LUẬN văn THẠC sĩ ĐẢNG LÃNH đạo xây DỰNG KHỐI đại đoàn kết TOÀN dân tộc TRONG THỜI kỳ đẩy MẠNH CÔNG NGHIỆP hóa GIAI đoạn 1996 2005 - Pdf 38

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đại đoàn kết dân tộc là một truyền thống cực kỳ quý báu của dân tộc Việt Nam, một
giá trị tinh thần bền vững, một điều kiện bảo đảm cho sự tồn tại và phát triển của dân tộc
Việt Nam. Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập tới nay, luôn có đường lối và
phương pháp cách mạng đúng đắn, dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mác Lênin - Tư tưởng
Hồ chí Minh, kế thừa truyền thống đại đoàn kết dân tộc, khối ĐĐKDT không ngừng
được củng cố và mở rộng, phát huy được sức mạnh ĐĐKDT với sức mạnh của thời đại.
Đường lối đó đã đáp ứng được nhu cầu nguyện vọng sâu xa và chính đáng của các tầng
lớp nhân dân, phù hợp với xu thế khách quan của thời đại.
Lịch sử cách mạng nước ta hơn 75 năm qua đã chứng minh, trong mỗi giai đoạn cách
mạng, Đảng đều có quan điểm và chính sách đại đoàn kết đúng đắn, ĐĐKDT thực sự là
nguồn sức mạnh và là động lực cách mạnh to lớn, nhân tố có ý nghĩa hàng đầu góp phần
quyết định vào thắng lợi vẻ vang của dân tộc ta. Với đường lối cách mạng đúng đắn,
Đảng đã phát huy cao độ sức mạnh ĐĐKDT làm nên thắng lợi của cách mạng Tháng
Tám năm 1945, xoá bỏ chế độ thuộc địa nửa phong kiến, giành chính quyền về tay nhân
dân, mở ra kỷ nguyên mới của dân tộc Việt Nam, kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với
CNXH. Với sức mạnh của khối ĐĐKDT dưới sự lãnh đạo của Đảng đã dẫn tới thắng lợi
của cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, đánh
thắng chủ nghĩa Thực dân cũ và mới, hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân
dân, thực hiện thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên CNXH.


Bài học được rút ra trong quá trình cách mạng giải phóng dân tộc là: sự nghiệp cách
mạng dù khó khăn đến mấy kể cả khi Tổ quốc lâm nguy, nếu chúng ta biết dựa vào dân,
phát huy sức mạnh ĐĐKDT thì sẽ vượt qua. Trái lại dù thuận lợi bao nhiêu mà quên dân,
coi thường sức mạnh ĐĐKDT, chia rẽ bè phái thì thất bại. Thực tế lịch sử đó càng làm
sáng ngời tư tưởng vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “ Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết,
thành công, thành công, đại thành công”.
Hiện nay công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo đã
trải qua 20 năm. Chúng ta đã và đang thu được những thành tựu to lớn, toàn diện có ý

Xây dựng khối ĐĐKDT là vấn đề chiến lược trong đường lối cách mạng Việt Nam
của Đảng. Bước vào thời kỳ đổi mới đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, xây dựng và phát
huy sức mạnh khối ĐĐKDT là vấn đề lớn luôn được các nhà, lãnh đạo Đảng, Nhà nước
và các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu. Có thể khái quát thành các nhóm nghiên cứu
sau:
Một là, những nghiên cứu của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước được trình bày
trong các bài nói, bài viết tiêu tiểu là các công trình của:
Nông Đức Mạnh (2003), "Phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh CNH, HĐH đất
nước", Tạp chí Cộng sản, (4+5); GS, TS Nguyễn Phú Trọng (2002), "Sự lãnh đạo của


Đảng và sức mạnh đại đoàn kết dân tộc", Tạp chí Cộng sản (3); Phạm Thế Duyệt (2003),
"Thực hiện đại đoàn kết dân tộc và những vấn đề đặt ra cho hệ thống chính trị hiện nay",
Tạp chí Cộng sản, (16); Vũ Oanh (1995), Đại đoàn kết dân tộc, phát huy nội lực, nâng
cao hiệu quả hợp tác quốc tế thực hiện CNH, HĐH đất nước, Nxb CTQG, Hà Nội…
Các bài viết trên đây đều tập trung làm rõ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt
Nam trong xây dựng khối ĐĐKDT nhằm tập hợp phát huy sức mạnh của cả cộng đồng
dân tộc vào sự nghiệp đổi mới đất nước. Nêu bật tầm quan trọng, vai trò to lớn của khối
ĐĐKDT đồng thời nêu ra những chủ trương, giải pháp về xây dựng Đảng và đổi mới hệ
thống chính trị để tiếp tục lãnh đạo phát huy sức mạnh khối ĐĐKDT.
Hai là, nhóm nghiên cứu của các nhà khoa học nghiên cứu về tư tưởng đại đoàn kết
của Chủ tịch Hồ Chí Minh và sự vận dụng tư tưởng đó vào việc xây dựng và phát huy
sức mạnh khối ĐĐKDT trong thời kỳ mới. Các công trình của: PGS Phùng Hữu Phú
(1995), Chiến lược đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh, Nxb CTQG, Hà Nội; Tư
tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc với vấn đề phát huy sức mạnh đại đoàn kết
dân tộc trong thời kỳ mới (2004), Nxb CTQG, Hà Nội… Đây là những bài tham luận của
tập thể các nhà khoa học tại cuộc hội thảo về chủ đề "tư tưởng đại đoàn kết của Chủ tịch
Hồ Chí Minh" tại Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh tháng 5 năm 2003. Các bài
tham luận nêu trên đều phân tích làm sáng tỏ tư tưởng đại đoàn kết của Chủ tịch Hồ Chí
Minh và sự vận dụng vào xây dựng khối ĐĐKDT hiện nay.

- Làm rõ những kết quả, hạn chế, nguyên nhân, đề xuất những kinh nghiệm rút ra từ
thực tiễn lãnh đạo chỉ đạo của Đảng để vận dụng vào xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc
hiện nay.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận văn
* Đối tượng: Nghiên cứu quá trình Đảng lãnh đạo xây dựng khối ĐĐKDT trong thời
kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước
* Phạm vi nghiên cứu: Đại đoàn kết dân tộc là một vấn đề lớn được Đảng ta luôn luôn
quan tâm lãnh đạo nhưng đề tài chỉ giới hạn nghiên cứu trong khoảng thời gian từ 1996 2005. Tuy nhiên để bảo đảm tính kế thừa có hệ thống luận văn có đề cập đến một số sự
kiện liên quan trước năm 1996.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận: Dựa vào quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,
các văn kiện của Đảng đặc biệt là đường lối và chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam, về
vai trò của quần chúng nhân dân, về xây dựng mặt trận và khối ĐĐKDT.
* Phương pháp nghiên cứu: Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, luận văn chủ yếu sử dụng phương pháp lịch sử, phương pháp lô
gích và sự kết hợp hai phương pháp này, phân tích tổng hợp để dựng lại bức tranh lịch sử,
giải quyết các vấn đề đặt ra trên bình diện khoa học lịch sử Đảng.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Kết quả nghiên cứu góp phần khẳng định tính đúng đắn sáng tạo đường lối của Đảng
về xây dựng khối ĐĐKDT trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước.


Những kinh nghiệm mà luận văn rút ra từ thực tiễn xây dựng khối ĐĐKDT trong thời
kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước. Là sự gợi mở góp phần bổ sung hoàn thiện chủ
trương đường lối của Đảng trong lãnh đạo xây dựng khối ĐĐKDT trong giai đoạn xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.
Luận văn là tài liệu tham khảo nghiên cứu, giảng dạy môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt
Nam, ở các nhà trường quân đội.
7. Kết cấu của luận văn
Luận văn được kết cấu gồm: Phần mở đầu, 2 chương (4 tiết), kết luận, danh mục tài liệu

Nam phải thường xuyên đương đầu với thế lực xâm lược mạnh hơn ta về kinh tế và quân
sự.
Một dân tộc nhỏ luôn phải đương đầu trước họa xâm lăng của đế quốc tàn bạo, muốn
không bị rơi vào đồng hoá và tiêu diệt thì con người Việt Nam phải ý thức đoàn kết, tự
lực tự cường. Chỉ có đoàn kết tự lực tự cường mới tồn tại và phát triển. Lịch sử dựng
nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam đã chứng minh điều đó.


Năm 938 Ngô Quyền đã tổ chức đoàn kết chặt chẽ quân dân đánh tan quân Nam Hán
trên sông Bạch đằng, chấm dứt 1000 năm Bắc thuộc mở ra kỷ nguyên độc lập của nước
Đại việt.
Thời Lý, đại đoàn kết dân tộc tạo ra sức mạnh vĩ đại đã lập nên những kỳ tích của
quân và dân ta, tiêu biểu là Lý Thường Kiệt (1019 – 1105) đánh tan quân xâm lược Tống.
Thời Trần, từ sự nghiệp dựng nước, giữ nước phải dựa vào dân nên dân trí phát triển,
nhân tài nảy nở, nơi nơi nhân dân phấn chấn xây dựng cơ đồ, tạo ra sức mạnh vĩ đại của
dân tộc, ba lần liên tục trong hơn 30 năm đánh bại đội quân xâm lược rất hung bạo của đế
quốc Mông Nguyên. Tiêu biểu là Trần Hưng Đạo, anh hùng dân tộc, đã nói đi đôi với
làm: “ Vua tôi đồng lòng, anh em hòa thuận trên dưới chung sức”, “ khoan thư sức dân để
làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước”. Mà tiêu biểu là Hội nghị Diên Hồng
còn vang vọng đến ngày nay.
Thời Lê lợi - Nguyễn Trãi, sức mạnh đoàn kết dân tộc và tài thao lược vẫn được kế
thừa và phát triển. Nét độc đáo là việc sử dụng kỳ diệu sức mạnh của nền văn hiến dân
tộc trong xây dựng và kháng chiến thắng địch, kết hợp đức khoan dung với ĐĐKDT và
tinh thần hòa hiếu với nước ngoài.
Lịch sử dân tộc cũng đã chứng minh về các triều đại bị suy vong trong lịch sử đều do,
mất đoàn kết, chia rẽ bè phái, suy đồi trong triều chính bỏ rơi ngọn cờ dân tộc như: nhà
Hồ và sự phân tranh Lê - Mạc, Trịnh – Nguyễn. Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng
định: “Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập, tự do. Trái lại
lúc nào dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm phạm” [36, tr.217].


lối xây dựng khối ĐĐKDT trong đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng CNXH.
Năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, với đường lối phương pháp cách mạng
đúng đắn dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, kế thừa và
phát huy truyền thống quý báu của dân tộc, đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng sâu xa và
chính đáng của các tầng lớp nhân dân, phù hợp với xu thế khách quan của thời đại, trong
mỗi giai đoạn và thời kỳ cách mạng, Đảng đều có quan điểm và chính sách đại đoàn kết
đúng đắn. ĐĐKDT đã thực sự là nguồn sức mạnh và động lực cách mạng to lớn nhân tố
có ý nghĩa hàng đầu góp phần quyết định vào thắng lợi của cách mạng, trong cách mạng
dân tộc dân chủ nhân dân cũng như trong cách mạng XHCN.
Thực tiễn của toàn bộ tiến trình lịch sử dân tộc từ khi có Đảng đã chứng minh. Cao
trào cách mạng Xô viết Nghệ Tĩnh (1930 -1931) là cuộc biểu dương lực lượng, cuộc diễn
tập cách mạng của khối liên minh công nông do Đảng lãnh đạo.
Thời kỳ (1936 – 1939), Đảng đã có sự điều chỉnh khá lớn về chiến lược cách mạng và
công tác vận động xây dựng khối ĐĐKDT. Căn cứ vào hoàn cảnh cụ thể, trước mắt trong
những năm 1936-1939, Đảng chủ trương thành lập Mặt trận đoàn kết nhân dân rộng rãi
bao gồm các giai cấp, các đảng phái các đoàn thể chính trị và tín ngưỡng tôn giáo khác
nhau, các dân tộc ở xứ Đông Dương để đấu tranh đòi các quyền tự do dân chủ.


Thời kỳ 1939-1945, mâu thuẫn giữa nhân dân ta với đế quốc Pháp, Nhật gay gắt hơn
bao giờ hết. Vấn đề giải phóng dân tộc đang đặt ra một cách trực tiếp. Hội nghị Ban Chấp
hành Trung ương 6 (11/1939) quyết định chuyển hướng chỉ đạo chiến lược: “Bước đường
sinh tồn của dân tộc Đông Dương không có con đường nào khác là con đường đánh đổ đế
quốc Pháp chống tất cả ách ngoại xâm, vô luận da trắng hay da vàng để giành lấy giải
phóng dân tộc” [19, tr.536]. Để tập hợp lực lượng, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh thành
lập “Việt Nam độc lập đồng minh” gọi tắt là “Mặt trận Việt Minh”, không phân biệt
khuynh hướng chính trị, tín ngưỡng, tôn giáo, giai cấp xã hội, nam nữ và tuổi tác nhằm
đánh Pháp, đuổi Nhật. Hồ Chí Minh trong bức thư gửi đồng bào cả nước đã nêu rõ:
Nay cơ hội giải phóng đến rồi muốn đánh Pháp, Nhật ta chỉ có một điều toàn dân
đoàn kết. Hỡi đồng bào! Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy.

chiến của toàn dân, đoàn kết triệu người như một, đưa cuộc kháng chiến của dân tộc phát
triển từ nhỏ đến lớn, từ yếu đến mạnh giành thắng lợi ngày càng to lớn, đưa đến thắng lợi
Điện biên phủ kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Đúng như Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Sự đồng tâm của đồng bào ta đúc thành bức tượng
đồng xung quanh Tổ quốc dù địch hung tàn đến mức nào, đập đầu vào bức tường đó
chúng cũng phải thất bại” [37, tr.151].


Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp vừa kết thúc, đất nước tạm thời chia làm hai
miền, miền Bắc được giải phóng phát triển đi lên CNXH, miền Nam tạm thời nằm dưới
sự thống trị của chế độ Mỹ Ngụy chờ ngày tổng tuyển cử thống nhất Tổ quốc. Nhưng với
âm mưu xâm lược nước ta từ lâu Đế quốc Mỹ đã ngang nhiên xoá bỏ hiệp định Giơ ne vơ
tiến hành xâm lược miền Nam nước ta, biến miền Nam nước ta thành thuộc địa kiểu mới
căn cứ quân sự của Mỹ. Toàn thể dân tộc Việt Nam lại tiếp tục cuộc kháng chiến trường
kỳ chống lại cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ. Đường lối xuyên suốt của Đảng
là tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng, cách mạng XHCN ở miền Bắc và cách
mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam nhằm mục tiêu chung là (trước mắt) giải
phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc. Đường lối đấu tranh của Đảng được xác định trong
Đại hội Đảng lần thứ III. 1960 là: “ Tăng cường đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranh
giữ vững hoà bình, đẩy mạnh cách mạng XHCN ở miền Bắc, đồng thời đẩy mạnh cách
mạng dân tộc dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam thực hiện thống nhất nước nhà” [27,
tr.73]. Để mở rộng khối ĐĐKDT, đoàn kết tất cả những người thực sự yêu Tổ quốc, yêu hoà
bình, không phân biệt thuộc đảng phái nào, tôn giáo nào và quá khứ của họ đã hợp tác với
bên nào, nhằm tập trung mũi nhọn đấu tranh của nhân dân ta chống Mỹ Diệm. Đại hội Mặt
trận Liên Việt toàn quốc họp 9-1955 quyết định thành lập Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Phát
biểu tại Đại hội Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định: “Mặt trận dân tộc thống nhất cần mở rộng
hơn nữa củng cố hơn nữa, đoàn kết tất cả những người thật sự yêu Tổ quốc, yêu hoà bình,
không phân biệt họ thuộc đảng phái nào, tôn giáo, tầng lớp nào” [41, tr.61].
Trong những năm kháng chiến khốc liệt ở miền Nam. Tháng 1-1959 Hội nghị Ban
Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 15 vạch ra con đường phát triển của cách mạng

nữa trong sự nghiệp đổi mới đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước.
1.1.2. Đại đoàn kết dân tộc là nguồn sức mạnh là động lực chủ yếu thực hiện
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Cách mạng có nhiều động lực nhưng động lực chủ yếu là đại đoàn kết toàn dân. Đảng
xác định: phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm, xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt,
ĐĐKDT là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đồng thời Đảng ta khẳng định ĐĐKDT là nguồn sức mạnh, là
động lực chủ yếu để đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước. Sự khẳng định đó được dựa trên
những căn cứ sau:
Căn cứ vào đặc điểm con đường đi lên CNXH ở nước ta. Con đường đi lên CNXH ở
nước ta là sự phát triển quá độ lên CNXH, bỏ qua chế độ TBCN. Nước ta quá độ lên
CNXH từ một nước vốn là thuộc địa, nửa phong kiến, nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu,
kém phát triển, sản xuất nhỏ là phổ biến; đất nước lại trải qua hàng chục năm chiến tranh
ác liệt tàn phá, thiên tai bão lụt liên miên. Vì vậy xây dựng CNXH bỏ qua chế độ TBCN
tạo ra sự chuyển biến về chất của xã hội trên tất cả các lĩnh vực là sự nghiệp rất khó khăn,
phức tạp và trải qua thời kỳ lâu dài. Trong các lĩnh vực của đời sống xã hội diễn ra cuộc
đấu tranh quyết liệt giữa cái mới và cái cũ, giữa các nhân tố XHCN đang phát sinh với
yếu tố phi CNXH cản trở. Cuộc đấu tranh giai cấp đấu tranh giữa hai con đường XHCN
và TBCN diễn ra trong điều kiện mới, nội dung giai cấp và nội dung dân tộc gắn kết với


nhau bằng những hình thức mới. Đồng thời hiện nay sự nghiệp cách mạng nước ta đứng
trước nhiều thời cơ, vận hội nhưng cũng không ít khó khăn cả những khó khăn mới xuất
hiện khi đẩy mạnh CNH, HĐH, cả khó khăn trở ngại do những yếu kém hiện nay và tàn
tích từ trước, cả những khó khăn trong nước và những tác động bất lợi từ bên ngoài. Từ
đặc điểm đó, Đảng nhấn mạnh: Nước ta căn bản vẫn là nước nông nghiệp, điểm xuất phát
kinh tế thấp, khoảng cách về trình độ phát triển giữa nước ta với các nước trên thế giới còn
rất lớn, đất nước đi lên CNXH trong điều kiện cạnh tranh quốc tế ngày càng quyết liệt, nếu
chúng ta không nhanh chóng vươn lên thì sẽ tụt hậu xa hơn về kinh tế. Đây là nhiệm vụ
nặng nề khó khăn, chỉ có phát huy quyền làm chủ của nhân dân, huy động được các nguồn

văn hóa, khoa học công nghệ cao gắn liền với thị trường trong nước và trên thế giới với
sức mạnh tổng hợp của toàn dân, của các thành phần kinh tế, sức mạnh thời đại. Những
nhân tố đó nếu được huy động khai thác là một trong những vấn đề quyết định thành bại
của công cuộc đổi mới đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước.
Chính vì vậy Đại hội VIII chỉ rõ: “CNH, HĐH là sự nghiệp của toàn dân, của mọi thành
phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước là chủ đạo” [12, tr.85].
Căn cứ vào tiềm năng, yếu tố nội lực của dân tộc ta. Đất nước ta có hơn 80 triệu người
đó là những chủ thể của sự nghiệp đổi mới, thực hiện CNH, HĐH đất nước, mà còn là một


nguồn vốn phong phú, đa dạng có khả năng tái sinh lớn nhất. Đó là vốn quý nhất trong mọi
nguồn vốn. Đội ngũ lao động của Việt Nam gắn với đất đai, tài nguyên, lực lượng sản xuất,
với khoa học công nghệ, khoa học quản lý hiện có sẽ là một nguồn nhân tài vật lực hết sức
phong phú trong đó lực lượng mạnh nhất là trí tuệ và tài năng tiềm năng của đất nước ta.
Con người Việt Nam vốn thông minh sáng tạo, cần cù, giàu lòng yêu nước, nhân ái vị
tha lại có đường lối hoà hợp ĐĐKDT của Đảng và nhà nước ta sẽ là lực lượng hùng hậu
thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ CNH, HĐH.
Xuất phát từ đặc điểm trên để khối ĐĐKDT trở thành nguồn sức mạnh và động lực
chủ yếu đường lối xuyên suốt của Đảng đều xuất phát từ vai trò sức mạnh của quần
chúng nhân dân.
Thực tiễn đã chứng minh những năm thực hiện đường lối đổi mới, Đảng luôn luôn
nhấn mạnh vai trò của quần chúng nhân dân, bài học kinh nghiệm được rút ra tại Đại hội
lần thứ VI: “Trong toàn bộ hoạt động của mình Đảng phải quán triệt tư tưởng “ lấy dân
làm gốc”, xây dựng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động” [10, tr.29]. Đồng
thời Đảng luôn phê phán tệ quan liêu, mệnh lệnh, xa rời quần chúng, đi ngược lại lợi ích của
nhân dân làm suy yếu sức mạnh của Đảng. Đại hội đã xác định phương hướng cơ bản của
chính sách kinh tế, xã hội trong những năm tới, trong đó thể hiện đậm nét tư tưởng đại đoàn
kết, tư tưởng đó được thể hiện rõ trong các chính sách về phát triển kinh tế. Đại hội VI nhấn
mạnh: “Tư tưởng chỉ đạo của kế hoạch và các chính sách kinh tế là giải phóng mọi năng lực
sản xuất hiện có, khai thác mọi khả năng tiềm tàng của đất nước và sử dụng có hiệu quả sự

Kế thừa truyền thống quý báu của dân tộc, Đảng ta luôn giương cao ngọn cờ đại đoàn
kết toàn dân. Đó là đường lối chiến lược, là nguồn sức mạnh và động lực to lớn để xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc. Xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân là trách nhiệm của cả hệ thống chính
trị và toàn xã hội [13, tr.123].
Thấm nhuần sâu sắc tư tưởng ĐĐKDT, Hội nghị Trung ương lần thứ bảy khoá IX đề ra
nhiệm vụ quan trọng: củng cố và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân nhằm phát huy sức
mạnh tổng hợp của toàn dân tộc giữ vững độc lập, thống nhất Tổ quốc, thực hiện thắng lợi sự
nghiệp CNH, HĐH đất nước vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,
văn minh”.
Với đường lối đó Đảng đã huy động tối đa mọi nguồn lực, sức mạnh của toàn dân, của cả
cộng đồng dân tộc biến khối ĐĐKDT thành sức mạnh to lớn để phát triển đất nước. Ý chí của
Đảng, của dân chỉ có thể thực hiện bằng sức mạnh của khối ĐĐKDT. Do đó, xây dựng củng
cố khối ĐĐKDT là yêu cầu khách quan của thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước.

1.2. Quá trình Đảng lãnh đạo xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong thời kỳ đẩy
mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
1.2.1. Quan điểm và chính sách của Đảng về xây dựng khối đại đoàn kêt toàn dân tộc trong
thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá
- Quan điểm của Đảng về xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc


Đại đoàn kết toàn dân, phát huy sức mạnh cả cộng đồng dân tộc là đường lối chiến lược cơ
bản lâu dài.
Những thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX và thành quả của công cuộc
đổi mới ổn định kinh tế - chính trị xã hội, nâng cao vị thế của nước ta trên trường quốc tế hiện
nay đều có vai trò quyết định của sức mạnh khối ĐĐKDT. Phát huy sức mạnh khối ĐĐKDT
không phải là sách lược nhất thời mà là một chiến lược của cách mạng Việt Nam.
Đại đoàn kết toàn dân, phát huy sức mạnh cả cộng đồng dân tộc là đường lối chiến lược cơ
bản, lâu dài của Đảng và Nhà nước ta. Đường lối này là kết quả của sự tiếp thu truyền thống
đoàn kết trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Chủ tịch Hồ

thà tán thành hoà bình, độc lập dân chủ thì dù những người đó trước đây chống chúng ta,
bây giờ chúng ta cũng thật thà đoàn kết với họ” [39, tr. 438].
Đại đoàn kết toàn dân, phát huy sức mạnh cả cộng đồng dân tộc trên cơ sở thống nhất
mục tiêu, lợi ích căn bản.
Đại hội IX: "Phát huy sức mạnh của cả cộng đồng dân tộc, truyền thống yêu nước, ý chí
tự lực tự cường và lòng tự hào dân tộc lấy mục tiêu giữ vững độc lập thống nhất vì dân giàu


nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh làm điểm tương đồng" [13, tr.123]. Quan
điểm của Đảng chỉ rõ cơ sở của khối ĐĐKDT đó là lợi ích tối cao của đất nước, của dân
tộc tìm ra những điểm tương đồng, tìm được tiếng nói chung đó vừa là điểm xuất phát,
vừa là vấn đề trung tâm của đoàn kết toàn dân. Quan điểm của Đảng nhằm thức tỉnh tinh
thần dân tộc lành mạnh, tích cực trong mỗi con người Việt Nam, đó là truyền thống yêu
nước và lòng tự hào dân tộc, khẳng định sức mạnh truyền thống, giá trị văn hoá, dân tộc
như một nguồn động lực to lớn để phát triển. Yêu nước, đoàn kết xây dựng bảo vệ đất
nước đã trở thành triết lý sống của dân tộc. Phát huy chủ nghĩa yêu nước, ý chí tự lực, tự
cường và lòng tự hào dân tộc trong giai đoạn hiện nay vừa là mục tiêu, vừa là động lực
của quá trình củng cố và phát triển khối ĐĐKDT.
Sức mạnh đại đoàn kết toàn dân được xây dựng và phát huy trên cơ sở của sự kết hợp
đúng đắn và giải quyết hài hoà các lợi ích giữa các dân tộc, các giai cấp, các tôn giáo,
các cộng đồng xã hội khác, trước hết là lợi ích kinh tế và tiếp đó là lợi ích chính trị và các
lợi ích đa dạng khác. Thực chất của sự kết hợp và giải quyết hài hoà thoả đáng các lợi ích
là quá trình phát hiện những điểm tương đồng, thống nhất về lợi ích cũng như mâu thuẫn
giữa các nhu cầu và lợi ích khác sẽ tạo nên động lực cơ bản cho sự liên minh và phát triển
xã hội. Khối đại đoàn kết dân tộc của đất nước ta dựa trên nền tảng vững chắc của khối
liên minh công nhân với nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng Cộng sản lãnh đạo, kết
hợp hài hoà lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội. Vì vậy trong xã hội ta, giữa các dân tộc,
các giai cấp, tôn giáo, các thành phần xã hội có sự thống nhất về lợi ích căn bản.
Phát huy sức mạnh ĐĐKDT dựa trên cơ sở lợi ích tối cao của dân tộc và quyền lợi cơ
bản của nhân dân lao động, nhận thức và giải quyết đúng đắn các mối quan hệ lợi ích đa


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status