MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
MỤC LỤC...........................................................................................................1
I, Khái niệm, đặc điểm và đặc điểm tổ chức bộ máy hành chính nhà
nước......................................................................................................................3
1, Khái niệm:.......................................................................................................3
2, Đặc điểm:.........................................................................................................3
II, THỰC TRẠNG TỔ CHỨC BỘ MÁY HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC...7
1, Thành tựu của tổ chức bộ máy hành chính nước ta................................7
2, Những tồn tại yếu kém trên do nhiều nguyên nhân:...............................8
3. Một số giải pháp.............................................................................................9
1
I, Khái niệm, đặc điểm và đặc điểm tổ chức bộ máy hành chính
nhà nước
1, Khái niệm:
Tổ chức bộ máy hành chính nhà nước là hệ thống các cơ quan nhà nước
có tư cách pháp nhân công quyền do cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp lập
ra nhằm quản lý các công việc hàng ngày của xã hội, cung cấp các dịch vụ công
thông qua hoạt động của công sở.
2, Đặc điểm:
Bộ máy hành chính nhà nước là một bộ phận quan trọng trong bộ máy nhà
nước được thành lập theo hiến pháp và pháp luật, để thực hiện quyền lực nhà
nước, có chức năng quản lý hành chính nhà nước trên tất cả các lĩnh vực của đời
sống xã hội. Vấn đề tổ chức chính quyền tự bản thân nó không phải là mục đích
mà là phương tiện, biện pháp đạt được các mục tiêu của quốc gia. Mục đích của
của tổ chức chính quyền nhằm phân bổ các nhiệm vụ chính quyền để chúng có
thể được thực hiện một cách có hiệu quả và kinh tế, giảm thiểu sự trung lặp và
thẩm quyền nhất định và có những mối quan hệ phối hợp trong thực thi công
việc được giao, đó là mối quan hệ trực thuộc trên-dưới, trực thuộc ngangdọc...Bộ máy hành chính nhà nước hoạt động thường xuyên, liên tục, hằng ngày
nhằm mục tiêu đưa quan điểm, chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước
vào cuộc sống của công dân và tổ chức đáp ứng sự vận động không ngừng của
đời sống xã hội. Chính điểm đặc thù này được coi là một cơ sở quan trọng trong
việc xác lập quy định về tổ chức và hoạt động, quy chế công chức, công vụ của
bộ máy hành chính nhà nước.
Xem xét tính đa dạng của các nước, mỗi nước phải chọn cho mình cơ cấu
tổ chức phù hợp với truyền thống hành chính và thực tiễn chính trị của mình.
Hướng hoàn thiện của tổ chức bộ máy hành chính Việt Nam hiện nay sau khi
thực hiện Chương trình cải cáh hành chính tổng thể từ năm 2001 đến nay cơ cấu
tổ chức của chính quyền trung ương ở nước ta hiện nay bao gồm: Chính phủ là
cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính cao nhất của nước
CHXHCN Việt Nam. Nhiệm vụ và quyền hạn của Chính phủ theo hiến pháp và
luật tổ chức chính phủ. Cơ cấu tổ chức của Chính phủ bao gồm các bộ (18), cơ
quan ngang bộ (4) và cơ quan trực thuộc Chính phủ (8). Thành viên Chính phủ
có Thủ tướng, các phó Thủ tướng (5), Bộ trưởng (18), thủ trưởng cơ quan ngang
bộ (4) và thủ trưởng các cơ quan trực thuộc Chính phủ (8). Bộ, cơ quan ngang
bộ là cơ quan của Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với
ngành hoặc lĩnh vực trong phạm vi cả nước, quản lý nhà nước các dịch vụ công
thuộc ngành, lĩnh vực. Bộ, cơ quan ngang bộ (gọi chung là bộ) được chia thành:
Bộ theo ngành, Bộ mang tính tổng hợp, Bộ theo lĩnh vưc. Cơ cấu tổ chức bộ
gồm: vụ, thanh tra, văn phòng bộ; cục, tổng cục (không nhất thiết các bộ đều
có); các tổ chức sự nghiệp. Cơ quan trực thuộc Chính phủ là một tổ chức do
Chính phủ thành lập nhằm thực hiện những chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn
do chính phủ quy định.
Trên cơ sở kinh nghiệm và lịch sử cụ thể của các nước khác nhau, cơ cấu
khoảng 11 bộ là đủ và thích hợp cho đa số các nước đang phát triển để thực hiện
khai minh bạch và khách quan trong hoạt động của các cơ quan điều tiết và yêu
cầu đối với Chính phủ phải bảo đảm hoạt động độc lập của các các cơ quan này,
đồng thời vẫn chịu sự điều chỉnh của cơ quan tư pháp.
Cũng giống như các nước dưới chính quyền trung ương là chính quyền
cấp dưới. Bộ máy hành chính nhà nước Việt Nam dưới cơ quan trung ương là
các cơ quan địa phương gồm: tỉnh, huyện , xã. Đước cơ cấu như sau:
Ủy ban nhân dân các cấp do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu ra, là cơ
quan chấp hành của Hội đồng nhân dân và là cơ quan hành chính nhà nước ở địa
phương. Ủy ban nhân dân có nhiệm vụ tổ chức và chỉ đạo việc thi hành hiến
pháp, luật; các văn bản của các cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết HĐND
cùng cấp. Thành viên của UBND các cấp bao gồm: Chủ tịch, các phó Chủ tịch,
ủy viên. UBND các cấp có các cơ quan chuyên môn giúp UBND cùng cấp thực
hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương và thực hiện một số nhiệm vụ
quyền hạn theo sự ủy quyền của UBND cùng cấp và theo quy định của pháp
luật. Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND và
hướng dẫn về tổ chức một số cơ quan chuyên môn để HĐND cấp tỉnh quyết
định phù hợp đặc điểm riêng của địa phương. Các cơ quan chuyên môn của
UBND cấp tỉnh là các đơn vị cấp sở (từ 20- 25), UBND cấp huyện là các phòng,
ban chức năng (10- 15). UBND cấp xã không có cơ quan chuyên môn, tham
mưu, tư vấn giúp UBND xã về chuyên môn do các công chức xã đảm nhận.
Điểm khác ở đây Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp được bầu gián tiếp
qua Hội đồng nhân dân các cấp, được Chính phủ phê duyệt. Hướng cải thiện
phải lựa chọn người đứng đầu Ủy ban nhân dân các cấp phải có năng lực thực sự
trong thực hiện chức năng điều hành, hoạt động điều hành của người đứng đầu
chính quyền địa phương hiện nay ở nước ta vẫn đang còn có sự can thiệp nhiều
về chính trị; Đảng chỉ nên định hướng trong hoạt động của chính quyền địa
phương các cấp, nhưng không nên một số công việc Đảng phải trực tiếp chỉ đạo.
II, THỰC TRẠNG TỔ CHỨC BỘ MÁY HÀNH CHÍNH NHÀ
triển khai xây dựng thực hiện chiến lược, quy họach, kế hoạch phát triển kinh tế
- xã hội của đất nước, chuyển từ chỉ đạo điều hành trực tiếp sang chỉ đạo điều
hành gián tiếpở tầm vĩ mô, điều hành của hệ thống hành chính bằng pháp luật,
thông qua các văn bản quy phạm pháp luật và văn bản hành chính .
Cơ cấu tổ chức bộ máy của Chính phủ và cơ quan hành chính các cấp
được sắp xếp, điều chỉnh tinh giản hơn trước, bộ máy hành chính từ trung ương
đến địa phương vận hành phát huy tác dụng hơn.
Việc quản lý, sử dụng cán bộ, công chức được đổi mới một bước theo
các quy định của pháp lệnh cán bộ, công chức từ khâu tuyển chọn đánh giá, thi
nâng ngạch bậc, đào tạo bồi dưỡng, chế độ chính sách tiền lương từng bước cải
cách theo hướng tiền tệ hóa.
2, Những tồn tại yếu kém trên do nhiều nguyên nhân:
Trước hết nhận thức của cán bộ công chức về vai trò và chức năng quản
lý của nhà nước, về xây dựng Bộ máy nhà nước nói chung và Bộ máy hành
chính nhà nước nói riêng trong tình hình mới, điều kiện mới chưa thật rõ ràng và
chưa thống nhất, còn nhiều vấn đề về lý luận và thực tiển chưa được làm sáng
tỏ, còn nhiều chủ trương chính sách, quy định của pháp luật ra đời trong cơ chế
tập trung quan liêu bao cấp chưa được kịp thời sửa đổi, thay thế.
Thứ hai, việc triển khai các nhiệm vụ về cải cách hành chính chưa được
tiến hành đồng bộ với đổi mới tổ chức và họat động của hệ thống chính trị do
Đảng lãnh đạo, cải cách hành chính chưa gắn bó chặt chẽ với đổi mới họat động
lập pháp và cải cách tư pháp.
Thứ ba, cải cách hành chính gặp trở ngại lớn do đụng chạm đến lợi ích
cục bộ của nhiều cơ quan hành chính, nhiều cán bộ, công chức trong bộ máy nhà
nước ở trung ương và địa phương; ảnh hưởng của cơ chế tập trung quan liêu bao
cấp còn đè năng lên nếp nghĩ cách làm của không ít cán bộ, công chức; cuộc cải
cách không được chuẩn bị tốt về mặt tư tưởng.
Thú tư, các chế độ chính sách về tổ chức và cán bộ, về tiền lương còn
của trung ưong.
- Bố trí lại cơ cấu tổ chức của Chính phủ gồm các bộ, cơ quan ngang Bộ
làm chức năng quản lý nhà nước. Trên cơ sở xác định điều chỉnh chức năng của
Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ phù hợp với yêu cầu quản lý nhà nước về
Chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội quốc phòng, an ninh và đối ngoại, về mối
quan hệ giữa các ngành các lĩnh vực trong tình hình mới. Điều chỉnh tổ chức các
cơ quan có chức năng quản lý nhà nước cho phù hợp với cơ cấu của Chính phủ;
giảm mạnh các cơ quan thuộc Chính phủ và tổ chức trực thuộc Thủ tướng Chính
phủ, chỉ duy trì một số cơ quan thuộc Chính phủ có tính chất chuyên môn,
nghiệp vụ phục vụ cho công tác quản lý vĩ mô của chính phủ. Định rõ tính chất
và phương thức họat động của các tổ chức tư vấn do Thủ tướng Chính phủ thành
lập, chỉ thành lập các tổ chức này khi có yêu cầu chỉ đạo tập trung những vụ việc
quan trọng liên quan đến nhiều ngành nhiều lĩnh vực, các tổ chức này không có
bộ máy chuyên trách và biên chế riêng, bộ phận thường trực đặt tại Bộ hoặc cơ
quan ngang Bộ có liên quan nhiều nhất. Trên cơ sở xác định đúng chức năng
quản lý nhà nước và phạm vi quản lý của mỗi Bộ, cơ quan ngang Bộ, tách chức
năng quản lý nhà nước của Bộ, cơ quan ngang Bộ đối với tòan ngành, lĩnh vực
trong phạm vi cả nước với việc chỉ đạo điều hành các tổ chức sự nghiệp có tính
chất dịch vụ công trực thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ .
- Điều chỉnh tổ chức bộ máy bên trong của Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ
quan thuộc Chính phủ. Tách chức năng quản lý nhà nước của Bộ, cơ quan ngang
Bộ đối với ngành trong phạm vi cả nước với chức năng điều hành các tổ chức sự
nghiệp công trực thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ; theo đó tách tổ chức hành chính
với tổ chức sự nghiệp công để họat động theo cơ chế riêng, có hiệu quả và phù
hợp, làm cho bộ máy tinh gọn, hợp lý tương xứng với chức năng nhiệm vụ quản
lý nhà nước của mổi cơ quan, định rõ tính chất và các lọai hình, tổ chức trực
thuộc để tham mưu và thực thi pluật .
-Về tổ chức bộ máy chính quyền địa phương: Xác định rõ chức năng