SỰ KIỆN LỚN VỀ QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM ANH HÙNG
·
Năm 1944
Tháng 12-1944
Lãnh tụ Hồ Chí Minh chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải
phóng quân. Toàn văn chỉ thị như sau:
1- Tên, ĐỘI VIỆT NAM TUYÊN TRUYỀN GIẢI PHÓNG QUÂN
nghĩa là chính trị trọng hơn quân sự. Nó là đội tuyên truyền. Vì muốn hành động
có kết quả thì về quân sự, nguyên tắc chính là nguyên tắc tập trung lực lượng,
cho nên, theo chỉ thị mới của đoàn thể, sẽ chọn lọc trong hàng ngũ những du
kích Cao-Bắc-Lạng số cán bộ và đội viên kiên quyết, hăng hái nhất và sẽ tập
trung một phần lớn vũ khí để lập ra đội chủ lực.
Vì cuộc kháng chiến của ta là cuộc kháng chiến của toàn dân, cần phải
động viên toàn dân, vũ trang toàn dân, cho nên trong khi tập trung lực lượng để
lập một đội quân đầu tiên, cần phải duy trì lực lượng vũ trang trong các địa
phương cùng phối hợp hành động và giúp đỡ về mọi phương diện. Đội quân chủ
lực trái lại có nhiệm vụ dìu dắt cán bộ vũ trang của các địa phương, giúp đỡ
huấn luyện, giúp đỡ vũ khí nếu có thể được, làm cho các đội này trưởng thành
mãi lên.
2- Đối với các đội vũ trang địa phương: đưa các cán bộ địa phương về
huấn luyện, tung các cán bộ đã huấn luyện đi các địa phương, trao đổi kinh
nghiệm, liên lạc thông suốt, phối hợp tác chiến.
3- Về chiến thuật: vận dụng lối đánh du kích, bí mật, nhanh chóng,
tích cực, nay đông mai tây, lai vô ảnh, khứ vô tung.
Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân là đội quân đàn anh,
mong cho chóng có những đội đàn em khác.
Tuy lúc đầu quy mô của nó còn nhỏ, nhưng tiền đồ của nó rất vẻ vang.
toàn dân Việt Nam, làm cho nước Việt Nam trở nên một nước dân chủ, độc lập,
tự do, ngang hàng với các nước dân chủ trên thế giới.
2. Xin thề: Tuyệt đối phục tùng mệnh lệnh cấp trên, khi nhận một
nhiệm vụ gì sẽ tận tâm, tận lực thi hành cho nhanh chóng và chính xác.
3. Xin thề: Bao giờ cũng kiên quyết phấn đấu, dù gian lao khổ hạnh
cũng không phàn nàn, vào sống ra chết cũng không sờn chí, khi ra trận mạc
quyết chí xung phong, dù đầu rơi máu chảy cũng không lùi bước.
4. Xin thề: Lúc nào cũng khẩn trương, hoạt bát, hết sức học tập, chiến
đấu để tự rèn luyện thành một người quân nhân cách mạng, xứng đáng là một
người chiến sĩ tiên phong giết giặc, cứu nước.
5. Xin thề: Tuyệt đối giữ bí mật cho mọi việc của đội như nội dung, tổ
chức, kế hoạch hành động cũng những người chỉ huy trong đội và giữ bí mật
cho tất cả các đoàn thể cứu quốc.
6. Xin thề: Nếu trong lúc chiến đấu bị quân địch bắt được, dù bị cực
hình tàn khốc thế nào, cũng quyết một lòng trung thành với sự nghiệp cứu quốc,
không bao giờ phản bội xưng khai.
7. Xin thề: Hết sức ái hộ các bạn chiến đấu trong đội cũng như ái hộ
bản thân, hết lòng giúp nhau trong lúc thường cũng như lúc ra trận.
8. Xin thề: Bao giờ cũng chủ trương giữ gìn vũ khí của đội, quyết
không để cho vũ khí hư hỏng hoặc rơi vào tay quân thù.
9. Xin thề: Khi tiếp xúc với dân chúng sẽ làm đúng với ba điều nên:
kính trọng dân, cứu giúp dân, bảo vệ dân; và ba điều răn: không dọa nạt dân,
không lấy của dân, không quấy nhiễu dân để gây lòng tin cậy ái đới của dân
chúng, thực hiện quân dân nhất trí cứu nước diệt gian.
10. Xin thề: Bao giờ cũng nêu cao tinh thần tự phê bình và sửa chữa tư
cách cá nhân mô phạm, không làm điều gì hại đến thanh danh của đội quân giải
phóng và hại đến quốc thể Việt Nam”.
Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân là một
- Thống nhất các chiến khu, thành lập “Việt Nam giải phóng quân”.
- Tổ chức “Uỷ ban quân sự” (tức Uỷ ban khởi nghĩa) để thống nhất chỉ
huy du kích và các chiến khu.
Ngày 12-2-1945
Thành lập Đội du kích Ba Tơ tại tỉnh Quảng Ngãi, gồm 28 chiến sĩ, 24
khẩu súng.
Đội trưởng: Phạm Kiệt.
Chính trị uỷ viên: Nguyễn Đôn.
Trong thời gian này ở các địa phương khác (Sài Gòn, Mỹ Tho, Bến
Tre, Sa Đéc...) nhiều đội tự vệ, vũ trang công tác... được thành lập.
Từ ngày 15 đến 20-4-1945
Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ do ban Thường vụ Trung ương
Đảng triệu tập, tại huyện Hiệp Hoà (Bắc Giang). Đồng chí Tổng bí thư Trường
Chinh chủ trì. Hội nghị quyết định phát triển chiến tranh du kích, chuẩn bị phát
động tổng khởi nghĩa, thống nhất Việt Nam giải phóng quân và Cứu quốc quân
thành Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân; mở Trường Quân chính kháng
Nhật.
Ngày 15-5-1945
Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân và Cứu quốc quân gặp nhau ở
bãi Thàn Mát (tên một loài cây) phía sau đình làng Quặng (xã Định Biên, Định
Hoá, Thái Nguyên). Cùng ngày, tại đình làng Quặng, đồng chí Võ Nguyên Giáp
tuyên bố thống nhất các tổ chức vũ trang cách mạng trong cả nước thành Việt
Nam giải phóng quân. Lực lượng ban đầu gồm 13 đại đội (thống nhất từ các đại
đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, trung đội cứu quốc quân) và các
đội vũ trang tập trung ở các tỉnh, huyện.
Từ tháng 5 đến 6-1945
Việt Nam giải phóng quân cùng nhân dân các dân tộc Việt Bắc đánh
bại cuộc tiến công của 2.000 quân phát xít Nhật, bảo vệ căn cứ địa.
lượng, kịp đánh vào các đô thị và trọng trấn của quân địch; đánh chặn các
đường rút lui của chúng, tước vũ khí của chúng! Đạp qua muôn trùng trở lực,
các bạn hãy kiên quyết tiến!”.
Ngày 16-8-1945
Đại hội quốc dân khai mạc tại đình Tân Trào (Sơn Dương, Tuyên
Quang). Đại hội tán thành chủ trương tổng khởi nghĩa của Đảng; quy định Quốc
kỳ, Quốc ca, thông qua mười chính sách của Mặt trận Việt Nam, cử ra Ủy ban
dân tộc giải phóng Việt Nam tức Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam dân
chủ cộng hoà do lãnh tụ Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Ngay trong ngày 16-8, Chủ
tịch Hồ Chí Minh gửi quân và dân cả nước “Thư kêu gọi tổng khởi nghĩa”.
Ngày 27-8-1945
Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra Lời tuyên cáo
và công bố Chính phủ lâm thời gồm: Chủ tịch kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao là
Hồ Chí Minh và 14 bộ, trong đó Bộ trưởng Bộ Nội vụ là Võ Nguyên Giáp và
Bộ Quốc phòng là Chu Văn Tấn.
Ngày 28-8-1945
Giải phóng quân tiến vào Hà Nội; ngày 30-8, duyệt binh tại Quảng
trường Nhà hát lớn thành phố, biểu thị quyết tâm cùng toàn dân bảo vệ chính
quyền cách mạng non trẻ.
Ngày 2-9-1945
Tại Thủ đô Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập,
Chính phủ lâm thời ra mắt quốc dân. Giải phóng quân và đồng bào diễu hành
biểu dương lực lượng, nguyện đoàn kết, đem hết tinh thần và lực lượng, tính
mạng và của cải giữ vững nền độc lập.
Tại Sài Gòn, Lâm uỷ hành chính Nam Bộ chỉ thị thành lập lực lượng
vũ trang cách mạng để bảo vệ chính quyền, bảo vệ thành quả cách mạng. Đồng
chí Nguyễn Lưu phụ trách Tổng công đoàn Nam Bộ được cử chỉ huy lực lượng
vũ trang công nhân cách mạng.
Ngày 7-9-1945
Các tỉnh miền Đông Nam Bộ thành lập Ủy ban kháng chiến. Nhân dân quyên
góp lương thực, thực phẩm, thuốc men cho bộ đội đánh giặc. Xứ uỷ và Ủy ban
nhân dân điện báo ra Trung ương và Chủ tịch Hồ Chí Minh xin chỉ thị; đồng
thời phát động ngay cuộc kháng chiến chống Pháp.
Tháng 9-1945
Vệ quốc đoàn Nam tiến cùng nhân dân Nam Bộ kháng chiến. Ngày
26-9, chi đội Giải phóng quân 3 từ Việt Bắc xuống được bổ sung 32 chiến sĩ
Giải phóng quân Hà Nội sáp nhập vào; chi đội trưởng: Lương Văn Khâm (tức
Mông Phúc Thơ), chính trị viên: Vũ Nam Long, hành quân bằng tàu hoả từ ga
Thanh Hoá vào Nam. Đây là chi đội Nam tiến đầu tiên. Dọc đường, chi đội
được bổ sung hai trung đội của tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An. Chi đội đầu tiên
chiến đấu tại cầu Bình Lợi, Xuân Lộc (Đông Nam Bộ).
Đến tháng 3-1946, đã có 12 chi đội (mỗi chi đội tương đương trung
đoàn hoặc tiểu đoàn) và 6 đại đội Vệ quốc đoàn Nam tiến.
Cuối tháng 9-1945
Thành lập Bộ Chỉ huy mặt trận Nam Trung Bộ gồm các đồng chí
Phạm Kiệt, Nguyễn Đôn, Trương Quang Giao. Nhịêm vụ: bảo đảm hành lang và
bàn đạp vận chuyển trang bị, vũ khí, lương thực...của Trung ương và các tỉnh
phía bắc vào Nam Bộ, sẵn sàng đối phó với cuộc tiến công của Pháp và Nhật,
đưa lực lượng vào chi viện Nam Bộ.
Ngày 15-10-1945
Thành lập Chiến khu 4 gồm các tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh,
Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên.
Khu trưởng: Lê Thiết Hùng (tức Lê Văn Sửu).
Chính trị uỷ viên: Hồ Tùng Mậu.
Ngày 15-10 trở thành ngày truyền thống của các lực lượng vũ trang
Quân khu 4.
Ngày 31-10-1945
650), Điện Biên Phủ (825), các vùng biên giới (2.775). Quân tiếp phòng của
Việt Nam đóng ở Hà Nội (952), Hải Dương (904), Huế (500), Phủ Lý (500),
Thái Bình (500), Nam Định (500), Thanh Hoá (684),Đồng Hà (684), Đồng Hới
(220), Vinh (904), Đà Nẵng (904). Các tỉnh biên giới: Móng Cái, Lạng Sơn,
Cao Bằng, Lào Cai, Lai Châu sẽ được quy định sau. Thành lập Ủy ban liên lạc
và kiểm soát quân sự Trung ương Việt-Pháp (gọi tắt là Ủy ban Liên kiểm) để
theo dõi và giải quyết những vấn đề nảy sinh trong quá trình thi hành hiệp định.
Đồng chí Hoàng Hữu Nam-Thứ trưởng Bộ Nội vụ đại diện Chính phủ Việt Nam
dân chủ cộng hoà, chỉ đạo; đồng chí Cao Xuân Hổ làm Trưởng ban, đồng chí
Phan Mỹ làm Tổng Thư ký.
Thành lập bộ chỉ huy quân tiếp phòng của mỗi bên. Bộ Chỉ huy quân
tiếp phòng Việt Nam do Thiếu tướng Lê Thiết Hùng-nguyên Khu trưởng Khu 4
làm Tư lệnh.
Ngày 22-3-1946
Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh (số 33/SL) đặt các cấp bậc, quân
phục, phù hiệu, cấp hiệu cho lục quân toàn quốc.
Ngày 6-5-1946
Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh (số 60/SL) đổi tên “Uỷ ban kháng
chiến toàn quốc” thành “Quân sự uỷ viên hội”. Sắc lệnh gồm bảy điều quy định
tên gọi, thành viên, chức năng, quyền hạn và các cơ quan Quân uỷ hội.
Điều 3 nêu rõ: “Quân sự uỷ viên hội là một cơ quan tối cao quân sự
đặt thẳng dưới quyền điều khiển của Chính phủ và có nhiệm vụ điều khiển quân
đội toàn quốc...”.
Điều 5 quy định Quân sự uỷ viên hội gồm các cơ quan:
1. Cục Tổng vụ có nhiệm vụ thu phát công văn, phụ trách về nhân sự,
quản lý ngân sách tài chính của Quân sự uỷ viên hội và liên lạc hành chính với
các cơ quan khác.
2. Cục Tham mưu có nhiệm vụ nghiên cứu và đề nghị kế hoạch điều
Cũng trong kỳ họp này, Quốc hội thông qua Hiến pháp nước Việt
Nam dân chủ cộng hoà. Điều thứ tư của chương II (nghĩa vụ và quyền lợi công
dân) quy định: “Mỗi công dân Việt Nam phải:
- Bảo vệ Tổ quốc
- Tôn trọng hiến pháp
- Tuân theo pháp luật
Ngày 18-11-1946
Bộ Quốc phòng quy định tiêu chuẩn ăn và sinh hoạt phí cho bộ đội.
Mỗi quân nhân được hưởng 180 đồng tiền ăn và 5 đồng phụ cấp tiêu vặt trong
một tháng.
Ngày 19-12-1946
Toàn quốc kháng chiến.
Sáng ngày 19, Ban Thường vụ Trung ương Đảng điện cho các mặt
trận và các chiến khu: “giặc Pháp đã hạ tối hậu thư ấy. Như vậy chỉ trong vòng
24 giờ là cùng, chắc chắn giặc Pháp sẽ nổ súng. Chỉ thị của Trung ương: tất cả
hãy sẵn sàng!”.
Buổi chiều, Tổng chỉ huy Võ Nguyên Giáp hạ mệnh lệnh cho lực
lượng vũ trang: “Giờ chiến đấu đã đến!”.
Đêm 19 rạng ngày 20, các lực lượng vũ trang, nhân dân Thủ đô Hà
Nội và các thành phố nổ súng chiến đấu. Toàn quốc bước vào cuộc kháng chiến
chống thực dân Pháp xâm lược.
Ngày 20-12, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi toàn quốc kháng chiến:
“Hỡi đồng bào toàn quốc!
Chúng ta muốn hoà bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta
càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta
lần nữa.
Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất
nước, nhất định không chịu làm nô lệ.
Bằng).
Chiến khu 2: Sơn Tây, Hà Đông, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, Hoà
Bình, Sơn La, Lai Châu. Lực lượng vũ trang có các trung đoàn 34: (Nam Định),
35 (Sơn Tây), 37 (Hà Đông), 39 (Sơn La).
Chiến khu 3: Hải Phòng, Kiến An, Thái Bình, Hưng Yên, Hải Dương
(trừ Đông Triều, Chí Linh). Lực lượng vũ trang có các trung đoàn: 41 (Thái
Bình, Kiến An), 44 (Hải Dương, Hưng Yên), 50 (Quảng Yên).
Chiến khu 4: Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị,
Thừa Thiên. Lực lượng vũ trang có các trung đoàn: 55 (Thanh Hoá), 59 (Nghệ
An), 63 (Hà Tĩnh), 57 (Quảng Trị), 71 (Thừa Thiên), hai tiểu đoàn 70 (Quảng
Bình) và 75 (Cửa Lò).
Chiến khu 5: Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Kon Tum, Gia
Lai. Lực lượng vũ trang có các trung đoàn: 67, 93, 94, 95, 96.
Chiến khu 6: Phú Yên, Khánh Hoà, Ninh Thuận, Bình Thuận, Đắc
Lắc, Lâm Viên, Đồng Nai Thượng. Lực lượng vũ trang có các trung đoàn: 79,
80, 81, 82.
Chiến khu 7: Bà Rịa, Biên Hoà, Thủ Dầu Một, Tây Ninh, Gia Định,
Chợ Lớn, Sài Gòn.
Chiến khu 8: Tân An, Gò Công, Mỹ Tho, Sa Đéc Vĩnh Long, Trà
Vinh, Bến Tre.
Chiến khu 9: Châu Đốc, Long Xuyên, Hà Tiên, Cần Thơ, Sóc Trăng,
Bạc Liêu, Rạch Giá.
Chiến khu 10: Lào Cai, Hà Giang, Yên Bái, Phú Thọ, Tuyên Quang,
Vĩnh Yên. Lực lượng vũ trang có các trung đoàn: 76 (Việt Trì-Phú Thọ), 81
(Vĩnh Yên), 86 (Hà Giang, Tuyên Quang), 91 (Lào Cai) và tiểu đoàn 420 (Phú
Thọ).
Chiến khu 11: Hà Nội. Lực lượng vũ trang có các tiểu đoàn: 145, 523,
77, 101, 212.
máy dệt... Trung đoàn 34 được Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng danh hiệu “trung
đoàn Tất Thắng”. Ngày 15-3-1947, trung đoàn rút ra chiến đấu ở vòng ngoài.
Tại Vinh, một đại đội của trung đoàn 57 (Chiến khu 4) cùng một đại
đội tự vệ thành bao vây, tiến công một trung đội Pháp tại Sở canh nông, ở đềpô
ga và sân bay Nghi Lộc.
Tại Huế, trung đoàn Trần Cao Vân (trung đoàn 101), một số đơn vị
tiếp phòng quân, tự vệ và nhân dân địa phương diệt gần 200 tên địch, duy trì
cuộc chiến đấu ở nội thành trong 50 ngày đêm.
Tại Đà Nẵng, cuộc chiến đấu diễn ra trong 90 ngày đêm. Trung đoàn
93, trung đoàn 96, các đơn vị tự vệ, công an, biệt động diệt hàng trăm tên địch.
Đồng chí Phạm Văn Đồng, đại diện Trung ương Đảng và Chính phủ tặng Trung
đoàn 96 lá cờ “Giữ Vững”.
Ngày 21-1-1947
- Thành lập tổ chức quân dân y ở các khu để phân phối, điều động cán
bộ, thuốc, dụng cụ y tế phục vụ quân đội.
- Chi đội 17 (Mỹ Tho), chi đội 18 (Sa Đéc) và một phân đội học viên
trường quân chính khu 8 phục kích đoàn xe quân sự địch trên đường số 16 (khu
vực xã An Thái Trung), làm thương vong 180 tên, phá huỷ 8 xe thiết giáp, 6 xe
vận tải quân sự, thu hơn 100 súng các loại.
Ngày 10-2-1947
Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh (số 20-SL) về “hưu bổng thương
tật” và “tiền tuất cho thương binh, liệt sĩ”.
Ngày 12-2-1947
Thành lập Phòng Dân quân thuộc Cục Chính trị (sắc lệnh Chính phủ
số 16/SL).
Trưởng phòng: Khuất Duy Tiến.
Ngày 19-2-1947, Bộ Quốc phòng ra thông tư về mọi công dân từ 1845 tuổi vào dân quân, quy định hệ thống tổ chức, nhiệm vụ các cơ quan dân
quân, tự vệ, du kích thuộc các khu, tỉnh, huyện, xã.
Hội nghị dân quân, du kích toàn quốc lần thứ nhất, thống nhấât việc tổ
chức dân quân tự vệ và du kích từ những tổ chức vũ trang quần chúng do Mặt
trận Việt Minh và các đoàn thể cứu quốc xây dựng trở thành một bộ phận trong
các lực lượng vũ trang Nhà nước, do các cơ quan quân sự địa phương chỉ huy.
Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho hội nghị: “Dân quân, tự vệ và du kích là lực
lượng của toàn dân tộc, là một lực lượng vô địch, là một bức tường sắt của Tổ
quốc. Vô luận kẻ địch hung bạo thế nào, hễ đụng vào lực lượng đó, bức tường
đó, thì kẻ địch nào cũng phải tan rã”.
Ngày 27-7-1947
Ngày toàn quốc chăm sóc thương binh và gia đình liệt sĩ.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đem chiếc áo lụa do Hội Phụ nữ cứu quốc biếu
Người và một tháng lương cùng tiêu chuẩn bữa ăn tặng thương binh.
Ngày 20-9
Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 88-SL thưởng những gia đình có
ba con trở lên tòng quân. Thưởng tiền (500 đồng) hoặc thưởng danh dự (tặng
một bằng danh dự, hoặc được biệt đãi ở địa phương trong các cuộc họp công
cộng).
Từ ngày 7-10 đến 9-12-1947
Chiến dịch phản công Việt Bắc.
Bộ Tổng chỉ huy sử dụng các trung đoàn 147, 165 (chủ lực Bộ), 72,
74, 121 (Khu 1), 11, 36, 98 (Khu 12), một tiểu đoàn pháo binh và trung đoàn
Sông Lô (Khu 10), năm tiểu đoàn độc lập của Bộ, Khu 1 và Khu 12, các đơn vị
binh chủng và du kích đánh bại cuộc tiến công lớn của quân Pháp lên căn cứ địa
Việt Bắc.
Ngày 8-10, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư kêu gọi cán bộ, chiễn sĩ ra
sức tiêu diệt địch. Ngày 15-10, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị:
“Phải phá tan cuộc tiến công mùa đông của giặc Pháp”.
Chiến dịch diễn ra thành hai đợt. Các đơn vị thực hiện phương châm
động chiến, tự mình phải tận lực nâng đỡ du kích quân và khi cần phải cho một
bộ phận của mình ra hoạt động du kích và đảm nhiệm việc phát động du kích”.
Ngày 22-12-1947
Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho cán bộ, chiến sĩ quân đội quốc gia:
... “Từ giải phóng quân đến Vệ quốc quân.
Đội thứ nhất của Giải phóng quân ngày trước là cái hạt giống bé nhỏ,
do đó mà nảy nở thành cái rừng to lớn là Vệ quốc quân ngày nay”.
“Ban đầu lương thực, khí giới, chăn áo, thuốc men, cái gì cũng thiếu
thốn. Bộ đội thường phải nhịn đói, nhưng vẫn hăng hái tươi cười”.
“Giải phóng quân đã làm tròn nhiệm vụ đoạn trước, là giúp sức hoàn
thành cuộc cách mạng tháng Tám, xây dựng nền Dân chủ cộng hoà, cũng làm
tròn nhiệm vụ đoạn sau, là để lại cho Vệ quốc quân một số cán bộ rất tốt và một
cái truyền thống oanh liệt vẻ vang”.
· Năm 1948
Ngày 20-1-1948
- Chính phủ ra sắc lệnh phong hàm cấp tướng cho một số cán bộ lãnh
đạo, chỉ huy quân đội.
Quân hàm Đại tướng: Võ Nguyên Giáp.
Quân hàm Trung tướng: Nguyễn Bình.
Quân hàm Thiếu tướng: Nguyễn Sơn, Lê Thiết Hùng, Chu Văn Tấn,
Hoàng Sâm, Hoàng Văn Thái, Lê Hiến Mai, Văn Tiến Dũng, Trần Đại Nghĩa,
Trần Tử Bình.
Bộ Tổng chỉ huy ra chỉ thị (số 114/BT) về xây dựng căn cứ địa Tây
Bắc, một nhiệm vụ quan trọng về chính trị và quân sự, nhằm “bảo toàn lãnh thổ,
giải phóng đồng bào, mở rộng căn cứ địa dự bị ở Bắc Bộ, phá tan âm mưu dùng
người Việt giết người Việt; khoét sâu nhược điểm thiếu nhân lực của địch, đặt
cơ sở cho công cuộc quốc phòng vững chắc về sau, mở một con đường quốc
tế...”. Chỉ thị đề ra phương châm công tác của lực lượng vũ trang tại Tây Bắc.
chủ tịch: Lê Văn Hiến (Bộ trưởng Bộ Tài chính); các uỷ viên: Phan Kế Toại
(quyền bộ trưởng Bộ Nội vụ), Phan Anh (Bộ trưởng Bộ Kinh tế), Đại tướng Võ
Nguyên Giáp (Bộ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Tổng chỉ huy quân đội quốc gia
và dân quân Việt Nam), Tạ Quang Bửu (Thứ trưởng Bộ Quốc phòng).
- Chính phủ ra quyết định về nhiệm vụ của Bộ Quốc phòng (tổ chức
và quản trị quân đội và các cơ quan quốc phòng, điều khiển các cơ sở sản xuất
quốc phòng), Tổng Tư lệnh (phụ trách chỉ huy quân đội và dân quân Việt Nam,
sử dụng các cơ quan giúp việc chỉ huy, quyết định việc điều động và sử dụng
các sản phẩm). Cơ quan Bộ Quốc phòng gồm văn phòng và các ngành sự vụ,
Nha Quân giới, Nha Quân dược, Bộ Tổng tham mưu, Cục Chính trị, Cục Dân
quân, Cục Quân huấn, Cục Quân pháp, Cục Tình báo, Cục Pháo binh, Cục
Quân giới, Cục Quân nhu, Cục Quân y, Cục Thông tin liên lạc, Cục Vận tải.
Ngày 24-9-1948
Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ thị tổ chức Ban Quân sự Nam Bộ. “Tên và
thành phần: để phù hợp với hệ thống chung, Ban Quân sự Nam Bộ gọi là Bộ Tư
lệnh Nam Bộ”. “Nhiệm vụ và quyền hạn trong Bộ Tư lệnh Nam Bộ.
1- Về bàn việc, theo nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách.
Nghĩa là kế hoạch chủ trương phải đưa ra thảo luận trong Ban Thường vụ hay
Bộ Tư lệnh tuỳ điều kiện.
2- Chính uỷ phải có quyền quyết định tối hậu. Nhưng trong lúc dùng
quyền ấy, cần trọng uy tín của Tư lệnh và Phó tư lệnh và không lấn át sáng kiến
chuyên môn”.
Ngày 27-10-1948
Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra nghị quyết “Lập chế độ chính uỷ
viên đại diện Đảng phụ trách trong quân đội”. Cấp Trung ương có Tổng chính
uỷ (Đại tướng Võ Nguyên Giáp- Bộ trưởng Quốc phòng). Cấp khu và cấp trung
đoàn có chính uỷ là các đồng chí uỷ viên khu uỷ và uỷ viên tỉnh uỷ do Trung
ương chỉ định. Cấp tiểu đoàn, đại đội có liên chi uỷ và chi uỷ.
- Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 259/SL quy định sinh hoạt phí,
phụ cấp hàng tháng và phụ cấp thâm niên của quân đội. Mỗi quân nhân, bất cứ ở
cấp nào, giữ chức vụ gì đều được hưởng sinh hoạt phí tối thiểu 6 đồng mỗi
ngày. Phụ cấp hàng tháng: binh nhì – 30 đồng, hạ sĩ – 50 đồng, trung sĩ – 60
đồng, thượng sĩ - 80 đồng, chuẩn uý – 100 đồng, thiếu uý – 120 đồng, trung uý
– 160 đồng, đại uý – 200 đồng, thiếu tá – 280 đồng, trung tá – 380 đồng, đại tá –
440 đồng, thiếu tướng – 600 đồng, trung tướng – 700 đồng, đại tướng – 800
đồng. Phụ cấp thâm niên; đủ ba tuổi quân được cấp 30 đồng một tháng. Cứ thêm
hai năm được thêm 30 đồng. Quân nhân làm chuyên môn (vô tuyến điện, giao
thông liên lạc, quân nhạc...) có thêm khoản phụ cấp kỹ thuật chuyên môn hoặc
tiền thù lao hàng tháng.
- Chính phủ ban hành “Quân dụng phiếu”, sử dụng thay một phần tiền
mặt trong việc trao đổi, phục vụ các nhu cầu cần thiết của quân đội.
· Năm 1949
Ngày 7-4-1949
Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Sắc lệnh thành lập bộ đội địa phương: “Quân
đội quốc gia Việt Nam gồm có hai phần: quân đội chính quy và quân đội địa
phương. Bộ đội địa phương có ba đặc điểm chính: có tính cách địa phương, có
nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ địa phương, tự trang bị và tự túc về cấp dưỡng”.
Thi hành sắc lệnh của Chủ tịch nước, Bộ trưởng Quốc phòng – Tổng
Tư lệnh ra Nghị định số 103/NĐ (7-7-1949) tổ chức bộ đội địa phương và
Thông tư số 46/TT (7-7-1949) quy định nhiệm vụ của cơ quan các cấp, các
ngành đối với việc xây dựng bộ đội địa phương.
Đến cuối năm 1949, ở Bắc Bộ có 20.500 bộ đội địa phương tổ chức
thành trung đội (huyện) và đại đội hoặc tiểu đoàn (tỉnh); ở Nam Trung Bộ và
Nam Bộ, các liên khu cũng xúc tiến kế hoạch xây dựng bộ đội địa phương.
Từ ngày 10-6 đến 5-7-1949
Chiến dịch “Thập Vạn Đại Sơn”. Thực hiện thoả thuận giữa Trung
3), 9 (Liên khu 4), hai trung đoàn địa phương 42, 48 (thuộc Liên khu 3), tiểu
đoàn độc lập 930 (Liên khu 10), một số đơn vị binh chủng và du kích tiến công
địch tại vùng Chợ Bờ (Hoà Bình) nhằm phá thế uy hiếp của địch, mở rộng
đường giao thông liên lạc giữa Việt Bắc với Liên khu 3, tiêu diệt một bộ phận
sinh lực địch.
Tư lệnh chiến dịch: Hoàng Sâm; Chính uỷ: Lê Quang Hòa; Phó tư
lệnh: Lê Trọng Tấn.
Các đơn vị loại khỏi vòng chiến đấu hơn 800 tên địch.
· Năm 1950
Ngày 6-1-1950
Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị về mở chiến dịch Tây Bắc
và chuẩn bị chiến trường Đông Bắc.
“1. Mở chiến dịch Tây Bắc để:
a) Phối hợp với Quân giải phóng Trung Hoa tiêu diệt tàn quân Quốc
dân đảng Tưởng Giới Thạch nếu chúng tràn qua biên giới.
b) Làm tan rã khối ngụy binh và ngụy quyền.
c) Tiêu diệt một số vị trí địch.
d) Khôi phục lại Lào Cai, mở thông đường quốc tế.
2. Chuẩn bị chiến trường Đông Bắc cho thật đầy đủ để khi có điều
kiện sẽ mở một chiến dịch lớn, quét địch ra khỏi đường số 4 và một số đoạn bờ
biển, đánh bại quân địch ở vùng Đông Bắc”. “Ở Tây Bắc phải tích cực chuẩn bị
cho đầy đủ và kịp thời, đặc biệt chú trọng đến việc tiếp tế cấp dưỡng cho quân
đội làm tan rã ngụy binh, phá tề trừ gian...”. “Ở Đông Bắc... việc chuẩn bị cần
chú trọng đến củng cố, phát triển cơ sở chính trị và vũ trang, gây cơ sở du kích
miền biển...; điều tra địch tình, phá hoại kinh tế địch, chuẩn bị lương thực tiếp
tế cho bộ đội đến đánh”.
Từ ngày 21-1 đến 2-2-1950
Hội nghị toàn quốc lần thứ ba của Đảng, đề ra “Nhiệm vụ quân sự cụ
ngày 2 đến 8-10, đại đoàn 308, trung đoàn 209 vận động tiến công tiêu diệt binh
đoàn Lơpagiơ từ Thất Khê lên và binh đoàn Sáctông từ Cao Bằng rút về, tại khu
vực Cốc Xá, điểm cao 477. Từ ngày 10 đến 23-10, quân địch bỏ Thất Khê, Na
Sầm, Đồng Đăng, Lạng Sơn, Đình Lập, An Châu tháo chạy.
Kết quả: loại khỏi vòng chiến đấu trên 8.000 tên, gồm 8 tiểu đoàn,
trong đó có 5 tiểu đoàn ứng chiến (hơn một nửa lực lượng cơ động chiến lược
của Pháp ở Bắc Đông Dương); phá vỡ hệ thống phòng ngự đường số 4 của địch;
giải phóng 5 thị xã, 13 thị trấn với 35 vạn dân, nhiều vùng quan trọng ở vùng
biên giới Việt – Trung, củng cố và mở rộng căn cứ địa Việt Bắc, nối liền nước
ta với các nước xã hội chủ nghĩa. Đây là chiến dịch tiến công quy mô lớn, tạo ra
bước ngoặt của cuộc kháng chiến chống Pháp, đánh dấu sự trưởng thành về tổ
chức, chỉ huy và trình độ tác chiến của quân đội ta.
· Năm 1951
Từ ngày 11 đến 19-2-1951
Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ II, họp tại căn cứ địa Việt
Bắc. Có 156 đại biểu chính thức và 53 đại biểu dự khuyết thay mặt 766.349
đảng viên dự Đại hội.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc báo cáo chính trị. Đồng chí Trường Chinh
trình bày luận cương “Hoàn thành giải phóng dân tộc, phát triển dân chủ nhân
dân tiến tới chủ nghĩa xã hội”. Đại hội quyết định đổi tên Đảng thành Đảng Lao
động Việt Nam; thông qua Tuyên ngôn, Chính cương và điều lệ Đảng, bầu Ban
chấp hành Trung ương mới do đồng chí Hồ Chí Minh làm Chủ tịch, đồng chí
Trường Chinh làm Tổng Bí thư.
Đại hội nhận định: “Từ thế giới đại chiến lần thứ hai, trên 10 năm qua
Đảng ta đã nắm phương châm vũ trang đấu tranh, đã xây dựng được một quân
đội lớn mạnh, từ du kích lẻ tẻ lúc đầu tiến đến cuộc kháng chiến trường kỳ, toàn
dân, toàn diện ngày nay. Trong cuộc võ trang đấu tranh đó, đặc biệt trong sáu
năm kháng chiến chống thực dân Pháp và bọn can thiệp Mỹ, dưới sự lãnh đạo
của Hồ Chủ tịch – Người sáng lập và giáo dục Quân đội nhân dân Việt Nam,
dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chính phủ, Quân đội nhân dân Việt Nam đã thu