Phục lục
I.
CẦM CỐ TÀI SẢN:
Khái niệm:
Cầm cố tài sản là việc một bên (bên cầm cố) giao tài sản thuộc quyền
sở hữu của mình cho bên kia (bên nhận cầm cố) để đảm bảo thực hiện nghĩa
vụ dân sự (Điều 326 BLDS).
Việc giao tài sản có thể được thực hiện bằng cách chuyển giao vật từ
tay người này sang người khác (cầm giữ vật chất) hoặc bằng cách chuyển
giao tượng trưng dưới hình thức bàn giao giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu
tài sản (cầm giữ pháp lý).
2.
Tài sản dùng để cầm cố gồm:
• Động sản có giá trị chuyển nhượng, hoặc mua bán được dễ
dàng: Phương tiện vận tải, phương tiện đi lại, công cụ lao
động, máy móc thiết bị, vật tư hàng hóa và các động sản
khác…
• Giấy tờ trị giá được bằng tiền đang còn thời hạn hiệu lực
thanh toán: sổ tiết kiệm, kỳ phiếu trái phiếu…
• Kim loại, đá quý.
• Quyền tài sản phát sinh từ quyền tác giả, quyền sở hữu công
nghệp, quyền đòi nợ, các quyền tài sản khác phát sinh tử
hợp đồng hoặc từ các căn cứ pháp lý khác.
• Quyền đối với phần vốn góp trong doanh nghiệp.
• Quyền khai thác tài nguyên thiên nhiên theo quy định của
pháp luật.
• Tàu biển theo quy định của Bộ luật Hàng hải Việt Nam, tàu
bay theo quy định của Luật Hàng không dân dụng Việt Nam
trong trường hợp được cầm cố.
cầm cố;
• Cam kết của hai bên thực hiện nghĩa vụ của mình.
4.
Hiệu lực của cầm cố tài sản:
Cầm cố tài sản có hiệu lực từ thời điểm chuyển giao tài sản cho
bên nhận cầm cố (Điều 328)
Thời hạn cầm cố tài sản do các bên thỏa thuận. Trong trường
hợp không có thỏa thuận, thời hạn cầm cố được tính cho đến khi chấm
dứt nghĩa vụ được bảo đảm bằng cầm cố (Điều 329).
5.
Quyền và nghĩa vụ của các bên:
a.
Bên cầm cố tài sản:
i.
Nghĩa vụ:
Bên cầm cố tài sản có các nghĩa vụ sau đây:
+ Giao tài sản cầm cố cho bên nhận cầm cố theo đúng thoả thuận;
+ Báo cho bên nhận cầm cố về quyền của người thứ ba đối với tài
sản cầm cố, nếu có; trong trường hợp không thông báo thì bên nhận cầm cố
có quyền huỷ hợp đồng cầm cố tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại hoặc
duy trì hợp đồng và chấp nhận quyền của người thứ ba đối với tài sản cầm
cố;
+ Thanh toán cho bên nhận cầm cố chi phí hợp lý để bảo quản, giữ
gìn tài sản cầm cố, trừ trường hợp có thoả thuận khác.
Quyền:
+ Yêu cầu bên nhận cầm cố đình chỉ việc sử dụng tài sản cầm cố
trong trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 333 của Bộ luật Dân sự 2005,
nếu do sử dụng mà tài sản cầm cố có nguy cơ bị mất giá trị hoặc giảm sút
lại tài sản đó;
+ Yêu cầu xử lý tài sản cầm cố theo phương thức đã thoả thuận hoặc
theo quy định của pháp luật để thực hiện nghĩa vụ;
+ Được khai thác công dụng tài sản cầm cố và hưởng hoa lợi, lợi tức
từ tài sản cầm cố, nếu có thoả thuận;
+ Được thanh toán chi phí hợp lý bảo quản tài sản cầm cố khi trả lại
tài sản cho bên cầm cố.
6.
Xử lý tài sản cầm cố:
a.
Những trường hợp dẫn đến xử lý tài sản cầm cố :
+ Đến hạn thỏa thuận mà bên cầm cố không thực hiện hoặc
thực hiện không đúng nghĩa vụ
+ Tài sản đang cầm cố phải được xử lý để bảo quản thực hiện
một nghĩa vụ khác đã đến hạn;
+ Bên cầm cố bị tuyên bố phá sản hoặc giải thể;
+Các trường hợp khác do các bên thỏa thuận hoặc pháp luật
quy định.
Phương thức xử lý tài sản cầm cố:
b.
+ Thông thường là gán nợ.
+ Ngoài ra các bên có thể thỏa thuận phương án bán tài sản cầm
-
Quyền sử dụng đất mà pháp luật về đất đai quy định được thế chấp.
-
Hoa lợi, lợi tức, khoản tiền bảo hiểm và các quyền phát sinh từ bất động sản
thuộc tài sản thế chấp nếu các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định
-
Tàu biển, tàu bay theo quy định của pháp luật có liên quan
3
-
Hình thức, nội dung, thời hạn thế chấp tài sản
Ðiều 343.hình thức thế chấp:
Việc thế chấp tài sản phải được lập thành văn bản, có thể lập thành văn bản riêng
hoặc ghi trong hợp đồng chính.Trong trường hợp pháp luật có quy định thì văn bản
thế chấp phải được công chứng, chứng thực hoặc đăng ký.
- Nội dung: giống cầm đồ
-
Ðiều 344. Thời hạn thế chấp
Các bên thỏa thuận về thời hạn thế chấp tài sản; nếu không có thỏa thuận thì việc
thế chấp có thời hạn cho đến khi chấm dứt nghĩa vụ được bảo đảm bằng thế chấp.
tài sản hình thành từ số tiền thu được trở thành tài sản thế chấp thay thế cho số tài
sản đã bán.
Ðược bán, trao đổi, tặng cho tài sản thế chấp không phải là hàng hóa luân chuyển
trong quá trình sản xuất, kinh doanh, nếu được bên nhận thế chấp đồng ý.
Ðược cho thuê, cho mượn tài sản thế chấp nhưng phải thông báo cho bên thuê, bên
mượn biết về việc tài sản cho thuê, cho mượn đang được dùng để thế chấp và phải
thông báo cho bên nhận thế chấp biết;
Nhận lại tài sản thế chấp do người thứ ba giữ, khi nghĩa vụ được bảo đảm bằng thế
chấp chấm dứt hoặc được thay thế bằng biện pháp bảo đảm khác.
b Bên nhận thế chấp:
-
Ðiều 350. Nghĩa vụ của bên nhận thế chấp tài sản
Bên nhận thế chấp tài sản có các nghĩa vụ sau đây:
Trong trường hợp các bên thỏa thuận bên nhận thế chấp giữ giấy tờ về tài sản thế
chấp thì khi chấm dứt thế chấp phải hoàn trả cho bên thế chấp giấy tờ về tài sản thế
chấp;
Yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký giao dịch bảo đảm xoá đăng ký
trong các trường hợp quy định tại các điều 355, 356 và 357 của Bộ luật này.
- Ðiều 351. Quyền của bên nhận thế chấp tài sản
Bên nhận thế chấp tài sản có các quyền sau đây:
Yêu cầu bên thuê, bên mượn tài sản thế chấp trong trường hợp quy định tại khoản
5 Ðiều 349 của Bộ luật này phải chấm dứt việc sử dụng tài sản thế chấp, nếu việc
sử dụng làm mất giá trị hoặc giảm sút giá trị của tài sản đó;
Ðược xem xét, kiểm tra trực tiếp tài sản thế chấp, nhưng không được cản trở hoặc
gây khó khăn cho việc sử dụng, khai thác tài sản thế chấp;
Yêu cầu bên thế chấp phải cung cấp thông tin về thực trạng tài sản thế chấp;
• Nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng dân sự thì
tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc.
• Nếu bên nhận đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng dân sự
thì phải trả tài sản đặt cọc cho bên đặt cọc và một khoản tiền có giá trị
tương đương giá trị tài sản đặt cọc (bồi thường), trừ khi có thỏa thuận
khác.
3
IV.
KÝ CƯỢC
1. Khái niệm
Là việc bên thuê tài sản là động sản, giao cho bên cho thuê một khoản tiền
hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác trong một thời hạn để đảm bảo
lại việc trả lại tài sản thuê. (Điều 359 BLDS)
Theo quy định của điều này thì ký cược là việc bên thuê tài sản là động sản
giao cho bên thuê một khoản tiền hoặc kim khí quý hoặc vật có giá trị khác (lưu ý,
cũng như tài sản đặt cọc, tài sản ký cược không thể là quyền tài sản) trong một thời
hạn đề đảm bảo việc trả lại tài sản thuê. Do đó việc thuê bất động sản không áp
dụng chế định ký cược
*Ví dụ 1 : Khi chúng ta đi mua 1 bình ga du lich, hay 1 thùng bia chai, nếu chúng
ta không có vỏ bình ga, hoặc vỏ bia. Chủ cửa hàng thường bắt chúng ta đặt cược
lại tiền vỏ. Số tiền cược vỏ do chủ quán qui định. Số tiền này sẽ được giữ lại để
đảm bảo việc người mua, sẽ phải hoàn trả lại số vỏ kia. Số tiền này được gọi là tiền
kí cược.
2. Chủ thể
Bên giao tài sản để đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ gọi là bên kí cược.Bên giữ tài
sản để đảm bảo cho việc thực hiện nghĩa vụ là bên nhận kí cược.
Các bên trong quan hệ cầm cố có thể là cá nhân, pháp nhân hoặc các chủ thể khác
thỏa thuận. (Điều 30 Nghị định của chính phủ số 163/2006/ NĐ-CP về giao dịch
bảo đảm)
+
Quyền :
- Bên kí cược có quyền yêu cầu bên nhận kí cược ngừng việc sử dụng tài sản kí
cược nếu do sử dụng tài sản có nguy cơ bị mất giá trị hoặc giảm sút giá trị. (Điều
31 Nghị định của chính phủ số 163/2006/ NĐ-CP về giao dịch bảo đảm)
*
Quyền và nghĩa vụ của bên nhận ký cược:
+
Nghĩa vụ:
- Bảo quản, gìn giữ tài sản kí cược; không được khai thác, sử dụng tài sản đó, trừ
trường hợp có thỏa thuận khác.
- Không được xác lập giao dịch đối với tài sản kí cược trừ trường hợp bên ký cược
đồng ý (. (Điều 32 Nghị định của chính phủ số 163/2006/ NĐ-CP về giao dịch bảo
đảm)
+
Quyền:
- Có quyền sở hữu tài sản kí cược trong trường hợp tài sản thuê không còn để trả
lại cho bên nhận kí cược, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. (. (Điều 33 Nghị định
của chính phủ số 163/2006/ NĐ-CP về giao dịch bảo đảm)
*
Việc xử lý tài sản ký cược:
Trường hợp 1: Trong trường hợp nếu bên thuê không trả lại tài sản thuê thì
bên cho thuê có quyền đòi lại tài sản cho thuê chứ tài sản ký cược không đương
nhiên thuộc sở hữu của bên cho thuê.
Trường hợp 2: Trong trường hợp bên thuê trả lại tài sản thuê thì bên thuê
được nhận lại tài sản ký cược, nhưng được trừ đi tiền thuê chưa trả
(nếu có)
Trường hợp 3: trong trường hợp bên thuê cố tình không trả lại tài sản thuê
Có sự chuyển giao tài sản bảo đảm
-
Tài sản bảo đảm có giá trị thanh khoản cao
- Áp dụng đối với hợp
đồng thuê tài sản là động
sản
- chủ yếu chuyển giao tài
sản ký cược dưới dạng
tiền để sử dụng tài sản
thuê;
- xử lý tài sản ký cược khi
có sự vi phạm nghĩa vụ:
tài sản ký cược được
chuyển quyền sở hữu sang
bên thuê.
- Áp dụng đối với tất cả
các giao dịch dân sự
- chủ yếu chuyển giao tài
sản dưới dạng vật để
được nhận lợi ích vật
chất dưới dạng tiền.
- xử lý tài sản cầm cố khi
có sự vi phạm nghĩa vụ:
theo thoả thuận hoặc bán
đấu giá theo quy định
hiện hợp đồng.
- Hậu quả bất lợi chỉ áp
dụng cho bên thuê tài
sản nếu vi phạm nghĩa
vụ trả lại tài sản thuê
- hậu quả bất lợi được
áp dụng với cả 2 bên
trong quan hệ nếu có
lỗi: phải mất một khoản
tiền tương đương giá trị
tài sản đặt cọc.
KÝ QUỸ
Theo định tại điều 360 của bộ luật dân sự thì:
1.Khái niệm:
Ký quỹ là việc bên có nghĩa vụ gửi một khoản tiền hoặc kim khí quí, đá quí hoặc
giấy tờ có giá khác vào tài khoản phong toả tại một ngân hàng để bảo đảm việc
thực hiện nghĩa vụ dân sự.
2. Trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng
nghĩa vụ thì bên có quyền được ngân hàng nơi ký quỹ thanh toán, bồi thường thiệt
hại do bên có nghĩa vụ gây ra, sau khi trừ chi phí dịch vụ ngân hàng.
3. Thủ tục gửi và thanh toán do pháp luật về ngân hàng quy định .
4. Hình thức:
Việc kí quỹ phải được lập thành văn bản.
Ví dụ: Công ty A và công ty B đang giao kết một hợp đồng về mua bán gỗ trị giá
1 tỷ. Để đảm bảo hợp đồng được thực hiện thì theo thõa thuận của đôi bên công ty
A phải kí quỹ số tiền là 300 triệu đồng vào một tài khoản ở ngân hàng X và phong
tỏa tài khoản này lại trong suốt quá trình thực hiện hợp đồng .Và giấy tờ có liên
với bên
có quyền được ngân hàng thanh toán, bồi thường thiệt hại.
Điều 38. Quyền của bên ký quỹ
Bên ký quỹ có quyền yêu cầu ngân hàng nơi ký quỹ hoàn trả tài sản ký quỹ sau khi
trừ chi phí dịch vụ ngân hàng và số tiền đã thanh toán theo yêu cầu của bên có
quyền được ngân hàng thanh toán, bồi thường thiệt hại khi chấm dứt.
Điều 39. Nghĩa vụ của bên có quyền được ngân hàng thanh toán, bồi thường thiệt
hại
Bên có quyền được ngân hàng thanh toán, bồi thường thiệt hại có nghĩa vụ thực
hiện theo đúng thủ tục khi yêu cầu ngân hàng nơi ký quỹ thanh toán.
Điều 40. Quyền của bên có quyền được ngân hàng thanh toán, bồi thường thiệt hại
Bên có quyền được ngân hàng thanh toán, bồi thường thiệt hại có quyền yêu cầu
ngân hàng nơi ký quỹ thanh toán đầy đủ, đúng hạn.
Vídụ: Để kí kết được hợp đồng mua nguyên liệu làm bánh mì,theo thõa thuận của
đôi bên, công ty A phải kí quỹ tại ngân hàng X số tiền là 200 triệu đồng (ngân
hàng theo yêu cầu của công ty B) thì công ty B mới chấp nhận bán cho công ty A.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng,công ty A không chịu nhận hàng nữa mà mua
hàng của một đối tác khác có giá rẻ hơn.Việc làm này gây thiệt hại cho công ty B.
Do đó, công ty B đã yêu cầu ngân hàng mở tài khoản phong tỏa và thanh toán thiệt
hại cho mình số tiền là 150 triệu.Sau khi đã trừ đi dịch vụ chí phí ngân hàng là 10
triệu,còn lại là 40 triệu đồng.Thì số tiền 40 triệu đồng còn lại đó ngân hàng có
nghĩa vụ phải trả lại cho công ty A.
VI.
BẢO LÃNH
1. Khái niệm:
Bảo lãnh là việc người thứ ba (sau đây gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên có
bảo lãnh, cũng không yêu cầu về tư cách chủ thể hoặc tài sản của bên bảo lãnh.
Ðây là yếu tố khá thuận lợi giúp các bên tự do lựa chọn hình thức này. Trên thực
tế, không phải lúc nào bên đi vay cũng có đủ tài sản để cầm cố hay thế chấp đảm
bảo trả nợ khi đến hạn. Do vậy, quy định mở về sự tham gia của bên thứ ba sẽ giúp
cho nhiều tổ chức, cá nhân có khả năng được vay vốn, tháo gỡ khó khăn, còn bên
bảo lãnh cũng không bị ràng buộc quá nhiều trách nhiệm pháp lý theo luật khi giao
kết giao dịch bảo đảm (trừ trường hợp bên bảo lãnh phải cầm cố, thế chấp tài sản
của mình và/hoặc phải đăng ký giao dịch bảo đảm để đảm bảo nghĩa vụ bảo lãnh
theo thỏa thuận của các bên).
- Thứ hai, chế tài về tài sản đối với bên bảo lãnh khi bên được bảo lãnh không có
khả năng thực hiện nghĩa vụ đến hạn. Ðiều này tạo sự yên tâm cho tổ chức tín dụng
khi chấp nhận cho một tổ chức, cá nhân nào đó vay tiền khi có người bảo lãnh.
- Thứ ba, sự ràng buộc trách nhiệm của bên bảo lãnh được pháp luật quy định rất
chặt chẽ và thiên về hướng có lợi cho người nhận bảo lãnh.
VII. TÍN CHẤP
1. Khái niệm tín chấp:
Tín chấp là việc tồ chức chính trị - xã hội tại cơ sở bằng uy tín của mình bảo
đảm cho cá nhân, hộ gia đình nghèo vay một khoản tiền tại tổ chức tín dụng để sản
xuất, kinh doanh, làm dịch vụ.
2. Xác lập biện pháp tín chấp:
Tín chấp đã tồn tại trong BLDS năm 1995. Ở đây tín chấp được coi là một
bộ phận của bảo lãnh. Ngày nay tín chấp được coi là biện pháp bảo đảm độc lập
với bảo lãnh; bảo lãnh và tín chấp thuộc hai mục khác nhau của BLDS. Sự thay đổi
nay là rất thuyết phục bởi lẽ “khác với việc cá nhân, tổ chức dùng tài sản thuộc
quyền sở hữu cùa mình để bảo lãnh cho người có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ, các
tổ chức chính trị - xã hội dùng uy tín của mình để bảo đảm cho việc thực hiện
nghĩa vụ của người có nghĩa vụ”.
Theo điều 372 của BLDS “tổ chức chính trị - xã hội tại cơ sở có thể bảo đảm
có quyền yêu cầu tổ chức chính trị - xã hội bảo đảm bằng tín chấp phối hợp trong
việc kiểm tra sử dụng vốn vay và đôn đốc trả nợ” (Điều 53 và 54).
Về đối tượng được vay, BLDS chỉ đề cập đến “cá nhân, hộ gia đình nghèo”.
Theo nghị định 163 năm 2006 “cá nhân, hộ gia đình nghèo được đảm bảo bằng tín
chấp phải là thành viên của một trong các tổ chức chính trị - xã hội”. Những người
này có nghĩa vụ:
• Sử dụng vốn vay đúng mục đích đã cam kết
• Tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức tín dụng và tổ chức chính trị - xã hội
kiểm tra việc sử dụng vốn vay
• Trả nợ đầy đủ gốc và lãi vay đúng hạn cho tổ chức tín dụng.
(Điều 55)
Hiện nay BLDS chưa rõ về vai trò cụ thể của tổ chức đứng ra bảo đảm bằng
tín chấp. Nghị định 163 quy định chi tiết hơn về quyền và nghĩa vụ của tồ chức
chính trị - xã hội đứng ra tín chấp. Ở đây, những tổ chức này có nghĩa vụ:
• Xác lập theo yêu cầu của tổ chức tín dụng về điều kiện, hoàn cảnh của cá
nhân, hộ gia đình nghèo khi vay vốn tại tổ chức tín dụng đó
• Chủ động hay phối hợp chặt chẽ với tổ chức tín dụng giúp đỡ, hướng dẫn,
tạo điều kiện cho cá nhân, hộ gia đình nghèo vay vốn; giám sát việc sử dụng
vốn vay đúng mục đích, có hiệu quả; đôn đốctrả nợ đầy đủ, đúng hạn cho tổ
chức tín dụng.
(Điều 51)
Những tổ chức này “có quyền từ chối bảo đảm bằng tin chấp, nếu xét thấy
cá nhân, hộ gia đình nghèo không có khả năng sử dụng vốn vay để sản xuất, kinh
doanh, làm dịch vụ và trả nợ cho tổ chức tín dụng” (Điều 52).