MỞ ĐẦU
Cải cách hành chính nhà nước là một quá trình liên tục theo định hướng
nhằm làm cho hoạt động thực thì quyền hành pháp có hiệu lực, hiệu quả và thích
ứng với sự vận động và phát triển kinh tế - xã hội. Một trong những nội dung
quan trọng của cải cách hành chính là cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà
nước nhằm phục vụ xã hội ngày một tốt hơn.Tổ chức bộ máy hành chính nhà
nước là một trong bốn nội dung cơ bản cấu thành hệ thống hành chính nhà
nước. Hiệu quả, hiệu lực hoạt động quản lý hành chính phụ thuộc vào cách thức
tổ chức và hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước.Vì thế, cải cách bộ
máy hành chính nhà nước là nội dung trọng tâm trong các hội thảo khoa học
cũng như trong các hội nghị của Đảng và Chính phủ.
I) KHÁI QUÁT VỀ CẢI CÁCH TỔ CHỨC BỘ MÁY HÀNH
CHÍNH NHÀ NƯỚC
1.Lý do phải cải cách
- Cải cách xuất phát từ yêu cầu của sự nghiệp đổi mới.
- Cải cách xuất phát từ yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân
và vì dân.
- Cải cách xuất phát từ yêu cầu khắc phục những yếu kém, khuyết điểm
trong tổ chức và hoạt động của nền hành chính.
- Cải cách nhà nước xuất phát từ yêu cầu hội nhập, mở rộng mối quan hệ hợp
tác quốc tế.
Sự cần thiết phải cải cách hành chính nhà nước.
Hoạt động cải cách hành chính nhà nước được đặt trong môi trường các yếu
tố tác động từ bên ngoài hệ thống cơ quan hành chính nhà nước. Trong điều kiện
cụ thể, các yếu tố đó luôn thay đổi. Hoạt động hành chính nhà nước là là sự tác
động của các cơ quan quản lý nhà nước đến các đối tượng quản lý. Lý thuyết
quản lý đã chỉ ra rằng: Tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể mà các cơ quan quản lý
TỔ CHỨC BỘ MÁY HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
Page 1
trong giai đoạn mới, giai đoạn củng cố và hoàn thành nền dân chủ xã hội chủ
nghĩa.
Thứ ba: Cơ cấu tổ chức bộ máy hành chính bộc lộ nhiều nhược điểm, tổ
chức bộ máy cồng kềnh, nhiều tầng nấc trung gian, nhiều đầu mối rườm rà, vừa
tập trung quan liêu vừa phân tán, không quán triệt nguyên tắc tập trung dân
chủ.Bộ máy nặng nề, vận hành trục trặc.
Thứ tư: Cán bộ, công chức làm việc tại bộ máy còn thiếu nhiều kinh
nghiệm quản lý lịa có bệnh quan liêu, tham nhũng.
Thứ năm: Nền hành chính trực tiếp tổ chức thực hiện đường lối chủ
trương, chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước.Các chính sách pháp
luật đúng là điều kiện tiên quyết, song nhất thiết phải có nề hành chính đủ mạnh
để đưa chúng vào cuộc sống và phát huy hiệu quả trong thực tế. Hơn nữa trong
quá trình tổ chức thực hiện, nền hành chính cũng góp phần vào việc sửa đổi, bổ
sung và phát triển chính sách cũng như pháp luật của nhà nước.
Thứ sáu: Các cơ quan hành chính nhà nước với tư cách là những chủ thể
trực tiếp tổ chức và quản lý , xử lý công việc hàng ngày của nhà nước liên quan
tới quyền và lợi ích của nhân dan, là cầu nối trực tiếp giữa Đảng và nhà nước và
công dân.Nhân dan đánh giá chế độ, nhà nước một phần lớn thông qua hoạt
động của bộ máy hành chính.
Thứ bảy: Trong bộ máy nhà nước cơ quan hành chính là lực lượng đông
đảo nhất với hệ thống tổ chức theo ngành từ Trung ương đến địa phương.
2.Mục tiêu
- Đẩy mạnh cải cách hành chính nhằm tiếp tục xây dựng và hoàn thiện
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; xây dựng một nền hành chính dân chủ,
trong sạch, vững mạnh, từng bước hiện đại; đội ngũ cán bộ, công chức có đủ
phẩm chất và năng lực; hệ thống các cơ quan nhà nước hoạt động có hiệu lực,
hiệu quả, phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và
hội nhập kinh tế quốc tế; đáp ứng tốt yêu cầu phát triển nhanh và bền vững của
TỔ CHỨC BỘ MÁY HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
nhà nước
a. Quan niệm về cải cách hành chính
Cải cách hành chính là một khái niệm đã được nhiều học giả, các nhà
nghiên cứu hành chính trên thế giới đưa ra, dựa trên các điều kiện về chế độ
chính trị, kinh tế – xã hội của mỗi quốc gia, cũng như phụ thuộc vào quan điểm
và mục tiêu nghiên cứu, do đó hầu hết các định nghĩa này là khác nhau. Tuy
nhiên, qua xem xét, phân tích dưới nhiều góc độ định nghĩa của khái niệm, có
thể thấy các khái niệm về cải cách hành chính được nêu ra có một số điểm thống
nhất sau:
- Cải cách hành chính là một sự thay đổi có kế hoạch, theo một mục tiêu nhất
định, được xác định bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
- Cải cách hành chính không làm thay đổi bản chất của hệ thống hành chính,
mà chỉ làm cho hệ thống này trở nên hiệu quả hơn, phục vụ nhân dân được tốt
hơn so với trước, chất lượng các thể chế quản lý nhà nước đồng bộ, khả thi, đi
vào cuộc sống hơn, cơ chế hoạt động, chức năng, nhiệm vụ của bộ máy, chất
lượng đội ngũ cán bộ, công chức làm việc trong các cơ quan nhà nước sau khi
tiến hành cải cách hành chính đạt hiệu quả, hiệu lực hơn, đáp ứng yêu cầu quản
lý kinh tế – xã hội của một quốc gia;
- Cải cách hành chính tuỳ theo điều kiện của từng thời kỳ, giai đoạn của lịch sử,
yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của mỗi quốc gia, có thể được đặt ra những
trọng tâm, trọng điểm khác nhau, hướng tới hoàn thiện một hoặc một số nội
dung của nền hành chính, đó là tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ, công chức, thể
chế pháp lý, hoặc tài chính công v.v...
Ở Việt Nam hiện nay, chưa có văn bản quy phạm pháp luật nào chính thức
định nghĩa khái niệm cải cách hành chính là gì. Tuy nhiên, nhiều văn bản quan
trọng của Đảng đã đề cập đến thuật ngữ này, như Nghị quyết Đại hội VII, Nghị
quyết TW 8 - khoá VII, Nghị quyết Đại hội VIII v.v... đã nêu ra các mục tiêu,
TỔ CHỨC BỘ MÁY HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
Page 5
sáng tạo của chính quyền địa phương trên cơ sở phân định rõ nhiệm vụ, quyền
hạn, trách nhiệm của mỗi cấp trong bộ máy chính quyền, đồng thời xây dựng
hành lang pháp lí bảo đảm sự thống nhất quản lí của nhà nước Trung ương.
- Cải cách tổ chức bộ máy chính quyền địa phương .
- Cải tiến phương thức quản lý, lề lối làm việc của cơ quan hành chính các cấp.
- Khẩn trương xây dựng và đưa vào thực hiện quy hoạch tổng thể đơn vị hành
chính các cấp, trên cơ sở đó ổn định cơ bản các đơn vị hành chính ở cả 3 cấp
tỉnh, huyện, xã. Kiện toàn thống nhất hệ thống cơ quan chuyên môn của các cấp
chính quyền.
- Tính thống nhất và thông suốt của hệ thống hành chính nhà nước được bảo
đảm trên cơ sở xác định rõ vị trí, trách nhiệm của chính quyền địa phương trong
hệ thống cơ quan nhà nước. Chính quyền địa phương được xây dựng, tổ chức và
hoạt động theo nguyên tắc nhà nước đơn nhất, quyền lực của Nhà nước là thống
nhất. Theo đó, cần điều chỉnh, bổ sung các quy định để thực hiện nhất quán chủ
trương này, đồng thời có cơ chế bảo đảm nguyên tắc xây dựng chính quyền của
dân, do dân và vì dân, tăng cường công tác giám sát của cấp uỷ, Mặt trận Tổ
quốc và các đoàn thể đối với hoạt động của chính quyền địa phương.
- Tổ chức hợp lí chính quyền địa phương, phân biệt rõ những khác biệt giữa
chính quyền nông thôn và chính quyền đô thị :
+ Đối với chính quyền nông thôn : Không tổ chức Hội đồng nhân dân ở huyện;
ở huyện có uỷ ban nhân dân với tính chất là đại diện của cơ quan hành chính cấp
tỉnh để giải quyết các nhiệm vụ về hành chính và các công việc liên quan đến
quyền lợi và nghĩa vụ của người dân theo quy định của pháp luật. Ủy ban nhân
TỔ CHỨC BỘ MÁY HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
Page 7
dân huyện tập trung chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra cấp dưới thực hiện chủ trương,
ban nhân dân cấp trên bổ nhiệm, miễn nhiệm trên cơ sở xem xét nhân sự do cấp
uỷ huyện, quận, phường giới thiệu và được cấp có thẩm quyền quản lí cán bộ
đồng ý.
Khi thực hiện không tổ chức Hội đồng nhân dân ở huyện, quận, phường,
cần tăng cường hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về số
lượng, chất lượng đại biểu, về cơ sở vật chất, điều kiện làm việc.
Thực hiện thí điểm việc không tổ chức hội đồng nhân dân huyện, quận,
phường. Qua thí điểm sẽ tổng kết, đánh giá và xem xét để có chủ trương sửa đổi,
bổ sung Hiến pháp về tổ chức chính quyền địa phương cho phù hợp.
b) Về thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ và chế độ thủ trưởng trong các cơ
quan hành chính :
Chủ tịch uỷ ban nhân dân là người đứng đầu cơ quan hành chính, chịu trách
nhiệm trước hội đồng nhân dân cùng cấp và cơ quan hành chính cấp trên. Quy
định rõ trong luật về thẩm quyền, trách nhiệm của chủ tịch uỷ ban nhân dân và
tập thể uỷ ban nhân dân theo hướng phân định rõ những loại việc bắt buộc phải
thảo luận và biểu quyết của uỷ ban nhân dân, những loại việc thuộc thẩm quyền
quyết định của chủ tịch uỷ ban nhân dân.
Người đứng đầu cơ quan hành chính có trách nhiệm đề xuất, giới thiệu nhân sự
cấp phó và các thành viên của cơ quan hành chính để cấp uỷ có thẩm quyền xem
xét, quyết định, sau đó giới thiệu cho cơ quan dân cử để bầu hoặc bổ nhiệm và
TỔ CHỨC BỘ MÁY HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
Page 9
chịu trách nhiệm về việc đề xuất, giới thiệu của mình.
Chủ tịch uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, chủ tịch uỷ
ban nhân dân thị xã, thành phố thuộc tỉnh do hội đồng nhân dân cùng cấp bầu,
cấp trên phê chuẩn. Trường hợp cần thay đổi chủ tịch uỷ ban nhân dân mà nhân
sự là người phải điều động từ nơi khác đến thì sau khi trao đổi với cấp uỷ cùng
cấp và được cấp có thẩm quyền quản lí cán bộ đồng ý, Thủ tướng Chính phủ bổ
Gia đình và Trẻ em).
2. Tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân cấp tỉnh,
cấp huyện tương ứng với cơ cấu Chính phủ khóa XII
a) Ở cấp tỉnh:
- Cơ quan chuyên môn cấp tỉnh được tổ chức thống nhất: 17 cơ quan
- Cơ quan chuyên môn cấp tỉnh được tổ chức theo đặc thù riêng của một
số địa phương để có thêm 03 cơ quan sau: Sở Ngoại vụ; Ban Dân tộc; Sở Quy
hoạch - Kiến trúc (đối với thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh).
b) Ở cấp huyện:
- Cơ quan chuyên môn cấp huyện được tổ chức thống nhất: 10 cơ quan
- Cơ quan chuyên môn được tổ chức để phù hợp với từng loại đơn vị hành
chính cấp huyện: 02 cơ quan
- Cơ quan chuyên môn cấp huyện được tổ chức theo đặc thù riêng của
một số địa phương: 01 cơ quan (Phòng Dân tộc)
3. Đánh giá chung
Qua các nhiệm kỳ Chính phủ, số lượng các cơ quan chuyên môn thuộc ủy
ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện ngày càng giảm dần như sau:
- Cơ quan chuyên môn được tổ chức thống nhất: từ 19 cơ quan ở cấp tỉnh
và 12 cơ quan ở cấp huyện giảm xuống còn 17 cơ quan ở cấp tỉnh và 10 cơ quan
ở cấp huyện.
TỔ CHỨC BỘ MÁY HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
Page 11
- Cơ quan chuyên môn được tổ chức đặc thù ở từng địa phương theo tiêu
chí, điều kiện do Chính phủ quy định: từ 7 cơ quan ở cấp tỉnh và 3 cơ quan ở
cấp huyện giảm xuống còn 3 cơ quan ở cấp tỉnh và 01 cơ quan ở cấp huyện.
- Tiếp tục phân định rõ hơn chức năng, mô hình tổ chức của chính quyền
đô thị với chính quyền ở nông thôn để đáp ứng tốt hơn yêu cầu nhiệm vụ quản
lý nhà nước.
nhà nước ở địa phương do mọi cơ quan nhà nước thực hiện với hoạt động thực
hiện quyền lực nhà nước do các cơ quan nhà nước được nhân dân địa phương
lập ra để phục vụ nhu cầu tổ chức đời sống xã hội ở địa phương.
Quan niệm về chính quyền địa phương trên đây cho đến nay vẫn là quan
niệm được thừa nhận chung. Theo đó, Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hành chính
(hoặc Uỷ ban nhân dân) là các cơ quan do nhân dân lập ra để thực hiện quản lý
các công việc địa phương tạo thành khái niệm chính quyền địa phương. Các cơ
quan khác như Toà án, Viện kiểm sát…tuy có thực hiện các công việc của nhà
nước trên lãnh thổ địa phương nhưng không do nhân dân địa phương lập ra
không được xem là các cơ quan thuộc thuật ngữ “chính quyền địa phương”. Như
vậy, chính quyền địa phương là chính quyền do nhân dân địa phương lập ra xuất
phát từ nhu cầu quản lý nhà nước ở địa phương, phục vụ nhân dân địa phương.
Cơ quan nhà nước nào có được đặc điểm đó thì được xem là cơ quan nhà nước
địa phương. Trong tổ chức chính quyền địa phương nước ta, cá biệt mới có
trường hợp Toà án cũng được xem là cơ quan thuộc chính quyền địa phương.
Theo quy định tại Điều 14 của Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hành
chính được Quốc hội thông qua ngày 27 tháng 10 năm 1962 thì Hội đồng nhân
dân còn bầu ra Toà án nhân dân cấp mình. Nhưng luật về tổ chức chính quyền
địa phương ban hành sau này quy định đó đã bị bãi bỏ.
TỔ CHỨC BỘ MÁY HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
Page 13
Theo Điều 118 của Hiến pháp Việt Nam hiện hành, các đơn vị hành chính
của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được phân định như sau:
“Nước chia thành tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
Tỉnh chia thành huyện, thành phố thuộc tỉnh và thị xã; thành phố trực
thuộc trung ương chia thành quận, huyện và thị xã;
Huyện chia thành xã, thị trấn; thành phố thuộc tỉnh, thị xã chia thành
phường và xã; quận chia thành phường.
nhằm phục vụ nhu cầu của nhân dân địa phương trên cơ sở các quy định của
Hiến pháp, luật và các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên. Vai trò như vậy
của chính quyền địa phương được thể hiện tập trung trong quy định tại Điều 6
của Hiến pháp về nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của
các cơ quan nhà nước, của bộ máy nhà nước nói chung. Trong đó, tập trung
thống nhất là yếu tố có tính chủ đạo. Tư tưởng cơ bản trong tổ chức chính quyền
địa phương theo nguyên tắc đó là vừa bảo đảm sự tập trung thống nhất, vừa phát
huy vai trò chủ động tích cực của địa phương.
Đến đây, có thể xác định mô hình tổ chức chính quyền địa phương Việt
Nam thể hiện trên hai điểm cơ bản sau:
- Mỗi đơn vị hành chính thành lập hai loại cơ quan là Hội đồng nhân dân
và Uỷ ban nhân dân.
- Giữa chính quyền địa phương và chính quyền trung ương và giữa các
cấp chính quyền địa phương không có tính độc lập cao, tuy rằng trong quá trình
cải cách bộ máy nhà nước đã đẩy mạnh việc phân cấp quản lý cho các cấp chính
quyền địa phương. Nguyên tắc cơ bản và hàng đầu trong tổ chức và hoạt động
của bộ máy chính quyền địa phương là tập trung dân chủ. Đây là điểm rất đáng
chú ý trong tổ chức chính quyền địa phương nước ta. Nó chứng tỏ rằng, chính
quyền địa phương Việt Nam không có “chủ quyền” trong việc thực hiện các
nhiệm vụ, quyền hạn được giao. Quy định ở Điều 7 của Luật Tổ chức Hội đồng
nhân dân và Uỷ ban nhân dân thể hiện rõ hơn này khi ghi nhận trong hệ thống
cơ quan hành chính nhà nước từ Chính phủ đến Uỷ ban nhân dân cấp xã có sự
TỔ CHỨC BỘ MÁY HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
Page 15
chỉ đạo trong quản lý nhà nước từ trên xuống dưới. Đây chính là điểm khác về
bản chất so với chính quyền địa phương tự quản.
Tóm lại, với các đặc điểm trình bày như trên có thể gọi là mô hình chính
quyền địa phương nước ta là mô hình chính quyền địa phương tập trung dân
quyền. Bởi vì, theo pháp luật, chính quyền địa phương do nhân dân địa phương
lập ra, thực hiện các công việc nhà nước ở địa phương và chịu trách nhiệm trước
nhân dân địa phương nhưng cũng thay mặt cả nhà nước thực thi quyền lực ở địa
phương.
Ở Việt Nam, về thực chất, chưa bao giờ tồn tại quan niệm về chính quyền
địa phương tự quản hay tự quản địa phương, nhưng tính chất tự quản địa phương
thì ít nhiều là có, nếu xem xét các quy định của pháp luật về nhiệm vụ, quyền
hạn của Hội đồng nhân dân các cấp từ trước đến nay. Nghiên cứu về chính
quyền địa phương Việt Nam, có ý kiến cho rằng các sắc lệnh số 63 và số 77 ban
hành năm 1945 thể hiện rõ rệt tính tự quản địa phương. So với văn bản này, văn
bản pháp luật từ Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 1958 về sau quy
định về Hội đồng nhân dân là thụt lùi so với nó. Thật ra không phải như vậy.
Lấy ví dụ, đối với Hội đồng nhân dân xã, Điều 66 của Sắc lệnh 63-SL ngày
23/11/1945 quy định: “Hội đồng nhân dân hàng xã có quyền quyết nghị về tất
cả các vấn đề thuộc trong phạm vi xã mình. Những quyết nghị của Hội đồng
nhân dân hàng xã không được trái với chỉ thị của các cấp trên”. Nếu chỉ dừng lại
ở đây thì dễ đi đến nhận định rằng Hội đồng nhân dân xã có quyền tự quản,
được “quyền quyết nghị về tất cả các vấn đề thuộc trong phạm vi xã mình”.
Nhưng hãy chú ý ở đây 2 điểm ràng buộc: thứ nhất, quyết nghị phải theo chỉ thị
của cấp trên (Điều 66). Các nhà làm luật khi đó đã hiểu chỉ thị không phải là
một hình thức văn bản mà bao gồm cả các văn bản có tính quy phạm và các
mệnh lệnh pháp luật cụ thể của cơ quan nhà nước cấp trên. Lưu ý rằng, nếu là
các mệnh lệnh cụ thể thì đó là điều không tương thích với thể chế chính quyền
địa phương tự quản. Mặt khác, cũng không thấy có quy định pháp luật có tính
quy phạm nào trao quyền cho địa phương có tính cách là “chủ quyền” cả. Thứ
hai, theo quy định tại từ Điều 68 đến Điều 72 thì quyết nghị của Hội đồng nhân
TỔ CHỨC BỘ MÁY HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
Page 17
trung và tăng dân chủ. Nhưng phân cấp quản lý như hiện nay không hàm ý xây
dựng chính quyền địa phương tự quản ở nước ta.
Nhiều quy định khác của pháp luật hiện hành chứng tỏ sự hiện diện chính
quyền địa phương theo mô hình tập trung dân chủ. Xin nêu một số dẫn chứng:
- Uỷ ban thường vụ Quốc hội có những nhiệm vụ và quyền hạn giám sát
và hướng dẫn hoạt động của Hội đồng nhân dân; bãi bỏ các nghị quyết sai trái
của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; giải tán Hội đồng
nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong trường hợp Hội đồng nhân
dân đó làm thiệt hại nghiêm trọng đến lợi ích của nhân dân (Điều 91 Hiến pháp);
các quy định tương tự đối với Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã tại các điều
17, 25, 62 của Luật Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân về Hội đồng nhân
dân.
- Thủ tướng Chính phủ lãnh đạo công tác của Uỷ ban nhân dân các cấp;
phê chuẩn việc bầu cử; miễn nhiệm, điều động, cách chức Chủ tịch, các Phó
Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; đình chỉ việc
thi hành hoặc bãi bỏ những quyết định, chỉ thị của Uỷ ban nhân dân và Chủ tịch
Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trái với Hiến pháp, luật
và các văn bản của các cơ quan Nhà nước cấp trên (Điều 114); các quy định
tương tự như vậy trong các điều của Luật Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân
dân về Hội đồng nhân dân.
Trong quan hệ giữa hệ thống cơ quan hành chính đặc biệt phải kể đến quy
định về quan hệ chỉ đạo thông suốt từ Chính phủ đến Uỷ ban nhân dân cấp xã
với quy định tại Điều 7 Luật Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân về Hội
đồng nhân dân: “Uỷ ban nhân dân cấp dưới chịu sự chỉ đạo của Uỷ ban nhân
dân cấp trên. Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh chịu sự chỉ đạo của Chính phủ”. Quy
định này cho thấy tính tự quản địa phương gần như tan đi, khi biết rằng Uỷ ban
nhân dân là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân cùng cấp. Từ đây dẫn
đến tình trạng vẫn được các nhà hoạt động thực tiễn chỉ ra khi Uỷ ban nhân dân
TỔ CHỨC BỘ MÁY HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
Page 20
a) Điều kiện chiến tranh, tổ chức bộ máy nhà nước ít nhiều mang tính chất
tập trung để phục vụ mục đích quân sự mà dư âm đến nay chưa dứt, vẫn thấm
sâu trong nếp nghĩ của các giai tầng xã hội;
b) Trong nền kinh tế kế hoạch hoá, quản lý nhà nước, mô hình tổ chức và
hoạt động quản lý nhà nước thích hợp là tập trung quan liêu bao cấp. Trong nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, vấn đề chuyển đổi cơ chế quản
lý nhà nước có thay đổi nhưng chưa dẫn tới sự thúc bách cho một cách thức
quản lý nào khác;
c) Trong lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam, chúng ta chưa có truyền
thống tự quản có tính chất nhà nước. “Dân chủ làng xã” vẫn được các nhà sử
học đề cập có yếu tố tự quản, nhưng thực ra chỉ là thứ “dân chủ” gần với phía xã
hội cộng sản nguyên thuỷ, không có tính chất nhà nước với sự thống trị của
nguyên tắc “phép vua thua lệ làng”. Nó khác về chất so với tự quản hiểu theo
nghĩa dân chủ hiện đại là dân chủ có tính cách nhà nước đã từng bị phủ định bởi
các xã hội độc tài chuyên chế nô lệ, phong kiến khốc liệt.
d) Về nhận thức, hầu như trong quan điểm về quan hệ giữa trung ương và
địa phương, giữa các cấp chính quyền địa phương ở Việt Nam vẫn thấm đượm
tinh thần tập trung dân chủ. Tư tưởng về chính quyền địa phương tự quản hay tự
quản địa phương vẫn chưa được mấy người biết đến.
Ngày 15/11/1992, Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được
Quốc hội khoá VIII thông qua. Đây cũng là bản hiến pháp xây
dựng Chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ đổi mới toàn diện và sâu sắc về kinh tế, từn
g bước và vững chắc về chính trị. Hiến pháp năm 1992 đã đổi mới các chế định
về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quỗc phòng.. Trong đó có các
quy định cải cách tổ chức hoạt động bộ máy hành chính Nhà nước.
Bộ máy hành chính Nhà nước của nước ta sau nhiều năm hoạt động
bản, đó là mô hình chính quyền địa phương. Nếu chính quyền địa phương chưa
thật ổn định thì vấn đề đặt ra là lựa chọn mô hình chính quyền địa phương tập
trung (theo hướng tập quyền) hay dân chủ (mà đỉnh cao là chính quyền địa
TỔ CHỨC BỘ MÁY HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
Page 22
phương tự quản hay tự quản địa phương) hay chọn giải pháp trung gian giữa hai
hướng đó...
Từ năm 1945 đến nay, chính quyền địa phương Việt Nam được tổ chức
theo chế độ tập quyền, cụ thể hơn là theo nguyên tắc tập trung dân chủ. Nhưng
ngày nay, còn có mô hình chính quyền địa phương tự quản mang tính phổ quát
thể hiện được hai yếu tố hàng đầu là dân chủ và hiệu quả. Đây là vấn đề cần đặt
ra cho công tác nghiên cứu ở Việt Nam.
Chính quyền địa phương tự quản có mấy điểm khác cơ bản với chính
quyền theo mô hình tập trung dân chủ:
- Chính quyền địa phương là chính quyền do nhân dân địa phương tự tổ
chức ra. Nhân dân địa phương sẽ quyết định việc thành lập, số phận chính quyền
và chính quyền địa phương phục vụ cho nhu cầu của địa phương.
- Chính quyền địa phương là chính quyền có chủ quyền, không có sự chỉ
đạo nào từ phía trên, vì các nhiệm vụ, quyền hạn được ghi rõ ràng, chặt chẽ
trong luật, chỉ trừ các trường hợp thực hiện công việc được chính quyền cấp cao
hơn uỷ quyền mới có sự chỉ đạo, kiểm tra. Do đó, mỗi cấp chính quyền địa
phương chủ động làm các việc được luật quy định.
Tổ chức chính quyền địa phương tự quản có mấy ưu thế như sau:
1. Chính quyền địa phương do dân chúng địa phương lập ra và phụ thuộc
vào sự lựa chọn của họ. Đó chính là cơ sở cho dân chủ thực sự ở địa phương,
không phụ thuộc vào chính quyền. Đồng thời, đây là cách tốt nhất để người dân
tham gia đời sống chính trị ở địa phương một cách tự giác mà không cần đến sự
vận động, câu thúc tham gia.
thiết phân cấp ở mức độ nào để trở thành tự quản. Tiêu chí phân biệt chính
quyền được phân cấp quản lý với chính quyền địa phương tự quản ở hai chữ
“chủ quyền”. Trong cải cách hành chính, người ta cho rằng phân cấp quản lý là
khâu quyết định thành bại của cải cách hành chính. Những lợi ích của việc phân
cấp quản lý cho địa phương đưa lại tuy không hoàn toàn như tự quản địa
phương, nhưng cũng đưa lại nhiều kết quả tích cực. Trong khi Việt Nam chưa
TỔ CHỨC BỘ MÁY HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
Page 24
muốn có sự đổi khác mô hình chính quyền địa phương theo hướng tự quản thì
đây vẫn là điều tốt nhất cho cải cách hành chính.
Thứ ba: Cải cách chính quyền địa phương phải lấy dân chủ làm nền tảng
để chính quyền địa phương được thành lập, tồn tại và hoạt động phải thực sự do
nhân dân địa phương quyết định, cán bộ, công chức thực sự là công bộc của
nhân dân chứ không phải là những người cai trị nhân dân. Đó là một cơ sở nền
tảng để có được một chính quyền tốt, hoạt động hữu dụng, giảm tối đa các
khuyết tật, tiêu cực.
Thứ tư: Chính quyền địa phương có tổ chức và hoạt động trên các nguyên
tắc của Nhà nước văn minh, hiện đại với các tiêu chí như: Trách nhiệm giải
trình, minh bạch, pháp quyền…
Thứ năm:
a) Phương hướng chung:
- Nghiên cứu tổ chức lại các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân
cấp tỉnh, cấp huyện theo hướng tách quản trị hành chính nhà nước với quản trị
đơn vị sự nghiệp, cơ quan chuyên môn hoạt động mang tính tác nghiệp hoặc
cung ứng dịch vụ hành chính công trong từng ngành, lĩnh vực; theo đó, hình
thành loại hình tổ chức phù hợp với chức năng và nội dung hoạt động mới thông
qua hình thức đấu thầu, đặt hàng, đồng thời nghiên cứu mô hình tổ chức và hoạt
động của chính quyền cấp xã theo quy định của pháp luật.