CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
Viết đầy đủ
Viết tắt
Chất lượng chính trị
CLCT
Chủ nghĩa xã hội
CNXH
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
CNH,HĐH
Công tác đảng, công tác chính trị
CTĐ,CTCT
Cơ cấu xã hội
CCXH
Cơ cấu xã hội - giai cấp
MỞ ĐẦU
Diễn biến hoà bình
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tư bản chủ nghĩa
TBCN
Kết
hợp mạnh
nhuần to
nhuyễn
giữa việc tăng cường bản chất giai cấp công nhân,
tính nhân dân
Vững
àn diện
VMTD
nghĩa
XHCN
thựcXã
sựhội
và chủ
tính dân
tộc chân
chính, trên một cơ sở xã hội - giai cấp mang tính chất toàn
dân rộng rãi trong quá trình xây dựng quân đội XHCN về chính trị ở một nước tiểu nông,
là một vấn đề có tính quy luật, đã được Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh vận dụng một
cách sáng tạo.
Khác với trước đây, hiện nay CCXH - GC ở nước ta đang trong giai đoạn có những
biến động lớn, sâu sắc. Những biến động ấy đã và đang đặt ra cho quá trình xây dựng
quân đội về chính trị những vấn đề mới, thách thức mới.
Rõ ràng, những biến động CCXH- GC càng đi vào chiều sâu, thì càng chứa đựng nhiều
diễn biến phức tạp, khó lường và càng đòi hỏi phải có những dự báo khoa học để kịp thời
điều chỉnh. Bởi những biến động ấy, theo qui luật, sẽ ảnh hưởng ngày càng sâu sắc và
toàn diện đến xã hội nói chung, đến quân đội nói riêng.
Trong khi đó, cuộc đấu tranh giai cấp và dân tộc tiếp tục diễn ra gay go, quyết liệt và
Xô và Đông Âu vừa qua.
Ở nước ta, khoảng hơn chục năm trở lại đây, nhất là từ khi đổi mới, đã xuất hiện nhiều
công trình, đề tài, bài viết về các khía cạnh khác nhau của CCXH-GC, cũng như ảnh
hưởng của nó đến các khía cạnh khác nhau của thực tiễn. Chẳng hạn, đó là những cố
gắng tập hợp, sưu tầm những bài viết, thống kê, khảo sát về những khía cạnh khác nhau
của CCXH-GC ở nước ta dưới dạng một sưu tập chuyên đề [14]; là những thông báo có
tính chất gợi mở về một số vấn đề có tính quy luật trong sự phát triển CCXH-GC trong
thời kỳ quá độ ở nước ta [66]; lấy việc xem xét CCXH-GC với tính cách là một phạm trù
xã hội - chính trị để chỉ ra đặc điểm và xu hướng biến đổi của nó trong suốt thời kỳ quá
độ lên CNXH ở nước ta [74]. Trong số đó, còn có một số công trình hoa học tiêu biểu,
tập trung nghiên cứu một cách tương đối toàn diện những vấn đề chính trị - xã hội của
CCXH ở nước ta [61]; vừa trình bày khá rõ ràng những giai đoạn cụ thể, vừa tổng hợp rút
ra những nét đặc trưng của toàn bộ quá trình biến đổi của CCXH Việt Nam trong suốt
chiều dài lịch sử [13]…
Trong quân đội cũng có nhiều công trình, đề tài, bài viết có liên quan đến các khía cạnh
khác nhau của đề tài này. chẳng hạn, như việc bước đầu đưa ra và luận giải sơ bộ mối
quan hệ giữa những biến đổi về
cơ cấu thành phần kinh tế với CCXH-GC và xây
dựng quân đội về chính trị hiện nay [89]; nghiên cứu khái quát những biến đổi kinh tế xã hội ở nước ta hiện nay, chỉ ra cơ chế, thực trạng tác động của nó đến nhận thức
chính trị, tư tưởng của cán bộ quân đội nói riêng [70], đến xây dựng
trị nói chung [71]; tập trung làm rõ thực trạng và
ngũ sĩ quan trung, sơ cấp trong quân
quân đội về chính
xu hướng biến đổi CCXH của đội
đội ta hiện nay [25]…
Đề xuất một số định hướng và giải pháp cơ bản nhằm phát huy mặt tích cực, hạn
chế ảnh hưởng tiêu cực của những biến động CCXH-GC đến quá trình xây dựng quân đội
về chính trị trong giai đoạn hiện nay.
4.
Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp ghiên cứu
-
Cơ sở lý luận chủ yếu của luận án là hệ thống quan điểm của chủ nghĩa Mác-
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng ta về CCXH-GC, về quan hệ giữa cơ
sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, giữa kinh tế và chính trị; giữa kinh tế - chính trị và
chiến tranh - quân đội và xây dựng quân đội về chính trị. Luận án đặc biệt dựa vào quan
điểm, đường lối đổi mới của Đảng ta, nhất là trong tư duy mới về bảo vệ Tổ quốc, về xây
dựng quân đội đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Luận án cũng tham
khảo kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài quân đội, nhất là trong các
chương trình khoa học cấp nhà nước đã được nghiệm thu và đánh giá cao.
-
Cơ sở thực tiễn của luận án là tình hình thực tế của đời sống kinh tế - xã hội - văn
hoá của đất nước và quân đội trong thời kỳ đổi mới. Luận án quan tâm thích đáng đến các
báo cáo tổng kết, báo cáo chuyên đề, báo cáo kết quả thực hiện các mặt công tác của đơn
vị, đặc biệt là của Tổng cục Chính trị; tham khảo và sử dụng một số kết quả điều tra xã
hội của các đề tài khoa học và kết quả khảo nghiệm thực tế của bản thân về các vấn đề có
liên quan.
-
Luận án góp phần khẳng định tính đúng đắn, sáng tạo của Đảng ta trong sự nghiệp
đổi mới toàn diện đất nước, đổi mới CCXH-GC theo định hướng của XHCN. Luận án
cũng góp phần luận chứng khoa học cho quá trình xây dựng quân đội về chính trị trong
giai đoạn cách mạng mới.
-
Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc giảng dạy trong các nhà
trường, đơn vị trong Quân đội Nhân Dân Việt Nam.
7. Kết cấu của luận án
Luận án có: Mở đầu, 3 chương ( 7 tiết ), kết luận và danh mục tài liệu tham khảo.
Chương 1
NHỮNG BIẾN ĐỘNG CƠ CẤU XÃ HỘI – GIAI CẤP Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
Nghiên cứu ảnh hưởng của những biến động CCXH-GC đến xây dựng quân đội về
chính trị, trước hết phải nghiên cứu bản thân những biến động ấy. Vì vậy, ở chương này,
cùng với việc làm rõ khái niệm “Biến động CCXH-GC” và những đặc điểm của biến
động CCXH-GC ở nước ta trước năm 1986, chúng tôi sẽ cố gắng đưa ra một số dự báo
khoa học về những biến động của nó ở nước ta hiện nay và trong thập kỷ tới.
1.1.Biến động cơ cấu xã hội – giai cấp: Khái niệm và đặc điểm của biến động cơ
cấu xã hội – giai cấp ở nước ta trước năm 1986
1.1.1. Khái niệm “ Biến động CCXH-GC”
Một định nghĩa đầy đủ và khoa học về giai cấp, đã được Lênin trình bày trong tác phẩm
“Sáng kiến vĩ đại”. Theo đó, có thể thấy, các giai cấp bao giờ cũng gắn với và là sản
phẩm của một hệ thống sản xuất nhất định trong lịch sử. Sự khác nhau giữa các giai cấp
là ở địa vị của họ. Địa vị ấy được xác định trong hai địa hạt cơ bản, có quan hệ biện
chứng với nhau là: “Kinh tế” (mà cái quyết định nhất là sự khác nhau trong quan hệ của
họ đối với tư liệu sản xuất chủ yếu, chia họ thành những kẻ bóc lột và bị bóc lột về lao
bền vững của các thành tố, các mối liên hệ cơ bản theo những nguyên tắc nhất định, tạo
nên những dấu hiệu đặc trưng mà qua đó có thể chia xã hội thành những tập đoàn và
những cộng đồng người khác nhau. Tổng hợp tất cả cộng đồng ấy, cùng những mối quan
hệ lẫn nhau giữa chúng, tạo thành bộ “ khung”, bộ “dàn” cho toàn bộ cái xã hội phức tạp
ấy, đó chính là cái mà người ta gọi là CCXH.
Như vậy, mỗi CCXH đều có thể hiểu theo hai cách: một mặt, đó là sự phân chia xã hội
theo những dấu hiệu nhất định thành những cộng đồng người khác nhau; mặt khác, đó là
sự tổng hợp tất cả những cộng đồng đó cùng những mối quan hệ lẫn nhau giữa chúng tạo
thành một CCXH thống nhất.
-
Theo hướng thứ nhất ( phân chia), chúng ta sẽ có những loại hình cơ bản của
CCXH. Trong đó, cũng như các loại hình cơ bản khác được phân chia theo dân tộc, lãnh
thổ, tôn giáo…, CCXH-GC là một loại hình cơ bản được phân chia theo giai cấp.
Sở dĩ coi đây là những loại hình cơ bản vì nó được phân chia theo những dấu
hiệu, phản ánh những phương diện cơ bản của đời sống xã hội. Ở một chừng mực nhất
định, có thể coi mỗi loại hình này như một dạng thức hay một nghĩa hẹp của CCXH nói
chung. Và trên thực tế, mỗi loại hình đều có một vị trí nhất định, không thể thay thế,
đồng thời giữa chúng luôn có sự tác động, ảnh hưởng lẫn nhau trong một CCXH thống
nhất.
-
Theo hướng thứ hai ( tổng hợp), chúng ta sẽ có một CCXH thống nhất, với
CCXH-GC là hạt nhân, là yếu tố giữ vai trò quyết định đối với các yếu tố còn lại, và do
đó đối với CCXH nói chung. Điều đó được quy định bởi mấy lý do sau đây: Một là, xét
theo vai trò của các sự kiện lịch sử, thì sự phân chia xã hội thành giai cấp là sự phân chia
động, định hình của mọi CCXH-GC, nhất là trong thời kỳ đầu của thời kỳ quá độ.
Đặc biệt, trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở một nước có điểm xuất phát thấp như
ở nước ta, những thay đổi như trên càng thể hiện rõ nét.
Ở đây, do xã hội cùng một
lúc chịu sự tác động khách quan của cả hai hệ
thống qui luật trái chiều - hệ thống qui luật của xã hội còn phải nhận sự phân chia và
bóc lột giai cấp ( tất nhiên, trong một giới hạn và phạm vi nhất định) như một thực tế
không thể tránh khỏi, và hệ thống qui luật xã hội có lý tưởng thủ tiêu mọi sự phân chia và
bóc lột ấy – nên, các giai tầng luôn được đặt trước nhiều khả năng vận động, phát triển
khác nhau. Cơ cấu giai tầng xã hội ( kể cả cơ cấu thành phần các giai tầng, cơ cấu nội bộ
từng giai tầng và tương quan so sánh giữa các giai tầng trong xa hội), do đó, luôn có
những thay dổi bất thường. Tình hình này được biểu hiện trên thực tế bởi thực trạng đan
xen, căng kéo và chuyển hoá lẫn nhau hết sức nhanh chóng và phức tạp giữa những giai
tầng cơ bản và không cơ bản, giữa những giai tầng là sản phẩm của phương thức sản xuất
đương đại với những giai tầng là tàn dư của phương thức sản xuất trước và mầm mống
của phương thức sản xuất sau.
Những thay đổi lớn, mang tính đột biến về cơ cấu giai tầng xã hội còn trở nên
đặc biệt rõ nét, nếu như trong quá trình vận động, xã hội chịu sự tác động nhiều bởi các
yêú tố ngoại sinh, nhất là khi phải chịu sự chi phối nghiệt ngã bởi các qui luật chiến
tranh. Đây chính là một trong những đặc điểm của biến động CCXH-GC ở nước ta trước
năm 1986 mà chúng tôi đề cập đến ở phần sau. Dưới đây, chúng tôi tiếp tục luận giải
những vấn đề xung quanh khái niệm biến động CCXH-GC.
Có một thực tế là, việc đề cập đến những thay đổi lớn, đột biến về cơ cấu giai tầng của
một xã hội cũng đồng thời (và tất yếu) phải đề cập đến tính chất thiếu ổn định của hệ
thống các mối quan hệ qua lại giữa các giai tầng của xã hội ấy. Đây cũng là khía cạnh
cơ bản của khái niệm biến động CCXH-GC. Sở dĩ có tình hình trên là vì, trong một
hình thức phản ánh những biến đổi của hệ thống các mối quan hệ qua lại giữa các giai
tầng xã hội. Vì thế, phân tích đúng đắn những biến động của hệ thống các mối quan hệ
qua lại giữa các giai tầng, từ đó tuân thủ một cách sáng tạo những qui luật nội tại trong
quá trình phát triển của CCXH-GC là một trong những vấn đề có tính nguyên tắc bảo
đảm tiến trình lịch sử - tự nhiên của quá trình ấy.
Thực tiễn cách mạng nước ta mấy chục năm qua đã chứng minh rằng, thành công
hay thất bại trong quá trình cách mạng, quyết định là do biết phân tích đúng hay sai tính
chất của hệ thống các mối quan hệ giữa các giai tầng ở mỗi thời điểm lịch sử cụ thể, do
đó có nhận thức được hay không việc xem ai đã, đang và sẽ là nền tảng của xã hội –
chính trị, ai là người lãnh đạo và liên minh với ai, cô lập, đánh đổ hoặc xoá bỏ ai. Chính
vì vậy, Đảng ta đã khẳng định: “ Giai cấp công nhân Việt Nam có mối quan hệ chặt chẽ,
máu thịt với giai cấp nông dân. Khối liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông
dân và tầng lớp trí thức là nền tảng của đại đoàn kết các dân tộc, là một vấn đề chiến
lược, là nguyên tắc sống còn của Đảng, là một trong những yếu tố có ý nghĩa quyết định
bảo đảm cho sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam được củng cố, giữ vững
và tăng cường. Đây là một kinh nghiệm, là truyền thống cơ bản, quí báu của đảng Cộng
sản Việt nam, là nguồn sức mạnh vô tận bảo đảm cho thắng lợi của cách mạng nước ta”
[64,5].
* Nội dung thứ ba: CCXH-GC là sự biểu hiện tập trung tính chất, trình độ
phát triển của các quan hệ kinh tế xã hội.
Trên đây chúng tôi đã luận giải rằng, với tư cách là một hiện tượng tương đối độc
lập, CCXH-GC trên thực tế đã vận động theo một hệ thống qui luật nội tại của riêng nó.
Song, trong tính hiện thực của nó, CCXH-GC còn là và chủ yếu là một hiện
tượng xã hội-chính trị. Mà bất cứ hiện tượng xã hội-chính trị nào cũng đều bằng cách này
hay cách khác, ở mức độ này hay mức độ khác, liên quan đến các quan hệ kinh tế-xã hội.
Theo đó, có thể nhận thấy, xã hội xét về bản chất là tổng hoà các quan hệ giữa người và
trong các quan hệ kinh tế xã hội. Thực tế cho thấy, những biến động CCXH-GC không
phải chỉ chịu sự tác động một cách thụ động, một chiều bởi những biến đổi trong quan hệ
kinh tế-xã hội, mà trái lại, luôn tác động đến những quan hệ ấy theo những chiều hướng
và mức độ khác nhau.
Nhận thức sâu sắc những vấn đề trên sẽ giúp ta tránh được quyết định luận máy
móc trong việc hoạch định chính sách xã hội.
Từ những phân tích trên đây, chúng tôi quan niệm: Biến động CCXH-GC là
khái niệm dùng để chỉ tính chất của những thay đổi đang diễn ra trong “hạt
nhân”của hệ thống cấu trúc xã hội; cụ thể là chỉ những thay đổi lớn, mang tính đột
biến, thiếu ổn định của cơ cấu giai tầng xã hội, cùng hệ thống các mối quan hệ qua lại
tất yếu giữa chúng trong quá trình vận động, phát triển ở mỗi giai đoạn lịch sử nhất
định - Kết quả tác động tổng hợp của một hệ thống các nhân tố có tính khách quan,
trên cơ sở tính tất yếu và vai trò quyết định suy đến cùng của nhân tố kinh tế.
Ở phương diện chung nhất, hai khái niệm “Biến đổi” và “Biến động” đều đề cập
đến những thay đổi của sự vật hiện tượng, vì thế, trong nhiều trường hợp chúng có thể
được dùng để thay thế cho nhau. Nhưng, nếu như khái niệm BIẾN ĐỔI (Change) đề cập
đến mọi sự thay đổi khác trước nói chung thì khái niệm BIẾN ĐỘNG (Vary) lại chỉ đề
cập đến những thay đổi lớn, mang tính đột biến và thiếu ổn định của CCXH-GC. Nói
cách khác, biến động CCXH-GC chỉ xảy ra ( xuất hiện) khi những biến đổi của nó đạt
đến một qui mô và tính chất nhất định. Phân biệt sự khác nhau giữa hai khái niệm này,
trên thực tế, đã trở thành một căn cứ chủ yếu để chúng tôi xác định phạm vi nghiên cứu
và trục cơ bản của đề tài.
Biến động CCXH-GC thực chất là biến động của những tập đoàn người to lớn vốn
luôn được gắn kết với nhau bởi một hệ thống các mối quan hệ qua lại hết sức phức tạp.
Qui mô và tính chất của những thay đổi đang diễn ra, do đó, phải đủ lớn và sâu sắc đến
mức tạo ra được những xu hướng vận động khác nhau bên trong CCXH-GC mới thực sự
được gọi là những biến động. Vì thế, nhận thức về những biến động CCXH-GC, trước
hết và cốt yếu là phải chỉ ra được những xu hướng vận động khác nhau của nó. Thời gian
và bảo vệ những giá trị văn hoá dân tộc để quá trình hội nhập không bị hoà tan trở nên
cực kỳ cần thiết. Hơn nữa, như lời phát biểu của thủ tướng Phan Văn Khải tại lễ khai mạc
hội nghị quốc tế về “ Việt Nam học” vừa qua, thì càng hiểu sâu về dân tộc mình, càng có
khả năng để phát triển đất nước mình [31]. Sau đó là xuất phát từ một sự thật: những
thành công lâu nay, cũng như những thất bại, khủng hoảng gần đây của các nước được
coi là những con rồng châu Á, theo ý kiến của nhiều nhà nghiên cứu, là có liên quan trực
tiếp đến thái độ đối với những giá trị phương Đông. Chẳng hạn, mới đây khi trả lời câu
hỏi của các nhà nghiên cứu phương tây “ liệu phương Đông có thể đưa ra một cách nhìn
khác về những giá trị cần thiết cho một thế giới tốt đẹp hơn không?”, ông Tommy Roh,
Giám đốc viện nghiên cứu chính sách Singapo, Đại sứ lưu động và nguyên Đại sứ
Singapo tại Hoa kỳ, đã đưa ra 10 giá trị làm nền tảng cho sức mạnh và thành công của
các nước Đông Á [22,44]. Cuối cùng, cố nhiên là xuất phát từ thực tế quá trình phát
triển của CCXH-GC ở nước ta - một thực tế mà chúng ta khó lý giải một cách thoả đáng
mọi vấn đề nếu không tính đến ảnh hưởng nhiều mặt của một biểu hiện đặc thù của hình
thái kinh tế - xã hội ở phương Đông - tức phương thức sản xuất châu Á.
Như chúng ta đã biết, thuật ngữ phương thức sản xuất châu Á, trước đây được MácĂng ghen dùng để chỉ thời đại đầu tiên, sơ khai, phổ biến của hình thái kinh tế- xã hội
[49,16] nhưng sau đó được các nhà nghiên cứu lịch sử chủ yếu dùng để chỉ tính đặc thù
phương Đông trong sự khác biệt với phương Tây của các hình thái kinh tế - xã hội.
Theo Mác, từ xa xưa ở phương Đông, nông nghiệp đã là ngành sản xuất chính. Với sản
xuất nông nghiệp thì đất đai và thuỷ lợi là hai yếu tố có ý nghĩa quyết định. Do trình độ
văn minh còn thấp kém, đất đai lại rộng lớn, nên để bảo đảm thuỷ lợi, người ta không tự
mình làm được mà cần phải sử dụng sức mạnh của cả cộng đồng, thông qua bàn tay điều
phối của nhà nước. Khác với phương Tây, ở phương Đông, ngay từ đầu và suốt chiều dài
lịch sử, nhà nước đã được giao phó một chức năng kinh tế nặng nề, có ý nghĩa quyết định
đến độ phì nhiêu của đất đai - bảo đảm thuỷ lợi. Chính vì vậy, ở phương Đông trước kia,
sở hữu chung về đất đai là một tất yếu lịch sử. Đặc điểm cơ bản của phương thức sản
tính cách mạng lại là một đặc trưng phổ biến.
Chế độ công xã nông thôn của phương thức sản xuất châu Á tồn tại lâu dài trong xã hội
Việt Nam cổ truyền theo mô hình làng xã. Ông cha ta đã dựa vào làng xã để sống, sản
xuất và đánh giặc. Cùng với lịch sử, một văn hoá làng Việt Nam đã thực sự hình thành
và in dấu ấn đậm nét lên quá trình phân hoá, biến đổi của CCXH Việt Nam trong suốt
chiều dài lịch sử.
Rõ ràng một cấu trúc xã hội đặc thù, trong đó nông nghiệp luôn gắn chặt với thủ công
nghiệp, làng gắn liền với ruộng đất và nhà - làng - nước luôn hoà quện với nhau trong
một thể hữu cơ, đã tạo nên tính siêu ổn định của xã hội Việt Nam trong lịch sử. Thêm vào
đó, sự nổi trội của nhiệm vụ chống ngoại xâm, chống thiên tai, của truyền thống yêu
nước, thương nòi, của nhu cầu tập hợp, qui tụ theo cộng đồng làng xã…đã làm cho
những biến động CCXH Việt Nam nói chung, biến động CCXH-GC Việt Nam nói riêng,
từ trong chiều sâu của lịch sử, nếu có, cũng thường bị chi phối, bị “điều tiết lại” một
cách mạnh mẽ bởi các quan hệ “ ngoài giai cấp”.
Có một thực tế là, ở nước ta, tuy trong xã hội vẫn luôn xảy ra tình trạng phân hoá giàu
nghèo, phân chia đẳng cấp hay giai cấp, nhưng thường là không rõ ràng, thiếu triệt để.
Quan hệ giữa các giai tầng ở Việt Nam luôn vừa chứa đựng những mâu thuẫn, vừa có
những tương đồng; tính chất đối kháng thường ít gay gắt, ít quyết liệt như ở nhiều nước
khác. Mâu thuẫn giai cấp, mâu thuẫn xã hội, do đó, ít khi đạt đến đỉnh điểm. Tình hình
ấy, trong một chừng mực nhất định, đã góp phần tạo ra một cách tự nhiên những nhân tố
bảo đảm sự ổn định chính trị - xã hội ở nước ta suốt chiều dài lịch sử. Và cũng trên một ý
nghĩa nào đấy, có thể và cần phải coi đặc điểm trên đây như là một trong những căn cứ để
hoạch định chính sách xã hội hiện nay. Chính vì thế, trong một báo cáo mới đây, Bộ lao
động thương binh và Xã hội đã đưa ra một dự án: Trong tổng số 12 nghìn tỷ đồng Việt
nam sẽ huy động vào vốn xoá đói giảm nghèo từ nay đến năm 2000, thì dựa vào ngân
sách nhà nước 4000 tỷ (38.1%), quĩ trong dân 1600 tỷ (14%), phối hợp với các chương
trình 1000 tỷ (8.9%) ngân hàng phục vụ người nghèo 3000 tỷ (26.5%) trong khi đó chỉ có
1300 tỷ ( 11.5%) là dựa vào vốn hợp tác quốc tế [98,35].
Chính phủ vừa mới ban hành đối với việc khôi phục quĩ đạo biến thái tự nhiên của
CCXH-GC ở nước ta theo định hướng XHCN.
Có thể nói, quá trình phát triển của xã hội Việt Nam trong lịch sử là quá trình phát triển
trên cái trục cơ bản của kinh tế tiểu nông và mô hình làng xã. Đó chính là một trong
những ngọn nguồn của những dấu ấn phương Đông mà chúng ta phải tính đến (theo cả
hai nghĩa tích cực và hạn chế của nó) trong quá trình đổi mới CCXH-GC hiện nay.
Đặc điểm thứ hai: Những biến động luôn bị chi phối bởi các qui luật chiến tranh.
Từ nửa cuối thế kỷ XIX cho đến những năm 80 của thập kỷ XX, Đông Nam Á là khu
vực luôn có những biến động lớn, sâu sắc. Các nước trong khu vực, vốn đều từ một xã
hội phong kiến đang khủng hoảng sâu sắc và sớm trở thành thuộc địa của chủ nghĩa thực
dân, bằng những con đường riêng của mình, qua hơn một thế kỷ đấu tranh và lao động
quên mình, đã góp sức biến Đông Nam Á thành một khu vực phát triển năng động của
thế giới.
Song, cái giá mà nhân dân các nước trong khu vực phải trả (nhất là trong các cuộc
chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc) để có được thành quả ấy là rất lớn. Và, chính
sự tác động, xô đẩy, níu kéo thường xuyên của các cuộc chiến tranh trong thời kỳ này đã
làm cho quá trình vận động của xã hội Việt Nam luôn diễn ra một cách không bình
thường. luôn bị chi phối bởi các qui luật chiến tranh, do đó, là một đặc điểm nổi bật của
biến động CCXH-GC trong quá trình phát triển của lịch sử Việt Nam hiện đại.
Bằng cuộc xâm lược của mình, thực dân Pháp đã gây ra những đảo lộn to lớn trong
đời sống kinh tế-chính trị - xã hội ở Việt Nam. Nhưng, nếu như giai cấp tư sản Anh đã
làm nên một cuộc cách mạng thực sự ở Ấn Độ, thì giai cấp tư sản Pháp lại góp phần chủ
yếu biến Việt Nam thành xã hội thực dân nửa phong kiến, mà tính chất cơ bản của nó là
cải lương, hỗn tạp và trì trệ. Đó chính là kết quả tất yếu của sự kết hợp làm một cái bản
chất ăn bám, cho vay nặng lãi của giai cấp tư sản Pháp với những đặc điểm phản phát
triển của kết cấu làng xã cổ truyền Việt Nam.
Bản chất ăn bám và cho vay nặng lãi của giai cấp tư sản Pháp có căn nguyên lịch
sử của nó. Nhưng, điều quan trọng hơn cả là đứng trước một nền chính trị hết sức không
- Xâm lược miền Nam, đế quốc Mỹ muốn tiêu diệt phong trào cách mạng giải phóng
do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, biến nơi đây thành một căn cứ quân sự hòng ngăn
chặn ảnh hưởng của CNXH ở khu vực Đông Nam Á. Theo đó, cùng lúc, chúng vừa tiến
hành cuộc chiến tranh tàn bạo nhất, vừa đổ tiền của để xây dựng một chế độ thuộc địa
kiểu mới điển hình làm dinh luỹ chống cộng sản.
Ở thành thị khác thời thuộc Pháp, cùng với sự phát triển nhanh chóng của các yếu tố
TBCN trong các ngành kinh tế, một CCXH-GC theo khuynh hướng TBCH với thành
phần bao gồm các giai cấp: tư sản, tiểu tư sản, công nhân và nhân dân lao động đã nhanh
chóng được xác lập [81,48]. Đáng lưu ý là giai cấp tư sản ở đây đã phát triển nhanh
chóng cả về số lượng, thế lực, kinh tế, chính trị. Tính đến năm 1975, ở miền Nam đã có
tới 20 ngàn nhà tư sản, với 12 ngàn xí nghiệp, trong đó có 11 xí nghiệp có từ 1 ngàn công
nhân trở lên. Đặc biệt, tầng lớp tư sản quan liêu, quân phiệt ( bao gồm các quan chức
chính quyền và tướng lĩnh, sĩ quan quân đội) ngày càng đông, thế lực ngày càng lớn.
Theo thống kê, có 18/25 quan chức cao cấp và hơn một trăm trong số 228 nghị sĩ quốc
hội của chính quyền Nguyễn văn Thiệu là tư sản mại bản [13,175-181]. Phương thức làm
giàu chủ yếu của giai cấp tư sản miền Nam cũng là từ chiến tranh, thông qua buôn lậu,
gian lận thương mại, tham nhũng và nhập khẩu hàng hoá Mỹ. Chính vì vậy, khi Mỹ thay
đổi chính sách viện trợ, đặc biệt là khi chiến tranh kết thúc, như thực tế cho thấy, giai cấp
tư sản ở miền Nam đã tan rã một cách nhanh chóng, ngay cả trước khi chúng ta tiến
hành cải tạo tư bản công thương.