BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
…………/………..
BỘ NỘI VỤ
.…/….
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
HOÀNG THỊ THÚY VÂN
NĂNG LỰC CÔNG CHỨC TƯ PHÁP - HỘ TỊCH
CẤP XÃ HUYỆN GIA VIỄN, TỈNH NINH BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
HÀ NỘI – 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
…………/…………
BỘ NỘI VỤ
……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
HOÀNG THỊ THÚY VÂN
NĂNG LỰC CÔNG CHỨC TƯ PHÁP - HỘ TỊCH
CẤP XÃ HUYỆN GIA VIỄN, TỈNH NINH BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
Hoàng Thị Thúy Vân
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng
Bảng 1
Bảng 2
Bảng 3
Nội dung
Kỹ năng của công chức Tư pháp hộ tịch được thể hiện thông qua việc đánh giá của
đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở về các kỹ năng cơ bản của đội ngũ công chức tư
pháp hộ tịch cấp xã của huyện Gia Viễn.
Đánh giá của cán bộ chủ chốt cấp cơ sở về quan hệ của công chức tư pháp hộ tịch
với đồng nghiệp và nhân dân tại Ủy ban nhân dân cấp xã huyện Gia Viễn tỉnh Ninh
Bình.
Năng lực của công chức tư pháp hộ tịch còn được đánh giá thông qua người dân
địa phương.
Trang
49
50
51
7
năng, nhiệm vụ theo đúng pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá
nhân, tổ chức, để thực hiện trọng trách là "công bộc" của nhân dân.
Xuất phát từ vị trí quan trọng của chính quyền cơ sở cấp xã, một trong
những nhiệm vụ quan trọng được Đảng và Nhà nước ta quan tâm là vấn đề về
năng lực công chức cấp xã, đặc biệt là công chức Tư pháp- Hộ tịch cấp xã.
Với vị trí là một bộ phận của công tác quản lý nhà nước, công tác tư pháphộ tịch cấp xã chủ yếu quản lý các hoạt động phát sinh trong phạm vi ở cơ sở
hoặc chỉ được tiến hành ở cấp cơ sở. Tuy nhiên, khối lượng công việc lớn và
không ngừng gia tăng do sự gia tăng dân số và tính chất ngày càng phức tạp của
các quan hệ xã hội đòi hỏi phải có một đội ngũ công chức tư pháp hộ tịch vừa có
phẩm chất đọ đức tốt, vừa có năng lực trình độ chuyên môn cao, có kỹ năng
quản lý, vận hành bộ máy hành chính để thực hiện có hiệu quả các chủ trương,
đường lối, chính sách pháp luật của Nhà nước. Trong những năm gần đây, Đảng
và Nhà nước ta ban hành nhiều chủ trương chính sách về công chức xã, phường,
thị trấn nói chung và công chức tư pháp hộ tịch nói riêng nhằm củng cố, đổi
mới, phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của công tác Tư pháp- Hộ tịch.
Tuy nhiên trên thực tế, năng lực công chức Tư pháp –Hộ tịch cấp xã, đặc biệt là
ở các vùng nông thôn, miền núi tương đối thấp, không tương xứng với vị trí vai
trò của họ cũng như không đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn chức danh theo quy
định của Nhà nước. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu lực, hiệu quả hoạt
động của chính quyền cơ sở, nghiêm trọng hơn vẫn là dẫn đến nhiều sai phạm,
mất lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, gây ra tình trạng mất ổn
định cục bộ tại địa phương. Vì vậy, việc nâng cao năng lực công chức Tư phápHộ tịch, một bộ phận của UBND cấp xã, một mắt xích quan trọng của ngành tư
pháp là một yêu cầu cấp thiết hiện nay.
Huyện Gia Viễn là 1 trong 8 huyện thuộc tỉnh Ninh Bình. Hiện nay huyện
Gia Viễn có 20 xã và 1 thị trấn. Huyện Gia Viễn là một trong những huyện
nghèo của tỉnh Ninh Bình. Tuy nhiên trong những năm gần đây với sự quan tâm
chỉ đạo của Đảng Uỷ huyện, Hội đồng nhân dân và sự gương mẫu đi đầu đội
quyền cấp xã ở Việt Nam hiện nay – những vấn đề lý luận và thực tiễn, Sách
chuyên khảo, Nxb Chính trị - Hành chính, Hà Nội.
TS. Nguyễn Thị Hồng Hải, Một số vấn đề về phát triển năng lực thực thi
9
công vụ của công chức nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính, Tham luận
tại Hội thảo: Học viện Hành chính, Cải cách hành chính nhà nước ở Việt Nam
dưới góc nhìn của các nhà khoa học, kỷ yếu hội thảo.
Những công trình nghiên cứu này cung cấp cơ sở lý luận, các quan điểm
về phương pháp, tiêu chuẩn đánh giá thực thi công vụ của công chức. Tuy nhiên,
chưa có công trình nào nghiên cứu về công chức cấp xã theo Luật CB, CC và
những quy định mới của Chính phủ về công chức cấp xã cũng như đánh giá
năng lực thực thi công vụ của công chức xã.
Năng lực công chức cấp xã luôn là yêu cầu đặt ra trong mọi giai đoạn lịch
sử. Đây là vấn đề hết sức đặc biệt và cần thiết trong quá trình đổi mới, hội nhập
và nhất là nước ta đang tiến hành cải cách hành chính. Trong quá trình xây dựng
nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa “dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủcông bằng-văn minh” đòi hỏi người cán bộ cơ sở phải có năng lực thực sự để
đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đặt ra. Công chức Tư pháp hộ tịch là một trong
những chức danh chuyên môn của UBND cấp xã, vì vậy năng lực của đội ngũ
công chức Tư pháp hộ tịch cấp xã vô cùng quan trọng, ảnh hưởng đến sự phát
triển chung của cả hệ thống quản lý hành chính nhà nước. Liên quan đến nội
dung về năng lực công chức cấp xã đã có một số các đề tài, bài viết, công trình
nghiên cứu có liên quan.
-
Viện khoa học pháp lý ( 2003), Lê Thị Thu Ba, Đội ngũ cán bộ tư pháp xã,
phường, thị trấn, thực trạng và phương hướng kiện toàn năng lực hoạt động.
-
chưa có đề tài nào tập trung nghiên cứu một cách có hệ thống từ lý luận đến thực
trạng năng lực công chức Tư pháp hộ tịch cấp xã huyện Gia Viễn tỉnh Ninh
Bình. Chính vì vậy việc lựa chọn đề tài “Năng lực công chức Tư pháp hộ tịch
cấp xã huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình” để làm luận văn thạc sĩ có ý nghĩa thực
sự cấp thiết trên địa bàn huyện Gia Viễn.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu, luận giải làm sáng tỏ về mặt lý luận và những vấn
đề về thực tiễn trên cơ sở đánh giá thực trạng năng lực công chức Tư pháp- Hộ
tịch cấp xã trên địa bàn huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình để đề xuất những
phương hướng, giải pháp góp phần nâng cao năng lực đối với công chức Tư
phap – Hộ tịch cấp xã của huyện Gia Viễn nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển, hội
nhập trong giai đoạn hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa một số vấn đề có tính chất lý luận và pháp lý về năng lực
của công chức Tư pháp - Hộ tịch cấp xã.
11
- Đánh giá thực trạng năng lực công chức Tư pháp- Hộ tịch cấp xã (thông
qua khảo sát thực tế tại các xã và thị trấn của huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình).
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực công chức Tư phápHộ tịch cấp xã.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Năng lực công chức Tư pháp- Hộ tịch cấp xã huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh
Bình.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Luận văn tập trung nghiên cứu năng lực công chức Tư pháp- Hộ tịch tại
1 thị trấn và 20 xã của huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình.
- Đánh giá năng lực công chức Tư pháp – Hộ tịch cấp xã huyện Gia Viễn,
Chương 3. Một số giải pháp nâng cao năng lực công chức Tư pháp Hộ tịch cấp xã trên địa bàn huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình.
13
Chương 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CÔNG CHỨC TƯ PHÁP- HỘ TỊCH
CẤP XÃ
1.1.
Công chức Tư pháp- Hộ tịch cấp xã
1.1.1. Khái niệm công chức Tư pháp- Hộ tịch cấp xã
Công chức được hình thành và gắn liền với sự phát triển của nền hành
chính nhà nước. Luật Cán bộ, công chức năm 2008 (có hiệu lực thi hành từ ngày
01 tháng 01 năm 2010) là một văn bản có giá trị pháp lý cao nhất từ trước đến
nay và đưa ra khái niệm về công chức, công chức cấp xã được rõ ràng hơn.
Tại Điều 4 luật Cán bộ, công chức năm 2008 quy định :
“Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào
ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà
nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ
quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân
chuyên nghiệp, công nhân Quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an
nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy
lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam,
Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp
công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công
chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương
được đảm bảo từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của
pháp luật”.
-
Tài chính – kế toán;
-
Tư pháp – hộ tịch;
-
Văn hóa – xã hội;
Cấp xã là đơn vị cơ sở của hệ thống chính quyền nhà nước. Công chức Tư
pháp – hộ tịch là một bộ phận trong công chức cấp xã, đóng vai trò quan trọng
đối với công tác quản lý nhà nước nói chung và ngành tư pháp nói riêng góp
phần đảm bảo sự thống nhất quản lý nhà nước về công tác Tư pháp- Hộ tịch từ
trung ương đến cơ sở. Công chức Tư pháp- Hộ tịch theo điều 81, Nghị định
158/2005/NĐ-CP về đăng ký và quản lý hộ tịch quy định về cán bộ Tư pháp- Hộ
tịch như sau:
Cán bộ Tư pháp- Hộ tịch là công chức cấp xã, giúp Ủy ban nhân dân cấp
xã thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn trong đăng ký và quản lý hộ tịch. Đối với
những xã, phường, thị trấn có đông dân cư, số lượng công việc hộ tịch nhiều, thì
phải có cán bộ chuyên trách làm công tác hộ tịch, không kiêm nhiệm các công
tác tư pháp khác.
Công chức Tư pháp- Hộ tịch là một trong 7 chức danh công chức cấp xã.
Điều 81 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP về đăng ký và quản lý hộ tịch quy định
về cán bộ Tư pháp- Hộ tịch cấp xã như sau:
Cán bộ Tư pháp- Hộ tịch là công chức cấp xã, giúp Ủy ban nhân dân cấp
xã thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn trong đăng ký và quản lý hộ tịch và công
tác tư pháp. (bỏ)
- Kiểm soát thủ tục hành chính;
- Quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính;
- Thực hiện nhiệm vụ xây dựng xã, phường, thị trấn tiếp cận pháp luật.
Cùng gắn với quy định nhiệm vụ của công tác tư pháp cấp xã, Điều 8
16
Thông tư liên tịch số 23/2014/TTLT-BTP-BNV cũng quy định trách nhiệm của
Uỷ ban nhân dân các cấp trong việc bảo đảm biên chế, bố trí công chức Tư
pháp- Hộ tịch theo đúng quy định của pháp luật, không bố trí công chức Tư
pháp- Hộ tịch kiêm nhiệm công tác khác.
1.1.2. Vị trí, vai trò của công chức Tư pháp- Hộ tịch cấp xã
Trong sự nghiệp cách mạng của Đảng ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói, “
Cán bộ là gốc của mọi việc” và “công việc thành công hay thất bại đều do cán
bộ tốt hay kém”. Ngay từ khi ra đời cũng như trong suốt quá trình lãnh đạo nhân
dân đấu tranh giành độc lập và xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Đảng ta
luôn coi trọng việc xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ ngang tầm với nhiệm
vụ là khâu then chốt, có ý nghĩa quyết định thắng lợi của sự nghiệp cách mạng.
Hơn nửa thế kỷ qua, đội ngũ cán bộ công chức của Nhà nước ta đã không
ngừng được củng cố và phát triển, trong đó, đội ngũ cán bộ cơ sở đã khẳng định
được vị trí, vai trò của mình trong việc “đem chính sách của Đảng, của Chính
phủ giải thích cho dân hiểu rõ và thi hành. Đồng thời đem tình hình của dân
chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để đặt chính sách cho đúng”.
Đội ngũ cán bộ cơ sở là những người trực tiếp đưa chủ trương đường lối, chính
sách của đảng, pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống. Thực tiễn cho thấy không
có đội ngũ cán bộ cơ sở tốt thì dù đường lối chính sách của Đảng và pháp luật
của Nhà nước có đầy đủ và đúng cũng khó có thể đi vào cuộc sống.
Với vị trí là một bộ phận của đội ngũ cán bộ chính quyền cơ sở, cán bộ Tư
pháp- Hộ tịch cấp xã phải đảm nhiệm một khối lượng công việc lớn và không
ngừng gia tăng để góp phần giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm trật tự kỷ
huyện và tỉnh, Tư pháp cấp xã không chỉ trực tiếp triển khai và thực hiện các
chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước về công tác
tư pháp mà còn là bộ phận tương tác trực tiếp với quyền và lợi ích của người
dân, thể hiện sự công bằng của pháp luật, quyền làm chủ của nhân dân, đánh giá
tính hiệu quả và phù hợp của các chính sách pháp luật. Chủ trương, đường lối,
chương trình, kế hoạch công tác của cơ quan tư pháp cấp trên chỉ được thực hiện
khi được triển khai chất lượng và hiệu quả tại cấp xã. Yêu cầu đổi mới và nâng
cao hiệu quả quản lý nhà nước bằng pháp luật, phát huy quyền làm chủ của nhân
dân, xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, khả thi và minh bạch đòi
18
hỏi các cấp, các ngành liên quan phải thường xuyên quan tâm nâng cao chất
lượng, hiệu quả thực hiện công tác tư pháp cấp xã một cách toàn diện từ tổ chức
bộ máy, cơ chế hoạt động đến đội ngũ cán bộ và các điều kiện, cơ sở vật chất,
trang thiết bị, kinh phí hoạt động... Để kiện toàn, củng cố, nâng cao chất lượng
hiệu quả hoạt động của cơ quan cấp xã nói chung và công tác tư pháp cấp xã nói
riêng, trên cơ sở Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân năm
2003, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 114/2003/NĐ-CP ngày 10 tháng 10
năm 2003 quy định cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn (Nghị định số
114/2003/NĐ-CP); Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22 tháng 10 năm 2009
quy định về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công
chức ở xã, phường, thị trấn, và những người hoạt động không chuyên trách ở
cấp xã (Nghị định số 92/2009/NĐ-CP); Quyết định số 04/2004/QĐ- BNV ngày
16 tháng 01 năm 2004 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ ban hành quy định tiêu chuẩn
cụ thể đối với cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn (Quyết định số
04/2004/QĐ-BNV). Đặc biệt, ngày 28 tháng 4 năm 2009, Bộ Tư pháp và Bộ Nội
vụ đã ban hành Thông tư liên tịch số 01/2009/TTLT-BTP-BNV hướng dẫn chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Tư pháp thuộc ủy ban nhân
dân cấp tỉnh, Phòng Tư pháp thuộc ủy ban nhân dân cấp huyện và công tác tư
tham gia công tác thi hành án dân sự trên địa bàn cấp xã;
Thực hiện nhiệm vụ công tác tư pháp, hộ tịch, chứng thực, chứng nhận và
theo dõi về quốc tịch trên địa bàn cấp xã theo quy định của pháp luật; phối hợp
với công chức Văn hóa - xã hội hướng dẫn xây dựng hương ước, quy ước ở
thôn, tổ dân phố và công tác giáo dục tại địa bàn cấp xã;
Chủ trì, phối hợp với công chức khác thực hiện công tác hòa giải ở cơ sở.
Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật chuyên ngành
và do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã giao
Ở cấp xã công chức Tư pháp - Hộ tịch tham mưu, giúp Uỷ bản nhân dân
cấp xã tổ chức thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật.
Theo quy định và thực tiễn công tác Tư pháp - Hộ tịch cấp xã hiện nay có
các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
- Giúp Uỷ bản nhân dân xã thực hiện quản lý nhà nước về công tác Tư
pháp - Hộ tịch xã.
Quản lý nhà nước về công tác tư pháp là sự tác động, điều chỉnh có tổ
20
chức bằng quyền lực nà nước đối với các quá trình vận động xã hội và hành vi
hoạt động của con người để duy trì phát triển mối quan hệ và trật tự xã hội trong
lĩnh vực pháp luật, tư pháp nhằm thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ công tác tư
pháp của nhà nước đặt ra trong công cuộc xây dựng, phát triển và bảo vệ tổ quốc
chủ nghĩa xã hội.
Để giúp Uỷ bản nhân dân xã quản lý nhà nước về công tác Tư pháp- Hộ
tịch, công chức Tư pháp- Hộ tịch cần căn cứ vào tình hình thực tế trên địa bàn,
sự chỉ đạo của Uỷ bản nhân dân xã và hướng dẫn của cơ quan tư pháp cấp trên
để thực hiện các công việc cụ thể:
+ Xây dựng chương trình, kế hoạch công tác tư pháp dài hạn và hàng năm
của xã để trình Uỷ bản nhân dân xã phê duyệt và tổ chức thực hiện các chương
trình, kế hoạch đó. Trong chương trình cần xác định rõ mục đích, yêu cầu, nội
+ Tổ chức lấy ý kiến nhân dân đóng góp vào các dự thảo văn bản quy
phạm pháp luật của nhà nước như các bộ luật, luật, pháp lệnh... theo sự chỉ đạo,
hướng dẫn của cơ quan nhà nước cấp trên.
+ Rà soát, hệ thống hóa các văn bản quy phạm pháp luật của địa phương
để phát hiện những văn bản mâu thuẫn, chồng chéo, không đảm bảo tính hợp
hiến, hợp pháp, tính đồng bộ, thống nhất. Từ đó kiến nghị với Uỷ bản nhân dân
xã có biện pháp xử lý đối với những văn bản trái pháp luật.
+ Giúp Uỷ bản nhân dân xã chỉ đạo, hỗ trợ các thôn, cụm dân cư xây
dựng hương ước có nội dung phong phú, thiết thực và phù hợp với quy định của
pháp luật hiện hành và chương trình, chính sách của đảng. Nhà nước, kiểm tra
việc tổ chức thực hiện hương ước, quy ước trên địa bàn.
- Tổ chức thực hiện chương trình kế hoạch tuyên truyền, phổ biến, giáo
dục pháp luật
Pháp luật của nhà nước là sự thể chế hóa đường lối, chủ trương, chính
sách của Đảng, thể hiện nguyện vọng, ý chí của nhân dân và phải được thực hiện
thống nhất trong cả nước. Để dân hiểu biết và tuân thủ pháp luật và giám sát
việc thự chiện pháp luật thì phải tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật. Phổ
biến, giáo dục pháp luật là khâu đầu tiên trong hoạt độngt hự thi pháp luật, là
cầu nối chuyển tải pháp luật vào cuộc sống và là biện pháp quan trọng để tăng
cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Giáo dục pháp luật nhằm hình thành lòng tin
vào pháp luật, thói quen và ý thức tôn trọng tuân thủ pháp luật cho mọi công
22
dân, nhằm phát huy vai trò, hiệu lực của pháp luật trong cuộc sống xây dựng và
bảo vệ tổ quốc.
Đối với cấp xã, công tác phổ biến giáo dục pháp luật càng có ý nghĩa đặc
biệt quan trọng. Bởi vì xã là đơn vị cơ sở trong hệ thống hành chính của nước ta,
là nơi tổ chức, triển khai thực hiện mọi chủ trương, chính sách của đảng, pháp
luật của nhà nước. Triển khai công tác phổ biến giáo dục pháp luật ở cấp xã là
tài liệu pháp luật theo quy định của pháp luật.
+ Định kỳ hàng năm kiểm kê sách báo, tài liệu pháp luật, lập báo cáo sáu
tháng, hàng năm theo yêu cầu về tình hình quản lý, khai thác tủ sách pháp luật.
- Thực hiện việc đăng ký và quản lý hộ tịch
Quản lý và đăng ký quản lý hộ tịch có vai trò quan trọng trong công tác
quản lý, thống kê dân số và quản lý xã hội của chính quyền cấp xã. Thông qua
quản lý và đăng ký hộ tịch Uỷ bản nhân dân xã có thể theo dõi thực trạng biến
động về hộ tịch nhằm kịp thời đảm bảo các quyền lợi ích hợp pháp của công
dân, thống kê, phân tích dân số, thu thập các thông số quan trọng về gia đình và
xã hội làm cơ sở cho việc hoạch định và xây dựng các chính sách phát triển kinh
tế xã hội, an ninh quốc phòng, chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình.
Trong luật hộ tịch năm 2016 tại khoản 1 điều 73 quy định trong lĩnh vực
hộ tịch, công chức Tư pháp- Hộ tịch cấp xã có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
Tuân thủ quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có
liên quan về hộ tịch;
Chịu trách nhiệm trước Ủy ban nhân dân cấp xã và pháp luật về việc đăng
ký hộ tịch;
Tuyên truyền, phổ biến, vận động nhân dân chấp hành các quy định của
pháp luật về hộ tịch;
Giúp Ủy ban nhân dân cấp xã đăng ký hộ tịch kịp thời, chính xác, khách
quan, trung thực; cập nhật đầy đủ các sự kiện hộ tịch đã được đăng ký vào Cơ sở
dữ liệu hộ tịch điện tử;
Chủ động kiểm tra, rà soát để đăng ký kịp thời việc sinh, tử phát sinh trên
địa bàn.
Đối với địa bàn dân cư không tập trung, điều kiện đi lại khó khăn, cách xa
24
trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã, công chức Tư pháp - Hộ tịch báo cáo Ủy ban
nhân dân cấp xã cho tổ chức đăng ký lưu động đối với việc khai sinh, kết hôn,