MỤC LỤC
Đặt vấn đề 2
I. Chính phủ: 2
1.Về cơ cấu tổ chức: 2
2.Vị trí của Chính phủ: 3
3.Vai trò của Chính phủ: 4
II. Bộ - Cơ quan ngang Bộ: 4
1.Vị trí, chức năng của Bộ - Cơ quan ngang Bộ: 4
2.Cơ cấu tổ chức của Bộ: 5
III. Chính quyền địa phương và cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương của Nhà nước CHXHCN Việt
Nam 5
1. Vị trí, vai trò chính quyền địa phương và cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương 5
2. Cơ cấu tổ chức của UBND 7
Kết luận 7
1
BÀI TIỂU LUẬN
MÔN HỌC : LUẬT TRONG QUẢN LÝ CÔNG.
Giáo viên giảng dạy : Tiến sĩ Lương Thanh Cường.
Học viên : Lê Văn Hạnh.
Lớp : Cao học Quản lý Công K17K.
Ngày làm bài : 10/01/2013.
Tên tiểu luận : Đánh giá hệ thống pháp luật quy định về tổ chức bộ máy hành
chính nhà nước ở nước ta hiện nay.
Đặt vấn đề.
Bộ máy hành chính nhà nước là hệ thống các cơ quan nhà nước có tư cách
pháp nhân công quyền do cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp lập ra nhằm
quản lý các công việc hàng ngày của xã hội, cung cấp các dịch vụ công thông qua
hoạt động của công sở.
Hệ thống luật pháp của nhà nước CHXHCN Việt Nam quy định về tổ chức bộ
máy hành chính nhà nước có các văn bản pháp luật sau :
chính phủ nước ta còn có những cơ quan thuộc Chính phủ do Chính phủ quyết
định thành lập. Về vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan
thuộc Chính phủ có nhiều điểm khác với Bộ, cơ quan ngang Bộ - là những cơ
quan của Chính phủ.
2.Vị trí của Chính phủ:
Theo Điều 109 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi), Chính phủ nước CHXHCN
Việt Nam là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính nhà nước cao
nhất của nước CHXHCN Việt Nam. Như vậy, vị trí của Chính phủ được xác định
vừa trong quan hệ với Quốc hội – cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, vừa
trong quan hệ với cả bộ máy nhà nước, bộ máy hành chính nhà nước.
- Trong quan hệ với Quốc hội, Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội.
Chính phủ phải tổ chức thực hiện Hiến pháp, Luật, Nghị quyết của Quốc hội,
Pháp lệnh, Nghị quyết của UBTV Quốc hội; chịu sự giám sát của Quốc hội, và
báo cáo hoạt động của mình trước Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.
- Trong quan hệ với bộ máy nhà nước và bộ máy hành chính nhà nước, Chính
phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước CHXHCN Việt Nam, là
cấp cao nhất toàn bộ hệ thống hành chính nhà nước từ trung ương đến địa
3
phương; Chính phủ thống nhất quản lý toàn bộ hoạt động hành chính của bộ máy
nhà nước. Tuy vị trí của Chính phủ được xác định trong hai quan hệ, nhưng xét
về nội dung là thống nhất với nhau: chấp hành của Quốc hội cùng là thực hiện
quyền hành chính nhà nước cao nhất; là một thiết chế chính trị - hành chính.
3.Vai trò của Chính phủ:
Vai trò của Chính phủ thể hiện thông qua việc thực hiện chức năng nhiệm vụ,
quyền hạn của Chính phủ, của Thủ tướng Chính phủ, cụ thể:
Chính phủ thống nhất quản lý việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế,
văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại của Nhà nước từ TW đến cơ
sở; bảo đảm việc tôn trọng và chấp hành Hiến pháp và pháp luật; phát huy quyền
làm chủ của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc, bảo đảm ổn
định và nâng cao đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân.
lĩnh vực theo hướng một vụ được giao nhiều việc, một việc không giao cho nhiều
vụ.
+ Cục được tổ chức để thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước chuyên ngành
thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ. Cục thành lập phòng và đơn vị trực
thuộc. Cục có con dấu và tài khoản riêng.
+ Tổng cục được tổ chức để thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước chuyên
ngành lớn, phức tạp, không phân cấp cho địa phương, do Bộ trực tiếp phụ trách
và theo hệ thống dọc từ TW đến địa phương trong phạm vi toàn quốc. Cơ cấu tổ
chức Tổng cục, bao gồm: cơ quan Tổng cục (gồm văn phòng, ban và đơn vị trực
thuộc); Cục ở cấp tỉnh, chi cục (ở cấp huyện nếu có). Tổng cục có con dấu và tài
khoản riêng.
+ Tổ chức sự nghiệp thuộc Bộ được thành lập để phục vụ quản lý nhà nước
của Bộ hoặc để thực hiện một số dịch vụ công; tổ chức sự nghiệp của Bộ không
có chức năng quản lý nhà nước.
III. Chính quyền địa phương và cơ quan hành chính nhà nước ở địa
phương của Nhà nước CHXHCN Việt Nam.
1. Vị trí, vai trò chính quyền địa phương và cơ quan hành chính nhà
nước ở địa phương.
- Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân và vì dân, tất cả quyền lực nhà
nước thuộc về nhân dân; quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối
5
hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành
pháp, tư pháp.
- Chính quyền địa phương được thành lập đặt dưới sự lãnh đạo và phục tùng
tuyệt đối chính quyền trung ương. Nhiệm vụ, quyên hạn của chính quyên địa
phương dựa trên cơ sở pháp luật được phân cấp để thực hiện chức năng quản lý
nhà nước ở địa phương. Chính quyền địa phương tuyệt đối không phải là một
“nhà nước con” trong nhà nước thống nhất. Nhưng nhà nước ta là một nhà nước
dân chủ, nhân dân làm chủ không phải chỉ trên phạm vi cả nước thông qua Quốc
hội mà còn làm chủ trong phạm vi đơn vị hành chính – lãnh thổ các cấp được
không nhất thiết phải là đại biểu HĐND. Kết quả bầu các thành viên UBND phải
được Chủ tịch UBND cấp trên trực tiếp phê chuẩn; kết quả bầu cử các thành viên
UBND cấp tỉnh phải được Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn. Số lượng thành viên
UBND các cấp gồm:
- UBND cấp tỉnh có từ 9 đến 11 thành viên (riêng thành phố Hà Nội và TP
HCM có không quá 13 thành viên).
- UBND cấp huyện có từ 7 đến 9 thành viên.
- UBND cấp xã có từ 3 đến 5 thành viên.
UBND các cấp là cơ quan thẩm quyền chung (thẩm quyền trên nhiều lĩnh
vực) được tổ chức thành hai thiết chế thẩm quyền: thiết chế tập thể UBND và
thiết chế người đứng đầu UBND là Chủ tịch UBND.
Các cơ quan chuyên môn của UBND là cơ quan tham mưu, giúp UBND cùng
cấp thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương và thực hiện một số
nhiệm vụ, quyền hạn theo sự uỷ quyền của UBND cùng cấp và theo quy định của
pháp luật; góp phần bảo đảm sự thống nhất quản lý của ngành hoặc lĩnh vực công
tác từ TW đến cơ sở.
Cơ quan chuyên môn của UBND chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế
và công tác của UBND cùng cấp, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra về nghiệp
vụ của cơ quan chuyên môn cấp trên./.
Kết luận
Phần này tự mọi người nghiên cứu ở địa phương để kết luận
7