1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nghiên cứu khoa học của sinh viên trong trường Đại học là một hoạt động trí
tuệ giúp sinh viên vận dụng phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu khoa
học trong học tập vào trong thực tiễn, trong đó sinh viên bước đầu vận dụng một
cách tổng hợp những tri thức đã học để tiến hành hoạt động nhận thức có tính chất
nghiên cứu, bước đầu góp phần giải quyết những vấn đề khoa học do thực tiễn
cuộc sống và nghề nghiệp đặt ra để từ đó có thể đào sâu, mở rộng và hoàn thiện
vốn hiểu biết của mình.
Trong các trường đại học yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến chất lượng
giáo dục đại học chính là lòng say mê học hỏi, năng lực sáng tạo, năng lực tự
nghiên cứu của sinh viên. Mục đích giáo dục đại học là đào tạo ra những sinh viên
có tri thức, biết sử dụng và làm chủ được những thành tựu của khoa học công nghệ
hiện đại đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội. Chất lượng giáo dục đại học phụ
thuộc rất nhiều vào việc tổ chức nghiên cứu khoa học của sinh viên.
Thông qua hoạt động nghiên cứu khoa học nhằm phát huy năng lực trí tuệ vốn
có của mỗi người, hình thành kỹ năng mềm, phương pháp nghiên cứu khoa học
cho người học và giúp người học có được thói quen làm việc độc lập để củng cố
chuyên môn, nghiệp vụ, nâng cao trình độ và sáng tạo những giá trị mới cho xã
hội.
Trường Đại Học Lạc Hồng luôn coi công tác nghiên cứu khoa học của giáo
viên và sinh viên là sự sống còn và là cơ sở để nâng cao chất lượng giáo dục. Nhà
trường quyết tâm không để hoạt động nghiên cứu khoa học dậm chân tại chỗ mà
phải ngày càng phát triển cả về chất và lượng. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân về
khách quan và chủ quan nên hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên tại trường
hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế. Để tìm ra phương hướng khắc phục và giúp cho
hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên ngày một hoàn thiện hơn, tác giả đã
mạnh dạn chọn đề tài “Giải pháp nâng cao chất lƣợng hoạt động nghiên cứu
khoa học của sinh viên Khối kinh tế tại trƣờng Đại Học Lạc Hồng” làm đề tài
- Phương pháp chuyên gia: là phương pháp sử dụng trí tuệ của đội ngũ chuyên
gia có trình độ cao của một chuyên ngành để xem xét, nhận định bản chất một sự
kiện khoa học hay thực tiễn phức tạp, ý kiến của từng người sẽ bổ sung lẫn nhau,
3
kiểm tra lẫn nhau cho ta một ý kiến đa số, khách quan về một vấn đề, để tìm ra giải
pháp tối ưu cho các sự kiện đó hay đánh giá 1 sản phẩm khoa học.
Trong chương 2 tác giả sử dụng phương pháp chuyên gia, thảo luận phỏng vấn
ý kiến các chuyên gia khối kinh tế trường Đại Học Lạc Hồng để đưa ra các yếu tố
quan trọng tác động đến hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên Khối kinh tế
trường Đại Học Lạc Hồng.
- Phương pháp điều tra thực tế: Tác giả thực hiện khảo sát thực tế, trao đổi và
phát bảng câu hỏi tới các bạn sinh viên khối kinh tế trường Đại Học Lạc Hồng để
tìm hiểu và thu thập các thông tin về thực trạng sự chuẩn bị của sinh viên đối với
hoạt động nghiên cứu khoa học. Để từ đó có những nhận xét và đánh giá về tình
hình thực tế của hoạt động nghiên cứu khoa học và đề ra các giải pháp phù hợp,
phương pháp này tác giả sử dụng ở chương 2.
- Phương pháp phân tích định lượng: Sau khi thu thập được các dữ liệu, tác giả
sử dụng phần mềm thống kê Excel, SPSS 16.0, để hỗ trợ cho việc tính toán và phân
tích. Kết hợp với những ý kiến đóng góp của các chuyên gia khối kinh tế, khảo sát
sinh viên nghiên cứu khoa học của khối kinh tế, đó là cơ sở để tác giả đề xuất các
giải pháp, phương pháp này tác giả sử dụng ở chương 2.
* Quy trình nghiên cứu
Quy trình nghiên cứu được thể hiện chi tiết trong sơ đồ bên dưới. Quy trình
này mở đầu bằng việc đặt vấn đề nghiên cứu và kết thúc bằng việc trình bày báo cáo
nghiên cứu. Đặc biệt, 2 phương pháp chính trong quy trình này gồm có: (1) nghiên
cứu định tính để khám phá và phát triển các nhân tố chính ảnh hưởng đến chất lượng
hoạt động nghiên cứu khoa học sinh viên, (2) nghiên cứu định lượng để kiểm định
Kiểm định
thang đo
Xử lý và phân
tích dữ liệu
Đề xuất giải
pháp nâng cao
chất lượng hoạt
động NCKH
sinh viên
Kiến nghị và kết
luận
Sơ đồ: Quy trình nghiên cứu
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
Thông qua đề tài tác giả mong muốn tìm ra những điểm mạnh cần phát huy và
những khiếm khuyết còn tồn đọng trong hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh
viên khối kinh tế trường Đại Học Lạc Hồng.
Cố gắng để có cái nhìn đúng và đủ nhất về hoạt động nghiên cứu khoa học của
sinh viên, thấy được tầm quan trọng của hoạt động nghiên cứu khoa học.
5
Đưa ra các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động nghiên cứu khoa học
của sinh viên khối kinh tế trường Đại Học Lạc Hồng
Đề xuất một số giải pháp nhằm giúp hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh
Cũng theo những quan điểm trên, Vũ Cao Đàm cho rằng nghiên cứu khoa học
nói chung là nhằm thỏa mãn về nhu cầu nhận thức và cải tạo thế giới đó là:
- Khám phá những thuộc tính bản chất của sự vật và hiện tượng
- Phát hiện qui luật vận động của sự vật và hiện tượng
- Vận dụng qui luật để sáng tạo giải pháp tác động lên sự vật hiện tượng
Nghiên cứu khoa học là một quá trình sử dụng những phương pháp khoa học,
phương pháp tư duy, để khám phá các hiện tượng, phát hiện qui luật để nâng cao
trình độ hiểu biết, để giải quyết những nhiệm vụ lý luận hay thực tiễn, các đề xuất
trên cơ sở kết quả nghiên cứu [1].
Như vậy, nghiên cứu khoa học được coi là một dạng lao động phức tạp nhất
trong các hoạt động của xã hội loài người. Nghiên cứu khoa học có khả năng tạo ra
sự bùng nổ và sự đổi mới thông tin
7
* Quy trình nghiên cứu khoa học [4]
Nghiên cứu khoa học là sưu tầm và khai thác tất cả các tài liệu thích hợp để tìm
giải pháp cho một vấn đề hay một giả thuyết nào đó.
Nghiên cứu khoa học, bất kể nghiên cứu khoa học tự nhiên, khoa học xã hội,
khoa học công nghệ điều tuân theo một trật tự logic, thường bao gồm 6 bước sau
đây:
Bước 1: Lựa chọn đề tài nghiên cứu
Bước 2: Xây dựng đề cương và lập kế hoạch nghiên cứu
Bước 3: Thu thập và xử lý thông tin
Bước 4: Tổng kết và viết công trình nghiên cứu
Bước 5: Đánh giá và nghiệm thu đề tài
Bước 6: Công bố, bảo vệ và áp dụng vào thực tiễn
Các bước trên có quan hệ với nhau rất chặt chẽ, vừa kế tiếp, vừa có lúc đan xen
vào nhau tạo thành một qui trình thống nhất, toàn vẹn.
phải có khả năng kiểm chứng lại nhiều lần trong những điều kiện quan sát hoặc thí
nghiệm hoàn toàn giống nhau. Để chứng tỏ độ tin cậy trong đề tài người nghiên cứu
khi trình bày kết quả nghiên cứu cần phải làm rõ những điều kiện, các nhân tố và
phương tiện thực hiện. Tính tin cậy còn thể hiện ở tài liệu tham khảo.
* Tính khách quan: tính khách quan vừa là một đặc điểm của nghiên cứu khoa
học, vừa là một tiêu chuẩn về phẩm chất của người nghiên cứu khoa học. Một nhận
định vội vã theo tình cảm, một kết luận thiếu các xác nhận bằng kiểm chứng chưa
thể xem là một phản ánh khách quan về bản chất của sự vật, hiện tượng.
Để đảm bảo tính khách quan, người nghiên cứu cần phải luôn đặt các câu hỏi
ngược lại những kết luận đã được xác nhận. Ví dụ: kết quả có thể khác không? nếu
kết quả là đúng, thì đúng trong những điều kiện nào? còn phương án nào cho kết quả
tốt hơn?
* Tính rủi ro: quá trình khám phá bản chất sự vật và sáng tạo sự vật mới hoàn
toàn có thể gặp phải thất bại. Đó là tính rủi ro của nghiên cứu. Sự thất bại trong
nghiên cứu khoa học có thể do nhiều nguyên nhân, chẳng hạn thiếu thông tin cần
thiết và đủ tin cậy, trình độ kỹ thuật của thiết bị quan sát hoặc thí nghiệm thấp, năng
lực xử lý thông tin của người nghiên cứu còn hạn chế.
Tuy nhiên, trong khoa học thất bại cũng được xem là một kết quả. Kết quả đó
cũng mang ý nghĩa là một kết luận của nghiên cứu khoa học, mà nội dung là các giả
thiết đã đặt ra không được xác nhận về mặt khoa học, nghĩa là trong sự vật không
9
tồn tại quy luật hoặc giải pháp như đã dự kiến. Xét về ý nghĩa khoa học, đây là một
kết quả quan trọng. Nó giúp cho các đồng nghiệp đi sau khỏi dẫm chân lên lói mòn,
lãng phí các nguồn lực nghiên cứu.
* Tính kế thừa: ngày nay hầu hết không còn một công trình khoa học nào bắt
đầu từ chỗ hoàn toàn trống không về kiến thức. Mỗi nghiên cứu phải kế thừa các kết
quả nghiên cứu trong các lĩnh vực khoa học khác nhau rất xa. Tính kế thừa có một ý
Giáo viên: giáo án, giáo trình, mô hình giảng dạy…
Các đề tài khoa học các cấp, bài báo, báo cáo…
* Căn cứ vào các cấp quản lý:
Bộ môn, khoa;
Trường;
Bộ, ngành;
Nhà nước.
1.1.2 Hoạt động nghiên cứu khoa học
Hoạt động nghiên cứu khoa học là quá trình thực hiện nghiên cứu. Một họat
động tìm kiếm, xem xét, điều tra, hoặc thử nghiệm. Dựa trên những số liệu, tài liệu,
kiến thức,… đạt được từ các thí nghiệm nghiên cứu khoa học để phát hiện ra những
cái mới về bản chất sự vật, về thế giới tự nhiên và xã hội và để sáng tạo phương
pháp và phương tiện kỹ thuật mới cao hơn, giá trị hơn. Người muốn làm nghiên cứu
khoa học phải có kiến thức nhất định về lĩnh vực nghiên cứu và cái chính là phải rèn
luyện cách làm việc tự lực, có phương pháp từ lúc ngồi trên ghế nhà trường. [6]
Nghiên cứu khoa học có những yêu cầu riêng và phải tuân theo quy trình nhiều
bước với những tiêu chuẩn cho từng bước thực hiện để đi đến kết quả cuối cùng.
Mỗi công trình nghiên cứu khoa học thường xuất phát từ yêu cầu cuộc sống, từ
những giả định ban đầu. Muốn giải quyết các vấn đề đó, người nghiên cứu phải đi
từng bước một, từ cách tiếp cận vấn đề (đặt vấn đề, mục đích và mục tiêu nghiên
cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, cơ sơ lý thuyết, phương pháp luận,…) cho
đến phương thức thực hiện, kiểm chứng các giả định ban đầu (thông qua việc thu
thập tài liệu, đặt giả thiết, tiến hành các nghiên cứu thí nghiệm, tính toán các kết quả
từ thí nghiệm…) và cuối cùng là báo cáo kết quả thực hiện công trình nghiên cứu
(báo cáo kết quả bằng các sản phẩm cụ thể, các đề xuất rút ra từ kết luận của công
trình nghiên cứu).
Hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên có một số đặc điểm riêng như
sau: Phải phục vụ mục đích học tập, nhận thức khoa học là những động cơ chủ yếu
độc đáo và tính sáng tạo của kết quả nghiên cứu phù hợp với mục tiêu nghiên cứu đã
dự kiến hoặc mong muốn và giá trị phục vụ đời sống kinh tế xã hội. Để nâng cao
chất lượng giáo dục đại học nói chung và nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học
12
trong trường đại học nói riêng đòi hỏi phải thực hiện đồng bộ rất nhiều các giải
pháp, trong đó các giải pháp về phát triển và nâng cao nguồn lực nghiên cứu khoa
học là vô cùng quan trọng.
Khi tiếp cận nghiên cứu khoa học trong sinh viên, mục tiêu nên đặt nhiều vào
hoạt động nghiên cứu hay quá trình tiến hành nghiên cứu (phát hiện vấn đề, xây
dựng đề cương, tổ chức thực hiện, phương pháp thực hiện, tìm kiếm tài liệu, thu
thập thông tin, thí nghiệm, quan sát, phân tích số liệu, thử nghiệm kết quả, viết báo
cáo, trình bày báo cáo). Chính vì vậy khi đánh giá tình hình nghiên cứu khoa học
trong sinh viên, cái chúng ta cần đánh giá đầu tiên chính là chất lượng của hoạt động
nghiên cứu khoa học trong sinh viên, hay khả năng của sinh viên nói chung trong
việc hình thành các ý tưởng và triển khai (một phần hay toàn bộ) quá trình nghiên
cứu một cách khoa học.
* Đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học:
Đánh giá kết quả nghiên cứu của một đề tài là công việc thường xuyên của hoạt
động nghiên cứu khoa học, đánh giá là một biện pháp xem xét một công trình khoa
học để quyết định nghiệm thu.
Chỉ tiêu đánh giá: về nguyên tắc, bất cứ công trình nghiên cứu khoa học nào
cũng được đánh giá theo bốn loại chỉ tiêu:
1. Tính mới trong khoa học (luận đề)
2. Tính xác thực của các kết quả quan sát hoặc thí nghiệm (luận cứ)
3. Tính đúng đắn về phương pháp luận khoa học (luận chứng)
4. Tính ứng dụng
Tuy nhiên, trong bốn chỉ tiêu trên, chỉ tiêu thứ tư có thể không xem xét đối với
rộng hay hẹp người viết phải biết chọn lọc tư liệu, sắp xếp dữ liệu và biến những dữ
liệu đó thành tri thức của mình. Đó chính là bước đầu quan trọng đối với con đường
nghiên cứu khoa học của sinh viên.
Ngoài ra, nghiên cứu khoa học còn tạo điều kiện cho sinh viên thực hiện việc
kết hợp chặt chẽ học đi đôi với hành, lý thuyết gắn liền với thực tiễn. Hoạt động
nghiên cứu khoa học trong nhà trường giúp sinh viên bổ sung những kiến thức có
phần lạc hậu hay lỗi thời của hệ thống giáo trình đã biên soạn trước đây. Do vậy,
nghiên cứu khoa học không chỉ giúp sinh viên củng cố và cập nhật tri thức, tích lũy
kinh nghiệm trong thời gian được đào tạo ở trường, mà còn tạo cho sinh viên phong
cách làm việc khoa học, có khả năng tư duy, nhận xét vấn đề một cách khoa học.
14
Có một thực tế là hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên ở các trường
Đại Học hiện nay chưa phát triển mạnh. Cụ thể, theo TS. Đỗ Thị Minh Châu,
Trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học quốc gia Hà Nội viết trên tạp chí số 96/2004:
“Số sinh viên tham gia nghiên cứu khoa học so với tổng số sinh viên ở mỗi trường
còn quá ít, nên nhiều sinh viên khi tốt nghiệp ra trường mà vẫn chưa có phương
pháp tự học, tự nghiên cứu, tức là chưa có những kỹ năng nghiên cứu khoa học cơ
bản để có thể tự nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ nghề nghiệp của bản thân
cũng như tự mình giải quyết những vấn đề mang tính thời sự của thực tiễn nghề
nghiệp”.
Khi đánh giá tình hình nghiên cứu khoa học trong sinh viên, cái cần chú ý
chính là chất lượng của hoạt động nghiên cứu khoa học, phong trào nghiên cứu khoa
học của sinh viên đến mức độ nào hay khả năng của sinh viên nói chung trong việc
hình thành các ý tưởng và phương hướng triển khai quá trình nghiên cứu một cách
khoa học.
1.2.2 Nghiên cứu khoa học gắn với việc nâng cao chất lƣợng đào tạo của
các trƣờng cao đẳng, đại học
nhì, 130 giải ba và 133 giải khuyến khích. Con số này quả đáng báo động về công
tác dạy học và hướng dẫn sinh viên tham gia nghiên cứu khoa học ở trường đại học
trong khi các ĐH đang tiến tới mô hình trường đại học nghiên cứu, đào tạo gắn kết
với các doanh nghiệp, tổ chức xã hội.
Tuy nhiên, cũng phải nhìn nhận nghiêm túc về thực trạng nghiên cứu khoa học
của cả thầy và trò, những nghiên cứu khoa học của sinh viên hiện nay vẫn chưa có
tính ứng dụng cao. Trước hết, các nghiên cứu khoa học trong bất cứ hoàn cảnh nào
cũng phải xuất phát từ thực tiễn và mang tính mở chứ không thể là đóng không
trong các giáo chính của nhà trường.
Tại các trường lớn như Đại học Bách khoa Hà Nội, Đại học Quốc gia Hà Nội,
Đại học Ngoại thương, Đại học Kinh tế Quốc dân, Đại học Xây dựng… những hoạt
động này tuy có nhiều hơn các trường khác nhưng về cơ bản thì nó được tổ chức là
do nhu cầu tiếp thị của các tổ chức bên ngoài chứ cũng chưa thực sự là vì nhu cầ u
nội tại của bản thân sinh viên trong trường. Còn lại, với không ít trường thì có thể
nói rằng hoạt động ngoại khoá về khoa học cho sinh viên gần như là không có.
Có thể nói, trong bối cảnh mà khoa học công nghệ đang phát triển chóng mặt
mà với cách thức dạy và học ở các trường như hiện nay thì khoảng cách giữa đào tạo
và thực tiễn sẽ ngày một xa nếu không có biện pháp cải thiện. Bởi thế, cần phải có
những chính sách để thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học của cả thầy lẫn trò
đang là thực tế phải đặt ra. Để làm được việc này, ngoài vai trò của các tổ chức
16
trong nhà trường của cả thầy và trò… thì rất cần có sự tham gia, xúc tiến, hỗ trợ của
các tổ chức các doanh nghiệp ngoài nhà trường để kết nối với các nhu cầu thực tiễn
cùng những nguồn lực đầu tư có thể.
1.3.2 Những khiếm khuyết trong hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh
viên
Giáo dục Đại học ở Việt Nam hiện nay đã có nhiều thành quả đáng trân trọng,
TẠI TRƢỜNG ĐẠI HỌC LẠC HỒNG
2.1 Tổng quan về trƣờng Đại Học Lạc Hồng
2.1.1 Sự ra đời, đặc điểm và nhiệm vụ của nhà Trƣờng
Từ những năm 1993 – 1994 lãnh đạo tỉnh Đồng Nai thấy nhu cầu bức thiết phải
thành lập một trường Đại học tại Biên Hoà, Đồng Nai, nhằm đào tạo nguồn nhân lực
nhằm đáp ứng kịp thời đà phát triển kinh tế xã hội. Hội nghị Đảng Bộ Đảng Cộng
Sản Việt Nam tỉnh Đồng Nai lần thứ V và các đại hội tiếp theo điều có nghị quyết về
xin thành lập trường Đại Học tại Biên Hòa.
Trường Đại Học Lạc Hồng được thành lập theo quyết định số 790QĐ/TTg,
ngày 24/9/1997 của Thủ Tướng Chính Phủ và hoạt động theo quyết định số 3678
BGD – ĐT ngày 13/11/1997.
Trường Đại Học Lạc Hồng là một cơ sở giáo dục đa ngành, đa cấp học, đào tạo
và nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ trong các lĩnh vực kỹ thuật – công
nghệ, kinh tế và xã hội nhân văn. Nhà trường đảm bảo cung cấp và chăm lo những
điều kiện học tập có chất lượng cho mọi người có nhu cầu đào tạo và đào tạo lại;
mặt khác đảm bảo cung cấp nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn và hiểu biết
chính trị cho thị trường lao động trong cả nước nói chung và Đồng Nai nói riêng.
* Quá trình phát triển
Hiện nay, trường có 24 ngành đào tạo Đại học và Cao đẳng gồm các ngành
về khoa học công nghệ (Tin học, Điện tử Viễn thông, Công nghệ Tự động hoá, Công
nghệ Điện - Điện tử, Xây dựng dân dụng, Công nghiệp và Cầu đường, Cơ tin, Điện
dân dụng, Điện công nghiệp, Công nghệ Hoá học, Công nghệ Thực phẩm, Khoa học
Môi trường, Công nghệ Sinh học, Công nghệ cắt may, Nông nghiệp), Tài chính –
Ngân hàng, Quản trị Kinh doanh (Quản trị Doanh nghiệp, Quản trị Thương mại
Điện tử), Kế toán – Kiểm toán, Ngoại thương, Đông Phương học (Nhật Bản học,
Hàn Quốc học, Trung Quốc học, Việt Nam học), Ngữ văn anh và Hoa văn.
18
Hội đồng quản trị
Hiệu trưởng
Phó Hiệu
trƣởng
Phó Hiệu
trƣởng
Phòng Ký
Công túc xá
tác
SV
Trung
Tâm
QHQT
Khoa Khoa
Kế toán Tài
– Kiểm chính
toán
Phó Hiệu
trƣởng
Phó Hiệu
trƣởng
Khoa
ĐiệnĐiện
Tử
Phòng
Đào
Tạo
Khoa
Kỹ
thuật
công
trình
Giáo viên bộ môn và các lớp SV
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ tổ chức của trường Đại Học Lạc Hồng
Nguồn: phòng tổ chức hành chính trường Đại Học Lạc Hồng
TT
Phòng
Thông SĐH –
tin tư NCKH liệu
KĐCL
Khoa
Cơ
điện
- Giúp Hiệu trưởng trong việc phối hợp với công đoàn trong việc tổ chức thực
hiện công tác thi đua khen thưởng, thực hiện các chính sách, chế độ với giảng viên,
cán bộ viên chức; tổ chức các phong trào văn thể trong giáo viên, cán bộ viên chức.
- Tổ chức thực hiện các mặt công tác về hành chính tổng hợp của trường, làm
công tác văn thư lưu trữ, công tác giao dịch, lễ tân, khánh tiết.
Chức năng của phòng Quản trị thiết bị
- Tổ chức thực hiện các chỉ thị của Hiệu trưởng về xây dựng, phân phối, sử
dụng, tu sửa, cải tạo và bảo trì nhà làm việc, lớp học, giảng đường, xưởng thực tập,
kí túc xá sinh viên, nhà ăn tập thể…
- Giúp Hiệu trưởng tổ chức thực hiện việc mua sắm, cấp phát các phương tiện
phục vụ sinh hoạt và làm việc.
- Tổ chức quản lý và bảo trì các thiết bị kỹ thuật khi có yêu cầu của các Khoa.
Chức năng của phòng Tài vụ
- Tham mưu giúp Hiệu trưởng trong công tác quản lý tài chính, tài sản, lập kế
hoạch tài chính và theo dõi giám sát, kiểm tra việc thu chi, sử dụng tài chính cùng
các lĩnh vực khác có liên quan đến tài chính, tài sản của trường đúng với quy định
của Nhà nước và Hội đồng Quản trị Nhà trường.
21
- Kiểm tra, giám sát việc thu chi trong toàn trường, phối hợp với Phòng Quản trị
Thiết bị Nhà trường quản lý tài sản, tình hình sử dụng tài sản chung, định kỳ tham
đến gia đình sinh viên những trường hợp vi phạm kỷ luật của nhà trường, cùng gia
đình tìm biện pháp giải quyết giúp sinh viên tiếp tục đến trường. Đề nghị khen
thưởng, kỷ luật sinh viên.
Chức năng của các Khoa
Thực hiện đào tạo, giảng dạy, nghiên cứu khoa học, bồi dưỡng kiến thức các
chuyên ngành; quản lý công tác chuyên môn và quản lý sinh viên thuộc trách nhiệm
và thẩm quyền.
22
2.2 Tình hình thực hiện hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên Khối
kinh tế
2.2.1 Giới thiệu sơ lƣợc về Khối kinh tế
Khối kinh tế của trường Đại Học Lạc Hồng đào tạo những cử nhân có khả năng
nghiên cứu, có năng lực tự học để tiếp tục nâng cao và mở rộng kiến thức nhằm phát
triển kinh tế đất nước. Đây sẽ là nguồn nhân lực với kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ
cao, khả năng phán đoán, quan sát, nắm bắt được diễn biến tình hình kinh tế - xã hội,
nắm bắt được những biến chuyển trong đời sống kinh tế thị trường, từ đó biết phân
tích, nhận định và ứng dụng những hiểu biết, kiến thức kinh tế vào nghiệp vụ sản
xuất, kinh doanh đạt hiệu quả cao trên thương trường trong nước và quốc tế.
Sau khi tốt nghiệp sinh viên không những có trình độ chuyên ngành mà còn
được trang bị khả năng tin học, ngoại ngữ theo chuẩn Toeic để có khả năng thích
ứng ngay với yêu cầu tuyển dụng của các doanh nghiệp hoặc học chuyển tiếp lên
trình độ cao hơn (thạc sỹ, tiến sỹ...) ở các trường đại học trong và ngoài nước hoặc
đi du học.
Khối Kinh tế hiện tại của trường Đại Học Lạc Hồng gồm: Khoa Quản trị Kinh tế Quốc tế, Khoa Tài chính – Ngân hàng, Khoa Kế toán – Kiểm toán.
- Luật kinh tế
Tập trung đào tạo một cách khoa học và chuyên sâu về các kiến thức, kỹ năng
chuyên môn nghiệp vụ về Quản trị kinh doanh, Quản trị các xưởng sản xuất, Quản
trị nhân sự tài chính, Nghiên cứu nắm bắt thị trường, Đàm phán ký kết hợp đồng,
Pháp luật trong kinh doanh và Phương pháp phòng ngừa, Đối phó với các rủi ro
trong quản lý và sản xuất kinh doanh …
Tình hình thực tế về hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên
Khoa Quản trị - Kinh Tế Quốc Tế
Trong năm 2010 - 2011 đã có tới 382 đề tài nghiên cứu khoa học của sinh viên
các lớp 2006 Ngày & Đêm; lớp 2007 Ngày & Đêm. Trong đó có 45 đề tài xuất sắc
được đưa ra Hội đồng báo cáo toàn trường. Kết quả có 02 giải nhất, 03 giải nhì, 12
giải ba và 28 giải khuyến khích toàn trường. Trong đó có hai sinh viên được giải
nhất nghiên cứu khoa học đã được hoàn chỉnh gởi đăng ký nghiên cứu khoa học
quốc gia. Đây là một kết quả đáng khích lệ cho hoạt động nghiên cứu khoa học của
sinh viên Khoa.
Giới thiệu sơ lƣợc về Khoa Tài chính – Ngân hàng
Khoa Tài chính - Ngân hàng có tiền thân là Khoa Tài chính - Kế toán được
thành lập theo Quyết định số 298 ngày 17/9/2005 của Hiệu trưởng Trường Đại Học
24
Lạc Hồng. Ngay từ khi thành lập, Khoa Tài chính- Kế toán được phép đào tạo 02
ngành chính là Tài chính Ngân hàng và Kế toán.
Khoa Tài Chính - Kế Toán được thành lập trên cơ sở tách ngành Kế toán – Kiểm
toán và ngành Tài chính – Ngân hàng ra khỏi Khoa Kinh Tế theo Quyết định số 298
ngày 17-09-2005 của Hiệu Trưởng Trường Đại Học Lạc Hồng.
25
* Tình hình thực tế về hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên
Khoa Kế toán – Kiểm toán
Hoạt động nghiên cứu khoa học sinh viên của Khoa phát triển nhanh cả về số
lượng lẫn chất lượng, năm 2005 chỉ có 2 đề tài nhưng đến năm 2011 riêng khóa 07
ngày và đêm có 259 đề tài. Trong đó có 1 đề tài đạt giải nhất, 2 đề tài đạt giải nhì, 2
đề tài đạt giải 3 và 14 đề tài đạt giải khuyến khích cấp trường.
Song song với sự phát triển về quy mô, chất lượng các đề tài cũng ngày càng
tăng, đội ngũ cán bộ quản lý nghiên cứu khoa học cũng chuyên nghiệp hơn. Cụ thể
là phần cơ sở lý luận của đề tài được đầu tư và chú trọng hơn, kết quả nghiên cứu
được lượng hóa bằng số liệu thống kê, các giải pháp được cụ thể hóa, hình thức trình
bày ngày càng được chuẩn hóa.
2.2.3 Thống kê số lƣợng các đề tài nghiên cứu khoa học của sinh viên
Khối kinh tế qua các năm
Bảng 2.1: Số lƣợng đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên qua các năm
Năm
2003
2004
2005
2006 2007
25
31
44
48
54
53
91
132
483
17,5%
3
3
40
80
73
5
Khối xã hội
Tổng cộng
5
37
Nguồn: Phòng Nghiên cứu khoa học - Sau đại học - Kiểm định chất lượng
Nhận xét: Qua bảng 2.1 cho thấy số lượng đề tài của khối ngành kinh tế ngày
càng tăng qua các năm, chiếm 65,5% so với khối kỹ thuật và xã hội (1.805 đề tài trên
tổng số 2.757 đề tài).
Điều này cho thấy Khối kinh tế đang chiếm một vị thế quan trọng về quy mô
trong hoạt động nghiên cứu khoa học của toàn trường. Chính vì thế, nhà trường cần