MỞ ĐẦU
Với hơn 25 năm đổi mới và hội nhập quốc tế. quá trình đô thị hóa ở Việt
Nam đã và đang diễn ra nhanh chóng dẫn đến có nhiều khác biệt về hoạt động
kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng giữa đô thị và nông thôn. Vì vậy
buộc nhà quản lý có những thay đổi về cách thức tổ chức và quản lý phù hợp
nhất. Thay những cái cũ không còn phù hợp với tình hình thực tế hiện nay nữa.
Mô hình chính quyền đô thị đã có một sự đột phá của Bộ Nội vụ đã trình
Chính Phủ ở phiên họp Chính Phủ thường kì tháng 2 vừa qua. Mô hình này hứa
hẹn sẽ có nhiều kết quả tốt và nhận được nhiều sự ủng hộ của người dân.
Kinh nghiệm lích sử cho thấy, để thay “chiếc áo quá chật” cần phải tìm ra
“chiếc áo phù hợp” hơn là “ mặc vội vàng một chiếc áo mới” rồi chỉnh sửa thêm
bớt một cách vừa vặn sự thành công không nằm ở việc có được một “mẫu” chính
quyền đô thị hoàn hảo mà ở cách vận hành bộ máy.
Dưới đây là bài tìm hiểu của nhóm chúng em về mô hình chính quyền đô
thị, bài làm còn có nhiều khuyết điểm chúng em mong nhận được sự góp ý của cô
giáo để bài của chúng em được hoàn chỉnh hơn.
Chúng em cam ơn cô!
1
NỘI DUNG
I.
KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA CHÍNH QUYỀN ĐÔ THỊ.
1. Khái niệm.
Thuật ngữ chính quyền đô thị đã được nhắc tới một cách phổ biến trong
thời gian gần đây. Đề án chính quyền đô thị cũng được bộ Nội Vụ trình Chính
Phủ và được thí điểm tại Thành Phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng.
gian.
Thứ hai, người đứng đầu chính quyền đô thị do dân bầu trực tiếp hay nói
cách khác bộ máy chính quyền được tổ chức theo mô hình thị trưởng. Điều này
xuất phát từ thực tế, trình độ dân trí ở các đô thị cao hơn vùng nông thôn, hoàn
toàn có khả năng chọn đúng người. Mặt khác, ở các đô thị thường có nhiều vấn
đề phức tạp về an ninh, môi trường... nên đòi hỏi một người đứng đầu chính
quyền chịu trách nhiệm trước dân cao hơn, đòi hỏi được dân bầu trực tiếp, chịu
trách nhiệm trực tiếp và bị phế truất trực tiếp bởi lá phiếu của người dân. Tuy
nhiên, ở các nước phát triển, dân trí cao, thì đặc điểm thứ hai này được mở rộng
áp dụng cả với vùng nông thôn.
Hai đặc điểm này, kéo theo một số đặc điểm trong tổ chức vận hành của chính
quyền đô thị, chi phối hiệu quả hoạt động:
Quyền tự quản lớn
Các chính quyền đô thị lớn thường được quyền tự chủ rất lớn, điều này cho phép
họ giải quyết thành công một số vấn đề mà Việt Nam đang loay hoay.
Thứ nhất, về mặt ngân sách, tài sản, quan hệ giữa các đô thị lớn với chính
quyền cấp trên giống như quan hệ giữa công ty mẹ – công ty con: là hai pháp
3
nhân độc lập về tài sản, hạch toán độc lập. Nguồn thu, bao gồm các nguồn thu
thuế, của các thành phố được luật hoá nên họ rất chủ động trong kế hoạch tài
chính, không rơi vào bị động chờ phê duyệt. Ngược lại, nếu lạm chi thì thành phố
phải bán tài sản của mình để trang trải các khoản chi. Nếu công chức thi hành
công vụ gây thiệt hại thì phải bồi thường cho công dân; nếu ngân sách thường
niên không đủ thì phải bán tài sản (trụ sở, đất đai) để bồi thường; nếu bán tài sản
không đủ, công dân có quyền yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản đối với thành phố.
Thị trưởng không thể nào giữ được cái ghế của mình, nếu thành phố bị tuyên bố
phá sản.
Hiện nay, Việt Nam đã có luật Trách nhiệm bồi thường Nhà nước. Tuy nhiên,
giữa văn phòng Cần Giờ và trụ sở chính là việc nội bộ của sở Kế hoạch và đầu tư,
công dân không cần quan tâm, chỉ cần lo đủ giấy tờ và đúng hạn thì nhận kết quả.
Trong tổ chức bộ máy, bộ phận liên quan đến thương mại, kinh doanh, an ninh
trật tự, môi trường được chú trọng.
Quyền năng lớn – trách nhiệm lớn.
Người đứng đầu thành phố do dân bầu trực tiếp một cách công khai, minh
bạch, dân chủ. Vì thế, muốn trúng cử thì người đứng đầu thành phố không còn
cách nào khác là làm hài lòng dân: sự sắp đặt, ưu ái của cấp trên không có mấy ý
nghĩa, bởi vậy họ sợ dân hơn sợ cấp trên.
Trách nhiệm, quyền năng của thị trưởng (người đứng đầu) được thiết kế
theo nguyên tắc trọn gói. Người ta coi việc bảo đảm an ninh, môi trường, trật tự
của một thành phố tương tự như cách mà khu đô thị Phú Mỹ Hưng đang làm: coi
đó là một loại hàng hoá công cộng đặc biệt, không có gì cao siêu, trừu tượng. Nó
khác với hàng hoá thông thường ở chỗ người mua không trả tiền trực tiếp mà trả
qua thuế và phí; không mặc cả trực tiếp mà chọn nhà cung cấp qua lá phiếu của
mình. Quá trình đấu thầu sẽ được thay bằng quá trình vận động tranh cử.
5
Bởi vậy, khi vận động tranh cử, thị trưởng phải “chào hàng” trọn gói: êkíp
làm việc, chất lượng dịch vụ công và giá cả (thuế và phí sẽ tăng hay giảm). Sau
khi trúng cử thì cử tri cùng với Hội đồng thành phố sẽ giám sát việc thực thi “hợp
đồng” (cam kết tranh cử) này của thị trưởng.
Trên cơ sở ấn định thuế suất và các nguồn thu, Hội đồng thành phố sẽ
quyết định ngân sách; trong phạm vi ngân sách được quyết, thị trưởng tự lo việc
tinh giản bộ máy, chọn người tài làm việc cho mình. Toàn quyền chọn cấp phó,
các giám đốc sở... Ông ta không còn chỗ nào để đổ lỗi. Mọi sai sót, chất lượng
dịch vụ công thấp đều có thể quy về trách nhiệm của thị trưởng và ông ta phải từ
chức. Nếu ông ta không tự nguyện từ chức để giữ danh dự cho đảng của mình, cử
thức quản lý của chính quyền nông thôn.
Chính quyền ở địa bàn đô thị cũng tổ chức cấp hành chính và thực hiện các
nhiệm vụ, quyền hạn như chính quyền nông thôn cùng cấp, đồng thời có thêm
một số nhiệm vụ, quyền hạn quản lý trên địa bàn đô thị dẫn đến nhiều vấn đề cấp
thiết của đô thị như quy hoạch, kiến trúc, xây dựng hạ tầng đô thị, xử lý ô nhiễm
môi trường, ùn tắc giao thông, trật tự an toàn xã hội... chưa được giải quyết kịp
thời và cũng chưa phù hợp với nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành và quản lý
theo lãnh thổ, trong đó đô thị do kết cấu hạ tầng thống nhất đòi hỏi phải quản lý
theo ngành là chủ yếu, khác với nông thôn quản lý theo lãnh thổ là chủ yếu.
Từ thực trạng tổ chức chính quyền địa phương nêu trên, cần thiết phải làm
rõ sự khác biệt giữa đô thị và nông thôn, từ đó xác định rõ mô hình tổ chức, chức
năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, cơ chế hoạt động phù hợp đối với chính quyền ở địa
bàn đô thị và chính quyền ở địa bàn nông thôn.
Đề án mô hình tổ chức chính quyền đô thị nhằm đề xuất mô hình tổ chức
chính quyền đô thị phù hợp với đặc điểm, tính chất của từng loại hình đô thị, đáp
ứng yêu cầu, tốc độ phát triển của các đô thị Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Sản phẩm của Đề án này cùng
với kết quả thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng Nhân dân huyện, quận,
phường là cơ sở đề xuất sửa đổi, bổ sung các quy định của Hiến pháp năm 1992
và các luật có liên quan về chính quyền địa phương.
7
Bộ Nội vụ xây dựng Đề án mô hình tổ chức chính quyền đô thị trên cơ sở
nghiên cứu các văn kiện của Đảng, các Hiến pháp và các văn bản quy phạm pháp
luật liên quan đến chính quyền địa phương; kết quả thực hiện thí điểm không tổ
chức Hội đồng Nhân dân huyện, quận, phường, các đặc điểm của đô thị phân biệt
với nông thôn, các đặc thù của đô thị Việt Nam hiện nay, đánh giá hiện trạng tổ
chức chính quyền địa phương (trong đó có chính quyền đô thị) và tham khảo kinh
nghiệm tổ chức chính quyền đô thị của các nước.
cấp chính quyền (không có Hội đồng Nhân dân và Ủy ban Hành chính), chỉ đặt
Ban đại diện hành chính thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo phân cấp và ủy
quyền của cơ quan hành chính cấp trên tại địa bàn.
Phương án 3 tổ chức chính quyền đô thị có tòa thị chính, thị trưởng, quận
trưởng, huyện trưởng, trưởng phường, trưởng thị trấn; thiết lập cơ quan hành
chính đô thị ở địa bàn thành phố trực thuộc Trung ương và thành phố, thị xã thuộc
tỉnh là Tòa Thị chính, đứng đầu Tòa Thị chính là Thị trưởng.
Các quận, huyện, phường trong thành phố trực thuộc Trung ương và phường
thuộc thành phố, thị xã thuộc tỉnh không tổ chức Hội đồng Nhân dân và Ủy ban
Hành chính mà chỉ đặt cơ quan đại diện hành chính thực hiện các nhiệm vụ,
quyền hạn theo phân cấp và ủy quyền của cơ quan hành chính cấp trên tại địa bàn.
Người đứng đầu Ban đại diện hành chính quận, huyện, phường là quận
trưởng, huyện trưởng và trưởng phường. Đối với xã, thị trấn vẫn tổ chức Hội
đồng Nhân dân và Ủy ban Hành chính, người đứng đầu Ủy ban Hành chính xã là
xã trưởng, người đứng đầu Ủy ban Hành chính thị trấn là trưởng thị trấn.
Sự khác biết của chính quyền đô thị
Để thực hiện nhiệm vụ "Tổng kết, đánh giá mô hình tổ chức và chất lượng
hoạt động của chính quyền địa phương nhằm xác lập mô hình tổ chức phù hợp,
bảo đảm phân định đúng chức năng, trách nhiệm, thẩm quyền, sát thực tế, hiệu
lực, hiệu quả. Xây dựng mô hình chính quyền đô thị và chính quyền nông thôn
phù hợp" được nêu trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của
Đảng, Chính phủ đã xây dựng đề án và trình Quốc hội thông qua Nghị quyết số
26/2008/QH12. Theo đó, sẽ thực hiện thí điểm không tổ chức HĐND tại 67
huyện, 32 quận, 483 phường ở 10 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
9
Qua gần 4 năm thực hiện thí điểm, Bộ Nội vụ nhận định: Việc không tổ chức
HĐND huyện, quận, phường đã giúp phân biệt sự khác nhau giữa chính quyền đô
thị và chính quyền nông thôn về tổ chức bộ máy, nhiệm vụ, quyền hạn. Theo kết
không cao. Không ít huyện có chủ yếu diện tích đất nông nghiệp nhưng lại thiếu
cán bộ có chuyên môn về nông nghiệp, thừa cán bộ đô thị; trong khi đó lại có nơi
lại thiếu cán bộ đô thị, thừa cán bộ làm công tác dân tộc… Đó cũng là nguyên
nhân khiến bộ máy chính quyền, bộ máy hành chính của chúng ta cồng kềnh,
nhiều nấc nhưng hiệu quả và hiệu lực quản lý còn hạn chế.
2. Thí điểm mô hình tại Thành Phố Hồ Chí Minh và sự khác biệt so với mô
hình hiện hữu.
Sắc lệnh năm 1945 (số 63 và số 77) đã quy định chính quyền địa phương ở
nước ta chia làm 4 cấp: kỳ (cấp trung gian giữa Chính phủ và địa phương) tỉnh/thành phố - huyện (cấp trung gian) - xã/ khu phố. Theo đó, địa bàn nông thôn
bao gồm 3 cấp: tỉnh, huyện, xã và địa bàn đô thị bao gồm 2 cấp: thành phố và khu
phố. Cấp kỳ, cấp huyện và cấp khu phố được quy định là cấp chính quyền chưa
hoàn chỉnh, chỉ có Ủy ban nhân dân (UBND) có nhiệm vụ thi hành mệnh lệnh
của cấp trên, không có Hội đồng nhân dân (HĐND).
Sau giải phóng miền Nam (30/4/1975), xuất hiện một vấn đề: Các thành
phố như Hà Nội, Hải Phòng vẫn giữ 2 cấp chính quyền: thành phố - khu phố (có
thêm cấp tiểu khu dưới cấp khu phố); riêng TP. Hồ Chí Minh lại chia thành:
thành phố - quận - phường. Để thống nhất về vấn đề tên gọi, Hiến pháp 1980 quy
định các thành phố trực thuộc Trung ương có 3 cấp với tên gọi thống nhất: thành
phố - quận - phường và có đầy đủ bộ máy HĐND, UBND cho mỗi cấp.
Sắc lệnh đã ban hành, tuy nhiên sự phân biệt giữa chính quyền đô thị và chính
quyền nông thôn vẫn chưa rõ ràng vì mô hình và phương thức hoạt động của
HĐND và UBND được áp dụng gần như giống nhau cho cả chính quyền đô thị và
nông thôn.
11
Qua những khuyết điểm đó, Bộ Nội vụ đã đưa ra bốn nguyên nhân cơ bản đặt ra
yêu cầu "thay áo mới" cho chính quyền đô thị hiện đang phải "mặc chung chiếc
áo nông thôn". Một là, đô thị là một thể thống nhất, không chia cắt thành các bộ
quản lý phân tán, cắt khúc theo địa giới hành chính và theo các ngành, cứ kéo dài.
13
Nhu cầu quản lý thống nhất, đồng bộ và liên thông ở đô thị không tương thích với
việc xác định trách nhiệm theo cấp quản lý, dẫn đến nhiều cơ quan tham gia quản
lý nhưng không rõ trách nhiệm.
Việc phân cấp quản lý giữa trung ương và địa phương chưa rõ ràng, quyền
hạn chưa tương xứng với nhiệm vụ, còn biểu hiện "quyền lực ngành" với cơ chế
xin - cho, giấy phép con... Chế độ tập thể lãnh đạo của Ủy ban nhân dân không rõ
trách nhiệm người đứng đầu và trách nhiệm cá nhân dẫn đến hội họp nhiều, phản
ứng chậm, kém hiệu quả.
Nghị định 93/2001/NĐ-CP có mở rộng phân cấp cho thành phố trên bốn
lĩnh vực như: Quản lý quy hoạch, kế hoạch, đầu tư và phát triển kinh tế, xã hội;
quản lý nhà, đất và hạ tầng kỹ thuật đô thị; quản lý ngân sách nhà nước và tổ chức
bộ máy và quản lý cán bộ, công chức. Nhưng đến nay, nghị định này đã không
còn phù hợp do việc ra đời của nhiều luật chuyên ngành.
Trong thực tế, về tổ chức bộ máy, Chính phủ quy định khá cứng các cơ
quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện, riêng cấp xã thì
khống chế số lượng cán bộ, công chức. Chính vì thế mà có những phường-xã dân
cư đông đến gần 100.000 dân cũng có bộ máy tương tự như những nơi có 10.000
dân và số lượng cán bộ, công chức có được tăng thêm nhưng vẫn không đáp ứng
yêu cầu. Thành phố muốn có lực lượng cảnh sát đô thị trực thuộc Chủ tịch Ủy
ban hành chính thành phố. Mặc dù, hiện nay thành phố được thí điểm thanh tra
xây dựng với lực lượng khá đông nhưng vẫn bất cập trong quản lý trật tự đô thị.
Về tài chính, ngân sách thành phố cũng rất khó khăn vì đang cần nguồn vốn
lớn, nhất là đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, xử lý các vấn đề về môi trường...
Nhiều lần, thành phố có đề xuất những cơ chế chính sách về việc được ổn định tỷ
lệ điều tiết, về việc giao cho Hội đồng nhân dân quyết định các định mức chi và
được quy định một số khoản thu, mức thu về phí để phát triển cơ sở hạ tầng...
phố.
15
Đô thị có đặc trưng cơ bản khác với nông thôn bởi mật độ dân số cao, kết
cấu dân cư phức hợp, hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội có tính
liên thông, đồng bộ, không chỉ phục vụ cho yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của
mỗi quận, mỗi phường... Việc quản lý đô thị không chỉ đảm bảo tính thống nhất,
đồng bộ và liên thông mà còn đáp ứng các nguyên tắc quản trị đô thị với hàng
loạt mối quan tâm cụ thể nhằm vận hành quản lý các công việc của đô thị theo
thẩm quyền, chế độ trách nhiệm, sự minh bạch và sự tham gia của nhân dân.
Đô thị như một thực thể sống và vận động trong khuôn khổ của hệ thống
kinh tế, xã hội, môi trường; không chỉ có thể chế nhà nước mà còn có yếu tố thị
trường và cộng đồng; không chỉ có không gian địa phương mà còn là không gian
mở đối với cả nước và toàn cầu. Đô thị còn là trung tâm của các chuyển biến về
kinh tế - xã hội, là điểm kết nối và lan tỏa về giao thông, truyền thông và tri thức.
Việc thiết kế chính quyền đô thị tuân theo nguyên tắc chủ thể quản lý phải
phù hợp với khách thể (đối tượng quản lý) nhằm đáp ứng mục tiêu nâng cao hiệu
lực, hiệu quả quản lý nhà nước, phù hợp với điều kiện vận hành của cơ chế thị
trường và xu hướng hội nhập quốc tế. Chính quyền đô thị sẽ nâng cao tính tự chủ,
tự chịu trách nhiệm, huy động mọi nguồn lực cho sự phát triển bền vững theo
hướng văn minh, hiện đại.
III. ƯU ĐIÊM VÀ NHỮNG HẠN CHẾ CỦA MÔ HÌNH CHÍNH QUYỀN
ĐÔ THỊ
1. ưu điểm của mô hình chính quyền đô thị
Xây dựng mô hình chính quyền đô thị là vấn đề mới ở Việt Nam. Xây dựng mô
hình chính quyền đô thị bên cạnh việc tạo điều kiện thúc đẩy phát triển kinh tế-xã
hội, chăm lo cho các vấn đề an sinh của người dân được tốt hơn cũng đặt ra hàng
loạt các vấn đề như vai trò lãnh đạo của Đảng trong bộ máy chính quyền đô thị,
hiện và phúc lợi của họ không bị ảnh hưởng. Việc chuyển từ nền hành chính công
vụ sang nền hành chính phục vụ phải lấy sự thỏa mãn của người dân là tiêu chuẩn
lớn nhất để đánh giá chất lượng bộ máy.
17
Bản chất của chính quyền là của dân, do dân, vì dân. Mục tiêu cuối cùng của
đề án chính quyền đô thị là phục vụ tốt cho dân. Nếu không làm được điều đó thì
bản thân đề án không còn ý nghĩa gì hết. Mô hình này không có chỗ cho người
ngồi không lãnh lương. Cán bộ công chức nào nằm trong bộ máy cũng phải biết
rõ nhiệm vụ, chức năng của mình và hiểu rõ mình được trả lương để làm việc gì".
Tính tự chủ của chính quyền địa phương cao hơn thì khi người dân, doanh
nghiệp than phiền sẽ biết rõ được trách nhiệm thuộc về ai chứ chính quyền không
thể đùn đẩy.
Tinh gọn bộ máy, tăng quyền Thị trưởng
Theo hướng bỏ HĐND cấp xã, phường; UBND và HĐND cấp quận, huyện;
tăng thẩm quyền của UBND và HĐND TP, đặc biệt là tăng quyền và trách nhiệm
cá nhân của Thị trưởng thành phố.
Có ý kiến tán đồng cao với dự thảo đề án chính quyền đô thị TP.Đà Nẵng, vì
cho rằng như vậy thì bộ máy hành chính sẽ được tinh gọn, giảm bớt gánh nặng
cho ngân sách; tăng thẩm quyền cho người đứng đầu thành phố thì mọi việc sẽ
"trôi” nhanh hơn... Tuy nhiên, cũng còn nhiều ý kiến hoài nghi về tính khả thi của
đề án chính quyền đô thị khi bỏ đi HĐND và UBND cấp quận, huyện. Số ý kiến
này lo ngại UBND và HĐND cấp thành phố sẽ bị quá tải do có quá nhiều việc đổ
dồn về, vì thế thay vì công việc được giải quyết nhanh và hiệu quả hơn thì mọi
việc lại càng "tắc” hơn hiện tại. Sẽ có rất nhiều chuyên gia, nhà nghiên cứu tham
gia góp ý để hoàn thiện bản đề án chính quyền đô thị để nó thực sự khả thi khi
triển khai trong thực tế.
Đem lại sự phát triển cho các thành phố lớn một cách bền vững
Điển hình như theo UBND TP HCM, tổ chức và hoạt động của chính quyền
HCM và cấp thành phố vệ tinh (Đông, Tây, Nam, Bắc), có nhiều đô thị trong một
đô thị lớn. Riêng quận và phường cũng là đô thị nhưng không tổ chức cấp chính
quyền hoàn chỉnh mà có bước quá độ để trực thuộc cấp thành phố.
19
UBND thành phố cũng nhận định, do tầm quan trọng của 4 khu đô thị mới của TP
HCM và sự phân cấp cũng như tự chịu trách nhiệm cao của chính quyền khu đô
thị nên cần nâng cao vai trò của Chủ tịch HĐND và Thủ trưởng cơ quan hành
chính cao hơn các quận nội thành. Cụ thể là cấp bậc sẽ tương đương với Phó thủ
trưởng cơ quan hành chính của TP HCM.
Tại các khu đô thị này sẽ thực hiện nguyên tắc hai cấp chính quyền như cơ cấu
chính quyền thành phố trực thuộc trung ương. Dưới cấp chính quyền này sẽ tổ
chức các cơ quan hành chính phường để thực hiện một số chức năng quản lý nhà
nước trên địa bàn. Chính quyền các khu đô thị được xây dựng theo hướng phân
cấp mạnh, tăng thẩm quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm trong ngân sách, xây
dựng và quản lý, phát triển dịch vụ đô thị.
Với mô hình chính quyền đô thị, UBND TP HCM cho rằng vai trò của thủ trưởng
cơ quan hành chính sẽ được nâng cao, tăng quyền quản lý điều hành, thiết lập chế
độ thủ trưởng triệt để. Thủ trưởng sẽ là người chịu trách nhiệm hoàn toàn trong
việc quản lý điều hành.. Đồng thời, chính quyền đô thị được tự chủ ngân sách và
không bị giới hạn về địa giới hành chính.
Với đề án chính quyền đô thị, UBND TP cho rằng TP HCM sẽ tận dụng được các
nguồn lực và thế mạnh của mình để phát triển nhanh hơn và bền vững.
Theo ông Nguyễn Văn Đua, Phó bí thư thường trực Thành ủy TP HCM, chính
quyền đô thị sẽ giúp thành phố tận dụng được các nguồn lực để phát triển nhanh
hơn. Trong điều kiện các cơ quan, Quốc hội khi xem xét không đồng ý cho phép
có mô hình "thành phố trong thành phố" thì có thể gọi bằng một tên gọi khác.
Để chuẩn bị cho việc tổ chức mô hình chính quyền đô thị ở TP HCM sắp tới,
trong khi chờ sửa đổi Hiến pháp năm 1992, TP HCM kiến nghị Trung ương cho
được tính khả thi của những đề án chính quyền đô thị của TP.Hồ Chí Minh, Đà
Nẵng khi các bên tham gia, từ góc nhìn ở trên ở tầng mức Trung ương, đến các cơ
21
sở thực hiện vai trò thí điểm, chưa được xây dựng một nền tảng đồng bộ về nhận
thức.
Câu hỏi phân cấp như thế nào, bao nhiêu lĩnh vực, quyền hạn "tự quản"
mỗi đơn vị đến đâu càng khó trả lời khi nước ta chưa có quy định cụ thể và mỗi
đô thị lại có đặc thù riêng.
Phân quyền cũng đồng nghĩa với phân công trách nhiệm. Không phải là
một chiều nhận chỉ đạo từ Trung ương, mà chính quyền đô thị cần có quyền độc
lập nhất định. Một trong những bài học quan trọng nhất của các mô hình đô thị
thành công là kết nối được mối liên hệ giữa chính quyền trung ương và địa
phương. Tăng cường quyền tự quản của chính quyền đô thị, giảm thiểu sự can
thiệp của chính quyền Trung ương theo phương châm "Ai làm không quan trọng,
điều quan trọng là làm như thế nào"- sự am hiểu địa phương thuộc về chính
quyền địa phương, nên kế hoạch, chính sách phải do địa phương đề xuất dưới sự
chỉ đạo, kiểm soát của Trung ương.
Do vậy, những bất cập về cơ chế pháp lý thiếu đồng bộ, chưa được đổi
mới, chẳng hạn như Chương IX, Hiến pháp 1992 và Luật Tổ chức HĐND và
UBND năm 2003 sẽ phải sửa đổi cho phù hợp. Nhìn vào vấn đề nhân lực, trình
độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ quản lý, đặc biệt là "thị trưởng" cũng là một
thách thức không nhỏ. Yêu cầu đặt ra là bố trí cán bộ hợp lý, xóa bỏ tình trạng
không đồng đều trình độ giữa các cấp, nâng cao trách nhiệm của mỗi cá nhân
cũng như đẩy mạnh "tin học hóa" nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý.
Việc thống nhất "quyền lực" về một mối không những là sự thay đổi của cơ
chế quyết sách với vai trò của một người chịu trách nhiệm đứng đầu mà còn đòi
hỏi đội ngũ cán bộ kỹ trị được đào tạo bài bản, để thực thi các chính sách được
hình thành một mô hình chính quyền đô thị hợp lý và hoàn chỉnh: không những
về phần cứng qua cầu đường trường trạm hay thiết chế thực hiện, mà cả ở phần
mềm trong suy nghĩ, lẫn tư duy.
23
IV.
MÔ HÌNH CHÍNH QUYỂN ĐÔ THỊ TỪ NƯỚC MỸ
( chính quyền thành phố)
Đã có thời ở Hoa Kỳ chủ yếu là nông thôn. Ngày nay, Hợp chúng quốc là
một quốc gia đô thị hóa cao độ, với khoảng 80% dân số hiện sống ở các thị trấn,
các thành phố lớn hay các vùng ngoại ô. Những con số thống kê này cho thấy
chính quyền các thành phố là vô cùng quan trọng trong khuôn mẫu tổng thể của
chính quyền Mỹ. ở một mức độ lớn hơn so với cấp liên bang hay cấp bang, thành
phố phục vụ trực tiếp các nhu cầu của dân chúng, cung cấp tất cả mọi thứ, từ cảnh
sát, phòng cháy chữa cháy tới các quy tắc vệ sinh, các quy định về y tế, giáo dục,
giao thông vận tải công cộng và xây dựng nhà cửa.
Công việc điều hành các thành phố lớn ở Mỹ vô cùng phức tạp. Chỉ nói riêng về
mặt dân số, thành phố New York có số dân lớn hơn 41 trong 50 bang. Người ta
thường nói rằng sau chức vụ tổng thống, vị trí lãnh đạo khó khăn nhất đất nước là
vị trí thị trưởng thành phố New York.
Chính quyền thành phố được bang trao cho các đặc quyền, và bản hiến chương
của thành phố thể hiện chi tiết các mục tiêu và quyền hạn của chính quyền thành
phố. Nhưng trên nhiều khía cạnh, các thành phố có chức năng độc lập với bang.
Tuy nhiên, đối với hầu hết các thành phố lớn, sự hợp tác với các tổ chức của bang
và liên bang là rất quan trọng để đáp ứng được nhu cầu của cư dân.
Các loại hình chính quyền thành phố trên toàn quốc khác nhau rất nhiều. Tuy
lý mà thường không có được ở các quan chức được bầu chọn. Giải pháp cho vấn
đề đó là ủy thác hầu hết quyền hành pháp, bao gồm việc cưỡng chế thực thi pháp
luật và việc cung cấp các dịch vụ, cho một nhà quản lý thành phố có tính chuyên
nghiệp, có kinh nghiệm và được đào tạo cẩn thận.
25