TÔN GIÁO TRONG đời SỐNG CHÍNH TRỊ xã hội và NHÌN NHẬN vấn đề tự DO tôn GIÁO ở mỹ - Pdf 38

Năm 2006, Tổng thống Mỹ George W. Bush đã chọn ngày 16-1 là
Ngày tự do tôn giáo. Sự việc này liên quan đến một sự kiện lịch sử ngày 16-11186 tại bang Virginia thuộc miền Bắc nước Mỹ, đạo luật về tự do tôn giáo do
Thomas Jefferson soạn thảo đã được thông qua. Ông cũng từng là tác giả bản dự
thảo Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ và là vị tổng thống thứ ba, nhiệm kỳ
1801 – 1809. Việc George W. Bush chọn ngày 16-1 là Ngày tự do tôn giáo với
tư tưởng dân tộc Mỹ là sự lựa chọn của Chúa, “Một dân tộc thống nhất trước
chúa” cho thấy vị Tổng thống Mỹ này muốn một lần nữa tuyên bố với thế giới
rằng Hợp chúng quốc Hoa Kỳ là người bảo vệ tự do tôn giáo trên toàn thế giới.
Chính vì thế, trong tuyên bố kỷ niệm ngày này, Bush chỉ nói tới tự do tôn giáo
trên thế giới mà không hề đề cập tới tự do tôn giáo ở Mỹ.
Đặc điểm của Hoa Kỳ là ở chỗ, nền tảng tư tưởng của Nhà nước
này là chủ nghĩa chính thống Tin lành. Những người theo chủ nghĩa chính thống
Tin lành cho rằng, chỉ có người Mỹ mới được trao sứ mệnh xây dựng một xã hội
lý tưởng trên trái đất mà ở đó con người sống theo luật pháp của Kitô giáo.
Cho đến nay, trong đời sống chính trị - xã hội Mỹ, các vấn đề tôn giáo
luôn được sự quan tâm rất lớn. Các vấn đề tôn giáo và giáo hội được đề cập ở
đây chủ yếu liên quan đến đạo Tin Lành, một tôn giáo chiếm vị trí đáng kể nhất
trong đời sống chính trị - xã hội. Nói tới tôn giáo Mỹ là nói tới trung tâm thế
giới của đạo Tin Lành, với 7 hệ phái chính là Baptists, Congregatinonlists,
Disciples, Episcoplians, Lutherans, Methodists và Presbyterians. Tuy nhiên,
trong ba thập kỷ cuối của thế kỷ XX, ở Mỹ đã hình thành 375 nhóm tôn giáo dân
tộc hay đa dân tộc và người Mỹ cũng đang ngày càng phải đối diện nhiều hơn
với các tôn giáo thế giới lớn khác như Hinđu giáo, Phật giáo, Islam giáo.
Ở Mỹ, về mặt hình thức, Nhà nước và Giáo hội tách biệt nhau. Nhưng
trên thực tế, Giáo hội luôn đóng vai trò quan trọng trong hệ thống các thể chế tư
tưởng của nước này. Giáo hội đóng vai trò đáng kể trong đời sống chính trị - xã
hội, trong kinh tế và đặc biệt là trong lĩnh vực giáo dục. Lịch sử các tôn giáo Mỹ
gắn liền với lịch sử của chủ nghĩa tư bản Mỹ và phục vụ đắc lực cho chủ nghĩa
tư bản. Do vậy, giới cầm quyền Mỹ luôn ủng hộ hoạt động của các tổ chức tôn



kiến, vẫn cần đến tôn giáo, nhưng theo kiểu riêng của họ, để trấn an những
người công nhân thường xuyên nổi dậy. Vì vậy, họ đã thực thi một đạo luật sắt


mà theo đó tất cả các nhà tư tưởng và các thủ lĩnh chính trị của họ đều bắt buộc
phải theo tôn giáo, nếu không những người này sẽ bị rơi vào cảnh bị cô lập và
trở thành người bị xua đuổi. Dần dần, khuynh hướng này được tăng cường và
giờ đây trong giới tư bản khó có thể tìm thấy một nhà văn hay một nhà hoạt
động chính trị dũng cảm nào dám mạo hiểm nói lên dù chỉ là một từ chống lại
tôn giáo hay có thái độ duy lý với tôn giáo”1.
Wiliam Foster chứng minh rằng, tôn giáo theo kiểu của chế độ phong
kiến không vừa ý với giới tư bản Mỹ. Họ cần một tôn giáo thức ứng với nhu cầu
xã hội tư bản Mỹ. Sự gắn bó của giới tư sản Mỹ với tôn giáo xuất hiện ở một đất
nước mà Giáo hội, về hình thức đã tách khỏi Nhà nước. Do vậy, giới cầm quyền
Mỹ buộc phải tìm đến những hình thức sử dụng tôn giáo được ngụy trang kín
đáo hơn. Trong điều kiện nước Mỹ, giai cấp cầm quyền ở đây cho rằng, cần phải
và có thể sử dụng một tôn giáo, không dành ưu tiên cho riêng một tổ chức tôn
giáo nào. Sự định hướng vào tôn giáo nhận được sự ủng hộ cả từ phía các mục
sư của các giáo phái Tin Lành lẫn từ phía các chức sắc Giáo hội Công giáo và
Giáo hộ Do Thái giáo. Họ muốn nhận được sự ủng hộ của Nhà nước để thực
hiện các nhiệm vụ và dạt được các mục đích của mình.
Về phía các nguyên thủ Mỹ, họ luôn bằng mọi cách chứng minh lòng
mộ đạo của mình. Tổng thống R. Nixon là một ví dụ điển hình. Bắt đầu từ tháng
1-1969, tức là từ khi nhậm chức Tổng thống, vào chủ nhật hàng tuần, các mục
sư từ các nhà thờ khác nhau được mời đến Nhà Trắng để làm lễ cầu nguyện.
Buổi lễ đầu tiên được tiến hành ngày 26-1-1969 tại phòng Phương Đông của
Nhà Trắng với sự tham gia của khoảng 200 người.
Trong buổi lễ này, mục sư của phái Baptists là Billi Graem đã thuyết
giáo trong thời gian 22 phút. Trong các buổi lễ sau này, có sự tham gia của các
chức sắc Công giáo, Tin Lành. Do Thái giáo. R. Nixon cho rằng, các buổi lễ ở

đến tôn giáo trong các bài phát biểu trước công chúng tại các diễn đàn khác
nhau, từ các buổi lễ trọng thể của Nhà nước đến các hội nghị. Đây chính là một
trong những hình thức tuyên truyền tôn giáo, nâng cao uy tín của tôn giáo trong
người dân Mỹ. Truyền thống thực hành tôn giáo trong các cơ quan nhà nước ở
Mỹ đã góp phần thúc đẩy mối quan hệ giữa các chức sắc tôn giáo với giới cầm
quyền mà lợi ích của cả hai bên đan xen vào nhau trong các lĩnh vực kinh tế,
chính trị và nhiều lĩnh vực khác.
Do vậy, tại các đại hội giới thiệu ứng cử viên tổng thống của hai đảng
Dân chủ và Cộng hòa người ta thấy có sự hiện diện của một số nhân vật cao cấp
trong giới tăng lữ Ki tô giáo. Ví dụ, tại Đại hội của Đảng Cộng hòa năm 1971


giới thiệu R. Nixon làm ứng cử viên tổng thống có sự hiện diện của Hồng y
Krol, Tổng Giám mục Philadenphia
Như đã biết, trong Tuyên ngôn Độc lập của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ
người ta đã viện dẫn đến Chúa và trở thành truyền thống, bắt đầu từ vị Tổng
thống đầu tiên của Mỹ là George Washington, các tổng thống Mỹ trong bài phát
biểu nhậm chức của mình đều viện dẫn đến Chúa. Vị Tổng thống thứ 2 là J.
Adams đã bắt đầu bài phát biểu nhậm chức của mình với lời thừa nhận rằng, ông
khiêm nhượng trông cậy vào Đức Chúa trời. T. Jeffersong trong lễ nhậm chức
tổng thống đã nói rằng, khi nhận chức tổng thống ông cảm thấy có nhu cầu cầu
xin Chúa. Còn J. Madison cũng nhắc nhở Quốc hội rằng, người Mỹ đã nhận
được độc lập và di sản quý báu là các quyền dân tộc từ lòng nhân từ của Đức
Chúa Trời. Các ông chủ Nhà Trắng sau này cũng thường phát biểu như vậy khi
nhậm chức.
Một số nhà hoạt động của các giáo hội tôn giáo ở Mỹ thường giáo huấn
các tín đồ của mình rằng, vương quốc của Chúa được bắt đầu ở nước Mỹ. Nhiều
người Mỹ cũng có tư tưởng cho rằng, dân tộc Mỹ chiếm vị trí hàng đầu trong
thế giới tốt nhất do Chúa Trời tạo dựng nên. Thượng nghị sĩ A. Biverij từng nói:
“Trong số tất cả các chủng tộc, Chúa đã chỉ định dân tộc Mỹ là dân tộc dẫn

tổng thống năm 1976, đại bộ phận cử tri Công giáo vẫn bỏ phiếu cho ứng cử
viên Đảng Dân chủ J.Carter.
2. Tôn giáo với các cuộc bầu cử quốc hội Mỹ
Nhân tố tôn giáo cũng đóng vai trò nhất định trong cuộc tranh giành
quyền lực giữa các đảng phái chính trị trong các cuộc bầu cử Quốc hội Mỹ.
Theo một truyền thống đã hình thành ở nước Mỹ, đại bộ phận người Công giáo
bỏ phiếu cho các ứng cử viên Đảng Dân chủ, còn tín đồ đạo Tin Lành thường
dành là phiếu cho các ứng cử viên Đảng Cộng hòa. Tuy nhiên, không nên đánh
giá rằng, nhân tố tôn giáo đóng vai trò chủ đạo trong đời sống chính trị cũng như
trong các cuộc đấu tranh của các đảng phái chính trị của nước này. Thực chất,
nhân tố tôn giáo chỉ đóng vai trò thứ yếu, nhưng không thể coi thường nhân tố
này.
Trước hết cần nhận thấy rằng cả đảng Dân chủ và Cộng hòa đều cố
gắng sử dụng tôn giáo như một con át chủ bài trong các chiến dịch bầu cử.
Chính vì vậy, không phải ngẫu nhiên trong các chiến dịch tranh cử, một số vấn
đề về mối quan hệ giữa Chính phủ Mỹ với các giáo hội lại nổi lên và được tranh


luận một cách gay gắt. Các giáo hội Mỹ muốn gây tác động nhất định đến các
ứng cử viên của cả hai đảng để khi các ứng cử viên này trúng cử, họ sẽ có thái
độ tốt đới với các giáo hội khi thảo luận tại Quốc hội về các vấn đề liên quan
đến hoạt động của các tổ chức tôn giáo. Các nhà soạn thảo sách lược của cả hai
đảng trong các cuộc vận động đều cho rằng, cần nêu thái độ thiện cảm đối với
một số đòi hỏi của các tổ chức tôn giáo nhằm lôi kéo cử tri về phía mình.
Qua một số cuộc bầu cử Quốc hội tại Mỹ, chúng ta thấy đại diện của
các thành phần tôn giáo trong Quốc hội như sau: số nghị sĩ đạo Tin Lành đông
nhất, tiếp đến là Công giáo. Đại đa số nghị sĩ Công giáo tham gia Quốc hội
thuộc Đảng Dân chủ.
Các số liệu thống kê cho thấy người Công giáo ngày càng có mặt nhiều
hơn trong Quốc hội Mỹ. Cả hai đảng lớn ở Mỹ đều dựa vào sự ủng hộ của Giáo

khác. Còn nếu dựa vào các chỉ báo khác mà các cơ quan bầu cử thường thống kê
như: lứa tuổi, giới tính, trình độ văn hóa, nơi cư trú…thì việc dự báo sẽ phức tạp
hơn nhiều. Theo số liệu của điều tra của Viện Gallup vào tháng 3/2014, có tới
64% người dân Mỹ tuyên tuyên bố rằng, niềm tin tôn giáo của họ ảnh hưởng tới
việc họ sẽ dành lá phiếu cho ai trong các cuộc bầu cử. Các chuyên gia nhận xét
rằng, những người có tín ngưỡng tôn giáo thể hiện ý nguyện của mình một cách
kiên định hơn so với những người không có tín ngưỡng tôn giáo và họ cũng
tham gia bầu cử thường xuyên hơn. Do vậy, không có gì ngạc nhiên khi các nhà
chính trị Mỹ trong các cuộc vận động trước bầu cử thường cố gắng chiếm tình
cảm của các tín đồ.
Những vấn đề nhức nhối lâu nay của nước Mỹ phần lớn là do kết quả
các cuộc bầu cử và thường có nguyên nhân sâu xa từ tôn giáo. Điều này thường
gắn với các vấn đề như quyền phụ nữ phá thai, quyền kết hôn của những người
đồng tính, quyền được bài trí các biểu tượng tôn giáo trong phòng làm việc của
mình ở các cơ sở giáo dục và các cơ quan nhà nước, quyền được sở hữu vũ khí
của người Mỹ…Cuộc tranh luận của các chính trị gia chung quanh những vấn đề
này là tâm điểm chú ý của người Mỹ. Những người bảo thủ thuộc các hệ phái
Tin Lành rất tích cực nhằm tăng cường ảnh hưởng của tôn giáo tới Nhà nước
Mỹ nói riêng và xã hội Mỹ nói chung. Các tổ chức tôn giáo Mỹ ngày nay đang
dần biến thành “các lò luyện sao chính trị” và các tổ chức này đang gây ảnh
hưởng trực tiếp tới các quá trình chính trị của nước mỹ. Điều đặc biệt ở nước
Mỹ, tất cả các tổng thống Mỹ tử trước đến nay đều là tín đồ Ki tô giáo.


Có thể thấy rằng, không ở đâu, tôn giáo lại luôn gắn với guồng máy
chính trị như ở Mỹ. Trong suốt hơn 220 năm tồn tại của Nhà nước Mỹ, khó có
thể bắt gặp một gương mặt chính trị gia cao cấp nào lại không gắn với một tổ
chức tôn giáo đang tồn tại ở nước này. Các chính trị gia cao cấp Mỹ từ tổng
thống đến các nghị sĩ Quốc hội và các thẩm phán của Tòa án Tối cao, một mặt
họ là thành viên của một đảng phái chính trị, mặt khác họ luôn là tín đồ của một

60 của thế kỷ XX. Để thay thế cho việc cầu nguyện trong các trường học, các tín
đồ Ki tô giáo đã đưa ra sáng kiến thực hiện cái gọi là “khoảnh khắc yên lặng” và
từ năm 1992 đã xóa bỏ sự hiện diện của các giáo sĩ phụ trách cầu nguyện trong
lễ tốt nghiệp ở các trường trung học. Toàn án chỉ cho phép sinh viên phụ trách lễ
cầu nguyện trong trường hợp này.
Một vấn đề gây tranh cãi gay gắt là chương trình “Phiếu chứng khoán
trường học” mà một số bang ở Mỹ đã thông qua. Theo chương trình này, cha mẹ
học sinh có thể đảm nhận việc cấp kinh phí cá nhân để trang trải một phần hoặc
toàn bộ chi phí cho việc học hành của con em mình trong các trường tư. Vấn đề
ở đây là các “phiếu chứng khoán” này có thể chi tiêu cho việc học hành trong
các trường học của Giáo hội. Trên thực tế, làm như vậy có nghĩa là Nhà nước đã
trả tiền cho giáo dục tôn giáo.
Chính quyền và giáo viên của các trường công lập không có quyền hạn
chế tín ngưỡng tôn giáo của học sinh cũng như hạn chế truyền bá một tôn giáo
nào đó. Nhưng mỗi người đều có cách hiểu riêng của mình về ý nghĩa của
những quy định này. Do vậy, các tòa án ở Mỹ nhiều lần phải giải quyết các vụ
án mà cha mẹ các học sinh đã kiện giáo viên không cho con em họ bày tỏ quan
điểm tôn giáo của mình trong các bài luận và trong các phát biểu trên lớp. Trong
những trường hợp như vậy, quyết định của toàn án thường có lợi cho học sinh,
bởi vì theo Hiến pháp Mỹ, học sinh có quyền bày tỏ ý kiến của mình.
Một số vấn đề khác cũng gây ra những cuộc tranh luận gay gắt, ví dụ
như những lời thề trung thành với quốc kỳ nước Mỹ mà hằng sãng học sinh phải
tuyên thệ trước mỗi buổi học: “Tôi xin thề trung thành với quốc kỳ Hợp chúng
quốc Hoa Kỳ, trung thành với nền cộng hòa mà lá cờ đỏ là biểu tượng, trung
thành với một dân tộc thống nhất trước Chúa, nơi mà tự do và công bằng dành
cho mọi người”. Tính hợp pháp dược nhắc tới trong lời thề trước Chúa đã nhiều
lần được tranh cãi tại các tòa án.
5. Các giáo hội tôn giáo ở Mỹ với vấn đề kinh doanh



2

Foster W.: Hoàng hôn của chủ nghĩa tư bản thế giới, Mátxcơva, 1959, tr.6 (tiếng Nga)


phiếu của ngân hàng, xí nghiệp, của các hãng bảo hiểm. Doanh lợi thu được từ
các hoạt động tài chính này là không nhỏ.
Tiền lạc quyên không phải là nguồn thu tài chính duy nhất của các giáo
hội. Họ còn các nguồn thu như tiền cho thuê nhà ở, trụ sở làm việc, bãi đỗ xe,
nhà mãy, cổ phiếu. Ví dụ, Giáo hội ở Ohio sở hữu cả một trung tâm thương mại,
một hãng điện tử, một công ty sản xuất dây thép và lưới thép.
Công giáo Mỹ là giáo hội giàu nhất thế giới. Bất động sản của Giáo hội
công giáo Mỹ vào những năm 70 của thế kỷ XX được định giá khoảng 44,5 tỷ
đô la, nhiều hơn tổng giá trị 5 tập đoàn lớn của Mỹ là Standard Oil, General
Motors, Ford Motors, United States Steel và Sokond Mobil Oil. Tài sản các tập
đoàn trên vào những năm này chỉ khoảng 38,5 tỷ đô la 3. Kinh doanh của Giáo
hội với một quy mô lớn như vậy đã tác động không nhỏ đến lập trường của các
tổ chức tôn giáo Mỹ đối với các vấn đề chính trị - xã hội của nước này. Bản thân
các giáo hội tôn giáo Mỹ rất quan tâm tới sự tồn tại và phát triển sở hữu tư nhân,
họ luôn bảo vệ lợi ích của giới cầm quyền dưới nhiều hình thức, thường được
ngụy trang một cách khéo léo, đôi khi cũng rất công khai.
Giáo hội Công giáo, các giáo hội Tin Lành, và các thánh đường Do
Thái giáo ở Mỹ là những tổ chức kinh doanh rất lớn. Chức năng của các tổ chức
này gắn liền với kinh tế Mỹ và ở một mức độ nào đó ảnh hưởng nhất định tới
nền kinh tế nước này. Nhà kinh doanh của các giáo hội quan tâm tới bản tin thị
trường chứng khoán, tỷ giá cổ phiếu cũng giống như sự quan tâm của họ tới
Kinh thánh và bài giảng giáo lý của chức sắc tôn giáo trong các giáo hội. Công
việc kinh doanh của các tổ chức tôn giáo ở Mỹ gắn kết chặt chẽ các nhà tư bản
thế tục với các nhà tư bản tôn giáo, xác định mối quan tâm chung của họ tới sự
phát triển của nền kinh tế Mỹ cũng như sự phát triển kỹ nghệ tôn giáo.

nhau, và khi đến Mỹ, họ mang theo cả tín ngưỡng và tôn giáo của mình. Quá
trình di cư đó diễn ra trong lịch sử và cho đến ngày nay vẫn đang tiếp tục. Do
vậy, bức tranh tôn giáo Mỹ đã đa dạng, nay càng thêm đa dạng.
Đạo bộ phận các tín đồ tôn giáo ở Mỹ thuộc các giáo hội Tin Lành.
Điều này được giải thích như sau: Những người di cư tới Mỹ từ nước Anh, Pháp
và các nước châu Âu chủ yếu là tín đồ thuộc các nhóm tôn giáo bị giáo hội Công
giáo đang thống trị ở châu Âu lúc đó truy bức và xua đuổi. Khi tới Mỹ, họ tập
hợp lại thành các tổ chức tôn giáo mà học đã theo đuổi ở châu Âu, đó là các giáo
hội Tin Lành. Ví dụ những người theo Giáo phái Calvin đến Mỹ từ các nước Hà
Lan, Thụy Sĩ, X cốt len và những nước châu Âu khác đã thành lập Giáo hội
Trưởng Lão (Presbyterian Church) và Giáo hội Cải cách (Reformed Church).
Lưu Bành: Tôn giáo Mỹ đương đại, Nxb. Văn hiến Khoa học xã hội, Bắc Kinh, 2001 (Bản dịch của Trần Nghĩa
Phương, pI, 2007, tr.12)
4


Những người nhập cư đến từ Italia, Ailen và các nước khác thành lập cộng đồng
Công giáo, những người từ Nga và một số nước khác thì thành lập cộng đồng
Chính Thống giáo. Tất cả các tín đồ tôn giáo đều có mối liên hệ đến nguồn gốc
của dân tộc mình.
Một đặc điểm khác của xã hội đa nguyên tôn giáo Mỹ là tuy số lượng
các tổ chức tôn giáo rất nhiều, chỉ riêng Tin Lành đã vượt quá con số 220 giáo
phái cùng hoạt động vào thế kỷ XX, nhưng không có một giáo hội tôn giáo nào
được thừa nhận là giáo hội chiếm địa vị thống trị, hay còn gọi là quốc giáo. Đặc
điểm này đã được C. Mác và Ph. Ăng ghen nhận xét ngay từ thế kỷ XIX trong
tác phẩm Gia đình thần thánh. Hai ông viết: “….Chỉ nơi nào không có tôn giáo
đặc quyền nào cả (như các bang Bắc Mỹ) thì tôn giáo mới thực tế phát triển một
cách phổ biến”5
Đa nguyên tôn giáo ở Mỹ là một khái niệm rất rộng. Ở Mỹ có rất nhiều
tổ chức tôn giáo cùng hoạt động, cạnh tranh lẫn nhau trong cuộc chiến giành con

Giáo phái Ngũ Tuần có hơn 30 chi phái…Đó là mới chỉ nói tới các chi phái
trong Tin Lành. Nếu xét tới các tôn giáo khác như Chính Thống giáo, Do Thái,
Islam, Phật giáo thì không thể tưởng tượng nổi số lượng các tổ chức tôn giáo,
giáo phái, chi phái ở Mỹ. Sự đa dạng tông phái, giáo phái, chi phái ở Mỹ đã tạo
ra một sự lựa chọn rộng rãi về tôn giáo, tín ngưỡng cho cư dân Mỹ. Sự lựa chọn
này có thể dựa vào giáo lý hay căn cứ vào đặc điểm chủng tộc, bối cảnh văn
hóa, hoặc có thể kết hợp bởi nhiều yếu tố. Ngoài việc lựa chọn những tôn giáo
có sẵn, người Mỹ còn có thể tạo ra những tín ngưỡng mới cho mình, từ đó xuất
hiện trên bức tranh đa nguyên tôn giáo Mỹ những cái gọi là “Liên giáo phái”
Việc lập ra các tôn giáo mới ở Mỹ không có gì khó khăn, chỉ cần nó
không trái với pháp luật của Liên bang và chính quyền địa phương là có thể hoạt
động. Điều quan trọng là duy trì và phát triển hoạt động của nó như thế nào, nếu
không thu hút được tín đồ, hay vi phạm pháp luật, thì tất yếu nó sẽ đi đến sự diệt
vong. Ở Mỹ, tôn giáo mới thì nhiều (khoảng 1.700 tổ chức tôn giáo mới), song
số lượng tín đồ lại không đáng kể (khoảng 1,4 triệu). Quy mô mỗi tổ chức tôn
giáo mới chỉ là vài trăm, hoặc vài chục người. Sự xuất hiện và đào thải của các
tôn giáo mới ở Mỹ tạo thành một vòng tuần hoàn và người Mỹ gọi hiện tượng
này là “phong trào tôn giáo mới”. Nguyên nhân xuất hiện của phong trào này rất
phức tạp, có nhiều cách lý giải khác nhau, song đây có thể nói là sản phẩm của
một xã hội thị trường Mỹ điển hình nhìn từ góc độ văn hóa – tôn giáo.
Ngoài ra, trên bức tranh đa nguyên tôn giáo của Mỹ còn có một mảng
màu của những người “không có tôn giáo”. Mảng màu này trước đây mờ nhạt,
nhưng hiện nay nó đã đậm dần, ở Mỹ hiện nay có khoảng hơn 14 triệu người


(chiến khoảng 7% dân số) không theo một tôn giáo nào, tuy nhiên: “tiếng nói
của những người không tôn giáo vẫn là rất yếu ớt, sự tồn tại của họ làm tăng
thêm sắc thái đặc thù cho cái cảnh quan đa nguyên tôn giáo ở Mỹ”.
Có thể hình dung nước Mỹ là bảo tàng tôn giáo lớn nhất thế giới với số
lượng, nhà thờ, thánh đường và các công trình tôn giáo lớn nhỏ rất đa dạng. Mỗi

Những người đàn ông, đàn bà ở địa phương này hay địa phương khác vì theo
các tôn giáo mà bị truy đuổi. Họ buộc phải nộp thuế và tiền lệ quyên để chu cấp
cho Giáo hội được Nhà nước nâng đỡ, còn giới tăng lữ truyền bá các thuyết giáo
nhằm củng cố giáo hội và nhà nước, gây hận thù đối với các tín đồ khác giáo.
Ví dụ: Theo Hiến pháp bang New Hampshire được thông qua năm
1784, những người không phải là tín đồ Tin Lành thì không thể vào được Hạ
viện và Thượng viện của bang này
Hiến pháp bang Delaware được thông qua năm 1776 có điều khoản quy
định khi được bầu vào Hạ viện hay được bổ nhiệm chưc vụ nào đó, người được
bầu phải tuyên thệ rằng mình tin vào Thiên Chúa và Chúa Giê su Ki tô….Điều
khoản này được ghi trong hiến pháp của bang cho tới năm 1972.
Ở bang Maryland, người ta tỏ thái độ không thể dung thứ đối với những
người không thuộc Giáo hội Ki tô giáo và không tin vào những tín điều của
Chúa Ba ngôi.
Như vậy, trong lịch sử Mỹ đã chứng tỏ rằng, các nhà làm luật của các
bang ở nước này hoàn toàn không đứng trên lập trường khoan dung tôn giáo.
Ở Mỹ, việc tách Giáo hội khỏi Nhà nước chưa khi nào được thực hiện
một cách triệt để, bởi vì cả hai thể chế đều là một bộ phận của cùng một môi
trường văn hóa – xã hội. Từ đó, ông cho rằng, việc tách hai thể chế này chỉ
mang tính tương đối. Sự hợp tác giữa Giáo hội và Nhà nước ở Mỹ được quy
định bởi sự cộng đồng quyền lợi giai cấp giữa Giáo hội và Nhà nước. Việc tách
Giáo hội khỏi Nhà nước không hoàn toàn dẫn tới việc loại bỏ giáo hội ra khỏi bộ
máy thống trị.
Năm 1786, một đạo luật về tự do tôn giáo đã được thông qua với tên
gọi là Đạo luật Virginia mà tác giả của nó chính là người đã soạn thảo tuyên
ngôn nước Mỹ (Thomas Jefferson). 220 năm sau, thổng thống thứ 43 của Mỹ
George W. Bush đã chọn ngày thông qua đạo luật này (16-1) làm ngày tự do tôn
giáo. Đạo luật Virginia tuyên bố về sự độc lập của giáo hội đối với Nhà nước,
nêu rõ “Không một người nào sẽ bị ép buộc phải duy trì sự sùng bái một tôn
giáo nào đó, bất kỳ giới tăng lữ nào…Nhưng tất cả mọi người sẽ tự do tin theo,

ngoài lề bắt đầu nhận được sự quan tâm đặc biệt. Năm 1993, Quốc hội mỹ đã
thông qua điều khoản khôi phục tự do tôn giáo nhằm thực hiện nghiêm túc các
7

The best of church state 1948 – 1975, N.Y,. 1975, p.44.


điều luật về tự do tôn giáo, chấn chỉnh những điều luật của Liên bang hay các
bang trái với những quy định về tự do thực hành tôn giáo, tự do lựa chọn tôn
giáo đã được ghi trong điều khoản sửa đổi Hiến pháp Mỹ lần thứ nhất. Tuy
nhiên, đến năm 1997 Tòa án Tối cao Mỹ đã bác bỏ điều khoản khôi phục tự do
tôn giáo được Quốc hội thông qua năm 1993 vì cho rằng Quốc hội đã giẫm lên
chính quyền lực của mình, điều khoản đã làm chia rẽ quyên lực trong chính
quyền Liên bang…….
Tự do tôn giáo ở Mỹ, thực ra chỉ là sự tự do lựa chọn tôn giáo và tự do
thực hành các nghi lễ tôn giáo. Công dân Mỹ có thể tự do lựa chọn một tôn giáo,
nhưng họ lại ít có tự do từ bỏ tôn giáo. Thông thường, mỗi người dân Mỹ đều
phải thuộc về một tôn giáo nào đó và tham gia một tổ chức tôn giáo nào đó.
Trên thực tế, những người không theo tôn giáo nào hay thậm chí có thái độ thờ ơ
với tôn giáo và hơn nữa, những người có quan điểm vô thần thường bị hạn chế
về quyền lợi. Ở một số bang, sự hạn chế này được quy định bằng pháp luật của
bang.
Trong lịch sử chính trị Mỹ, chúng ta khó tìm thấy một yếu nhân chính
trị nào là người “không tôn giáo” hoặc vô thần. Những tín đồ tôn giáo thiểu số
cũng khó có được cơ hội này8. Mặc dù vậy, số lượng người “không tôn giáo”
vẫn không ngừng tăng lên, từ 3% dân số vào những năm 1950, đến nay đã lên
trên 7%. Trong đó, cá biệt có bang Oregon tỷ lệ này là 17% dân số của bang.
Mỹ là quốc gia đầu tiên tuyên bố tách Giáo hội khỏi Nhà nước. Nhưng,
như V.I. Lê nin từng chỉ rõ, việc tách Giáo hội khỏi Nhà nước, trường học/giáo
dục khỏi nhà thờ/giáo hội, như một phương sách mà nền dân chủ tư sản đã hứa

những nước này vào diện các nước được quan tâm đặc biệt về tự do tôn giáo.
Mỗi nước, mỗi quốc gia dân tộc đều có truyền thống lịch sử, văn hóa, tôn giáo,
tín ngưỡng của riêng mình, luật pháp mỗi nước cũng được xây dựng trên các
truyền thống đó. Đó là quyền bất khả xâm phạm của mỗi quốc gia. Tuy nhiên,
trong thời đại hội nhập và toàn cầu hóa đang diễn ra sôi động hiện nay, mỗi
quốc gia đều đã và đang hoàn chỉnh lại hệ thống luật pháp của mình cho phù
hợp với thông lệ quốc tế. Luật pháp tôn giáo cũng nằm trong tiến trình điều
chỉnh này, chứ không phải ngoại lệ với bất kỳ quốc gia nào. Do vậy, việc lấy
tiêu chuẩn luật pháp của một quốc gia này áp đặt cho một số quốc gia khác là
điều không thể chấp nhận được trong thế giới hiện đại. Chỉ có sự hiểu biết lẫn
nhau, cùng điều chỉnh và hội nhập mới là phương sách đúng giúp các quốc gia,
dân tộc xích lại gần nhau hơn, tránh được các xung đột, trong đó có xung đột tôn


giáo, nhiều khi rất thảm khốc, như đã từng diễn ra trong lịch sử và mới diễn ra
trong những năm cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status