Năm 1984, Trung Quốc mở cửa 14 thành phố ven biển nhằm thu
hút đầu tư nước ngoài và mở rộng điều kiện ngoại thương, buôn bán Giai
đoạn này đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong việc đẩy mạnh cải cách
kinh tế ở Trung Quốc , cải cách toàn diện thể chế kinh tế của Trung
Quốc. Trọng tâm của giai đoạn này là cải cách kinh tế thành thị, đặt hiệu
quả kinh tế là tiêu chuẩn hàng đầu để đánh giá các thành phần kinh tế,
tách chức năng quản lí nhà nước ra khỏi chức năng kinh doanh, tách
quyền sở hữu khỏi quyền kinh doanh, làm sống môi trường kinh doanh
19
SVTH: Dương Thị Trang
Niên luận năm thứ 3
bằng việc đa dạng hóa các loại hình doanh nghiệp, mở cửa thị trường, cải
cách hệ thống giá cả, tiếp tục cải cách kinh tế nông thôn theo hướng
thương phẩm hóa , hiện đại hóa.
2.2.3. Giai đoạn chấn chỉnh, sửa chữa và tiếp tục cải cách (10/1988 –
12/1991)
Trên cơ sở của việc phất triển kinh tế ở các giai đoạn trước, từ
năm 1988 Trung Quốc bắt đầu thực hiện chiến lược phát triển kinh tế
Duyên Hải làm cho các tỉnh này có thể tham gia trực tiếp vào việc buôn
bán quốc tế. Theo Đặng Tiểu Bình, Trung Quốc lựa chọn con đường cải
cách mở cửa và kiên trì theo con đường đó, do vậy Trung Quốc coi “ổn
định là trên hết” [9;416], “ Trung Quốc không cho phép loạn lạc ”
[9;418]. Trong giai đoạn này cũng tiếp tục cải cách về thể chế kinh tế,
cho phép ký hợp đồng mua bán thuê mướn và chuyển nhượng ruộng đất,
độ kinh tế, từ cải cách đơn lẻ sang cải cách đồng bộ, từ đột phá trọng
điểm chuyển sang kết hợp giữa thúc đẩy tổng thể với đột phá trọng điểm.
Trong giai đoạn này, Trung Quốc đã đưa ra chiến lược ''tăng tốc'' mà mục
tiêu là tăng gấp đôi giá trị tổng sản lượng quốc gia so với năm 1990 vào
năm 2000, tạo cơ sở cho giai đoạn cất cánh kinh tế trong những thập kỷ
đầu thế kỷ 21 và lại tiếp tục tăng GDP gấp bốn lần mức GDP năm 2000
vào năm 2020 [18;1].
Để thực hiện chiến lược mới, Trung Quốc ưu tiên hàng đầu nhiệm
vụ chuyển từ kinh tế kế hoạch sang kinh tế thị trường với năm trụ cột
chính là ''hai hệ thống" gồm hệ thống điều tiết vĩ mô của nhà nước và hệ
thống thị trường thống nhất “ba chế độ” là: chế độ xí nghiệp hiện dại,
chế độ phân phối thu nhập mới và chế độ bảo hiểm xã hội; đề ra mục tiêu
ba bước để xây dựng thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa. Đồng
thời Trung Quốc thực hiện chính sách mở cửa toàn phương vị: “duyên
hải - ven biển - ven sông - các khu sâu trong nội địa”, thực hiện ở cả ba
miền: miền Đông, miền Trung và miền Tây, theo cả hai hướng: ven biển
và nội địa; cả hai thị trường: trong nước và quốc tế, xây dựng các khu
phát triển từ đơn lẻ thành quần thể mà trọng điểm là Thượng Hải, Quảng
Đông, Giang Tô, Sơn Đông, Đại Liên. Từ năm 1992, Trung Quốc đã tiến
hành một loạt các biện pháp cải cách mới mẻ như: cải cách tài chính tiền
tệ, cải cách hệ thống ngân hàng, cải cách thuế, cải cách hệ thống ngoại
thương, từng bước cải cách hệ thống giá cả, thống nhất tỷ giá hối đoái,
cải cách mạnh mẽ hơn các doanh nghiệp nhà nước theo hướng xoá bỏ
thua lỗ, xây dựng chế dộ xí nghiệp hiện đại thích ứng với yêu cầu của
kinh tế thị trường, từng bước đưa các doanh nghiệp làm quen và thích
21
SVTH: Dương Thị Trang
Niên luận năm thứ 3
SVTH: Dương Thị Trang
Niên luận năm thứ 3
IV.
Hạn chế và bài học kinh nghiệm từ cải cách – mở cửa kinh tế của
Trung Quốc đối với Việt Nam
Thời kỳ đầu, trước con đường mới mẻ, Trung Quốc thực hiện
những thử nghiệm kinh tế ở quy mô nhỏ, khi thành công được áp dụng
rộng ra toàn quốc. Bắt đầu, các thành phố và đặc khu ven biển có ưu thế
địa lý ở miền Đông tiến hành cải cách mở cửa, tạo ra các nhân tố đầu tư
tốt, điển hình, như xây dựng cơ sở hạ tầng, hậu cần và quy chế quản lý…
Miền Đông trở thành đầu tàu lôi kéo kinh tế cả nước. Sự cạnh tranh lành
mạnh giữa các thành phố, các khu vực kinh tế kích thích mạnh mẽ việc
tạo môi trường tốt cho kinh doanh và đầu tư nước ngoài. Trung Quốc cơ
bản hình thành cục diện phát triển kinh tế theo khu vực, mở rộng quy mô
ngành nghề với trình độ hiện đại hóa cao. Xuất khẩu và đầu tư trực tiếp
nước ngoài là hai động lực chủ yếu của tăng trưởng kinh tế Trung Quốc.
Bên cạnh việc huy động mạnh mẽ vốn nước ngoài, phát huy tối đa nguồn
nhân công giá rẻ, Trung Quốc chú trọng tiếp thu công nghệ, đào tạo mới
nguồn nhân lực và học tập kinh nghiệm quản lý của các công ty nước
ngoài. Trung Quốc thành công nổi bật trong việc kết nối với thị trường
toàn cầu. Nền kinh tế năng động chuyển đổi cơ cấu sản xuất và công
nghệ, không ngừng thích ứng với thị trường toàn cầu. Từ hàng sơ cấp
sang thành phẩm công nghiệp, từ sản phẩm sử dụng nhiều lao động sang
sản phẩm kỹ thuật cao. Đầu tư nước ngoài được ưu hóa. Trung Quốc đạt
được tiến bộ rõ rệt trên các lĩnh vực khoa học kỹ thuật công nghệ, thể
hiện nổi bật qua những thành tựu khám phá vũ trụ, tự lực phát triển các
tổng hợp, đa dạng; được phép hoạt động riêng. Do đó, hoạt động buôn
bán với nước ngoài ở các địa phương phát triển khá mạnh. Ba là, thực
hiện chế độ khoán kinh doanh ngoại thương. Thể chế này thực hiện nới
lỏng quyền hạn kinh doanh, thông qua phương thức khoán chỉ tiêu hàng
hoá và thu nhập từ xuất - nhập khẩu trực tiếp cho các doanh nghiệp và
công ty xuất - nhập khẩu trực tiếp cho các doanh nghiệp và công ty xuất
- nhập khẩu ngoại thương. Hình thức khoán được thực hiện là: tổng công
ty ngoại thương trung ương giao khoán xuất nhập khẩu trực tiếp cho các
địa phương. Các địa phương chịu trách nhiệm về các vấn đề liên quan
đến xuất - nhập khẩu và giao nộp ngoại tệ lên trên, đảm bảo đầy đủ chỉ
tiêu và hiệu quả đối với Nhà nước. Sau khi đã nhận khoán, các địa
phương giao chỉ tiêu khoán xuống các doanh nghiệp và cơ sở hoạt động
ngoại thương trong tỉnh, thành phố và huyện. Để phối hợp với việc thực
hiện chế độ trách nhiệm khoán kinh doanh ngoại thương một cách đồng
24
SVTH: Dương Thị Trang
Niên luận năm thứ 3
bộ, Trung Quốc đã thực hiện cải cách một số thể chế chủ yếu có liên
quan đến sản xuất hàng hoá xuất - nhập khẩu và kinh doanh xuất - nhập
khẩu như cải cách thể chế kế hoạch ngoại thương, cải cách thể chế kinh
doanh xuất - nhập khẩu, cải cách thể chế phân phối lợi nhuận ngoại
thương, cải cách thể chế giữ lại ngoại tệ, cải cách thể chế tài vụ ngoại
thương. Bốn là, phát triển các cơ quan thương vụ ở nước ngoài. Cùng với
việc mở rộng quan hệ mậu dịch qua lại với các nước trên thế giới, hoạt
động ngoại thương của Trung Quốc ngày càng sôi động thông qua việc
thành lập các cơ quan thương vụ ở các nước có và chưa có quan hệ ngoại
giao. Những năm qua, các cơ quan này đã đóng góp rất lớn vào các hoạt