BỘ NỘI VỤ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI
KHOA VĂN THƯ – LƯU TRỮ
*********
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HỌC TẬP THEO
HỌC CHẾ TÍN CHỈ CỦA SINH VIÊN KHOA VĂN THƯ - LƯU TRỮ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI
Giảng viên hướng dẫn
Nhóm sinh viên thực hiện
: ThS. Đỗ Thu Hiền
: ĐH.LTH 13C
Hà Nội - 2016
MỤC LỤC
Định nghĩa trên đã nêu rất rõ trách nhiệm của sinh viên đối với việc học
tập theo hệ thống đào tạo tín chỉ, sinh viên có thể tự đăng ký, lựa chọn
học phần từ đó tạo nên tính chủ động cho sinh viên đối với quá trình học
tập của bản thân, đồng thời cũng chỉ rõ mục đích, chức năng những lợi
ích của hệ thống tín chỉ đối với sinh viên. Tuy nhiên, định nghĩa này
chưa đề cập đến khối lượng công việc cũng như nhiệm vụ mà sinh viên
cần thực hiện đối với từng môn học........................................................16
Học đại học chính là tự học đặc biệt trong học chế tín chỉ, tự học đóng
vai trò quan trọng, là yếu tố chủ chốt để việc học tập đạt kết quả cao tuy
nhiên trong định nghĩa này không hề nhắc đến vấn đề tự học, tự nghiên
cứu của sinh viên. Và nhất nhiều các định nghĩa của các trường đại học ở
học tập mà không phải học lại từ đầu. Học chế tín chỉ còn tạo ra một "ngôn
ngữ chung" giữa các trường đại học và cao đẳng; tạo điều kiện cho việc
chuyển đổi sinh viên giữa các trường trong nước và trên thế giới, rất thuận lợi
đối với các chương trình đào tạo liên kết.
Từ năm 1993, một số trường đại học ở nước ta đã bước đầu thực hiện
chuyển đổi việc đào tạo từ hình thức niên chế sang hình thức hệ thống tín chỉ
và có được những kết quả nhất định. Nghị quyết 14/2005/NQ-CP ngày
02/11/2005 của Chính phủ về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục đại học Việt
Nam giai đoạn 2006-2020 đã chỉ ra nhiệm vụ đổi mới nội dung, phương
pháp và quá trình đào tạo đại học, trong đó đổi mới đào tạo phải đạt được ba
mục tiêu: “Trang bị cách học; phát huy tính chủ động của người học; sử
dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong hoạt động dạy và học, . . .
Đồng thời xây dựng và thực hiện lộ trìnhchuyển sang chế độ đào tạo theo hệ
thống tín chỉ, tạo điều kiện thuận lợi để người học tích lũy kiến thức, chuyển
đổi ngành nghề, liên thông, chuyển tiếp tới các cấp học tiếp theo ở trong
nước và ngoài nước".
Thực hiện Nghị quyết trên, giai đoạn đầu Trường Đạic học Nội vụ Hà
Nội thực hiện việc chuyển đổi đào tạo từ niên chế sang tín chỉ, bắt đầu áp
dụng từ năm học 2014 – 2015. Việc áp dụng hình thức đào tạo tín chỉ còn rất
mới mẻ đối với giảng viên và sinh viên của trường, nhiều vấn đề mới cần phải
được xác định để nâng cao chất lượng đào tạo. Sau 1 kỳ học áp dụng mô hình
này, kết quả ban đầu cho thấy chất lượng học tập của sinh viên học theo tín
1
chỉ chưa đạt được như mong đợi mặc dù đây là hình thức đào tạo có nhiều ưu
điểm vượt trội so với hình thức đào tạo niên chế. Do đó, một câu hỏi lớn đặt
ra là: “Làm thế nào để dạy – học theo tín chỉ cho hiệu quả ?”.
Phần lớn sinh viên tỏ ra háo hức với mô hình dạy học mới này trong khi
đó số khác lại tỏ ra tiếc nuối mô hình cũ - dạy và học theo niên chế. Không
nâng cao chất lượng học tập của sinh viên theo học chế tín chỉ như:
GS. Lâm Quang Thiệp, Đại học Quốc gia Hà Nội (2006) “Về việc áp
dụng học chế tín chỉ trên thế giới và ở Việt Nam” đã chỉ ra những đặc điểm,
ưu, nhược điểm và cách khắc phục của phương thức đào tạo theo hệ thống tín
chỉ, đồng thời chỉ ra thực trạng đào tạo tín chỉ ở Việt Nam.
Nguyễn Công Danh (2008) “Những khó khăn của việc đào tạo theo hệ
thống tín chỉ” đã đưa ra được những khó khăn còn tồn tại trong đào tạo theo
hệ thống tín chỉ nước ta từ vấn đề quản lý đào tạo đến giảng dạy của giảng
viên và sinh viên. Lê Quang Sơn với “Những vấn đề của quản lý đào tạo theo
học chế tín chỉ ở Việt Nam” cũng đã chỉ rõ những vấn đề còn vướng mắc
trong quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ ở nước ta.
Dương Hiếu Đấu (2008) “Đổi mới phương pháp dạy học theo hệ thống
tín chỉ là bước phát triển tất yếu của giáo dục Việt Nam” hay PGS.TS Trần
Khánh Đức, Viện Sư phạm kỹ thuật – Trường ĐH Bách Khoa Hà Nội (2013)
“Phát triển chương trình và tổ chức quá trình đào tạo”. Đổi mới theo phương
pháp dạy học theo hệ thống tín chỉ là bước phát triển mạnh mẽ trong nền giáo
dục toàn thế giới do đó đây cũng là bước phát triển tất yếu của giáo dục Việt
Nam. Để hiểu rõ hơn về phương thức đào tạo này GS. Lâm Quang Thiệp
(2010) cũng có bài viết “Về phương pháp dạy, học và đánh giá kết quả học
tập trong hệ thống tín chỉ” giúp ích rất nhiều cho các cán bộ giảng viên cũng
như sinh viên trong cả nước.
PGS-TS Trần Thanh Ái, Đại học Cần thơ (2010) “Đào tạo theo hệ
thống tín chỉ: các nguyên lý, thực trạng và giải pháp”, tham luận tại Hội nghị
toàn quốc tổ chức tại Đại học Sài Gòn; TS Nguyễn Kim Dung, Viện Nghiên
cứu Giáo dục – Trường Đại học Sư phạm TPHCM “Đào tạo hệ thống tín chỉ:
Kinh nghiệm thế giới và thực tế ở Việt Nam”; PGS.TS Hoàng Văn Vân
“Phương thức đào tạo theo tín chỉ: lịch sử, bản chất, và những hàm ý cho
3
pháp nâng cao đào tạo tín chỉ một cách có hiệu quả trong phương thức đào
tạo tín chỉ của Việt Nam bao gồm: Nguyễn Mai Hương (2005), “Cải tiến
phương pháp học tập của sinh viên - yếu tố quan trọng để triển khai đổi mới
phương pháp giảng dạy ở đại học”, Tạp chí Phát triển Giáo dục, Viện Chiến
lược và Chương trình Giáo dục, số 3 (75), tháng 3/ 2005.Tôn Quang Cường,
Nguyễn Mai Hương (2008), “Vận dụng có hiệu quả các hình thức tổ chức dạy
học phù hợp với dạy học theo tín chỉ”, Tạp chí Khoa học Giáo dục, Viện
Chiến lược và Chương trình Giáo dục, số 29, tháng 2/2008.Nguyễn Mai
Hương, (2009), “Các điều kiện cần và đủ để triển khai đào theo học chế tín
chỉ ở bậc đại học”, Tạp chí Khoa học Giáo dục, Viện Chiến lược và Chương
trình Giáo dục, số 43 +44, tháng 4 + 5 /2009.Nguyễn Mai Hương, (2009),
“Hoạt động tự học của sinh viên trong phương thức đào tạo theo tín chỉ”, Tạp
chí Giáo dục, số 219, kỳ 1, tháng 8/2009.Nguyễn Mai Hương(2010), “Một số
vấn đề kỹ thuật trong việc triển khai học chế tín chỉ ở nước ta”, Tạp chí Giáo
dục, số 245, kỳ 1, tháng 9/2010.
Bên cạnh đó là các hội thảo khoa học như:
Hội thảo “Xây dựng chương trình đào tạo theo phương thức tín chỉ
ngành Văn hóa học” tổ chức vào ngày 16/04/2012 của Khoa Văn hóa học.
Hội thảo khoa học “Tổ chức giảng dạy theo học chế tín chỉ” do Khoa
Tài chính – Ngân hàng tổ chức ngày 16/11/2012 đã chỉ ra đổi mới phương
pháp giảng dạy là một trong những giải pháp quan trọng để nâng cao chất
lượng đào tạo theo phương thức học chế tín chỉ.
Hội thảo khoa học “Triển khai đào tạo theo hệ thống tín chỉ ngành kinh
doanh xuất bản phẩm” ngày 25 tháng 6 năm 2013 do khoa Xuất bản – Phát
hành tổ chức.
Hội thảo “Đào tạo theo học chế tín chỉ - Thuận lợi, khó khan và giải
pháp” do Đại học Dân lập Hải Phòng tổ chức ngày 22/07/2014.
Hội thảo “Vai trò cố vấn học tập trong đào tạo theo học chế tín chỉ tại
của phương thức đào tạo này.
Zjhra M. (2008) “Chuyển sang học chế tín chỉ: Cần thay đổi chương
trình đào tạo và vai trò của giáo viên”
6
Trên đây là một số các bài viết, hội thảo khoa học xoay quanh các vấn đề
thực hiện phương thức đào tạo theo tín chỉ trong các trường đại học, cao đẳng
đã chỉ ra được những ưu, nhược điểm của phương thức đào tạo này cũng như
những khó khăn thường gặp trong công tác quản lý, việc giảng dạy. Đồng thời
đưa ra những kiến nghị, phương hướng, giải pháp để hoàn thiện và nâng cao
chất lượng học tập khi đào tạo theo phương thức tín chỉ. Tuy nhiên, đề tài
nghiên cứu khoa học nhằm nâng cao hiệu quả học tập cho sinh viên của một
trường đại học (cụ thể là trường Đại học Nội vụ Hà Nội) chưa từng được thực
hiện. Do đó, đề tài của nhóm nghiên cứu đảm bảo tính mới trong nghiên cứu
khoa học nói chung.
3. Mục tiêu nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, nhóm nghiên cứu chúng tôi hướng tới những mục
tiêu sau:
− Nghiên cứu, đề xuất một số giải pháp và những điều kiện để thực
hiện giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả học tập của sinh viên khoa Văn thư –
Lưu trữ, trường Đại học Nội Vụ theo hình thức đào tạo tín chỉ của Nhà
trường.
− Góp phần nâng cao chất lượng học tập của sinh viên khoa Văn thư –
Lưu trữ đang theo học chương trình đào tạo theo học chế tín chỉ mới được áp
dụng tại trường Đại học Nội vụ Hà Nội.
− Góp phần hoàn thiện phương pháp quản lý đào tạo của Nhà trường
nhằm mục tiêu lớn nhất là nâng cao chất lượng học tập của sinh viên, đặc biệt
là sinh viên đang theo học chương trình đào tạo theo học chế tín chỉ.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
phương pháp cụ thể như:
- Phương pháp điều tra, khảo sát: được áp dụng để tìm hiểu thực trạng
của việc học tập của sinh viên khoa Văn thư – Lưu trữ đang theo học chương
trình đào tạo theo học chế tín chỉ.
- Phương pháp phỏng vấn đối tượng: được áp dụng để phỏng vấn sinh
viên, giảng viên và một số cán bộ phòng Quản lý đào tạo phục vụ việc phân
tích các yếu tố tác động tới quá trình học tập của sinh viên.
- Phương pháp nghiên cứu và phân tích tư liệu có liên quan: được áp
dụng để nghiên cứu và phân tích các tài liệu trong và ngoài nước để có thể
đưa ra những lập luận mang tính khoa học cao, từ đó nghiên cứu xây dựng
các giải pháp nâng cao chất lượng học tập của sinh viên một cách phù hợp,
khách quan và hiệu quả nhất.
- Phương pháp so sánh: được áp dụng để tìm ra những điểm tương đồng
8
và khác biệt giữa giữa cách thức triển khai áp dụng chương trình đào tạo tín
chỉ giữa trường Đại học Nội vụ Hà Nội và các trường đại học đã có kinh
nghiệm trong đào tạo tín chỉ.
9
Chương 1:
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỌC CHẾ TÍN CHỈ
1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của học chế tín chỉ
Trên thế giới
Phương pháp đào tạo theo hệ thống tín chỉ ra đời vào năm 1872 tại Đại học
Harvard, Hoa Kỳ và sau đó được lan tỏa tới các nước khác, trước hết là các
nước Tây Âu từ những năm 1960 và hiện nay đã phổ biến trên toàn thế giới.
dần dần thâm nhập vào các trường đại học, lúc đầu chỉ để ghi lại điểm số của
các môn học lựa chọn, sau đó, do áp lực của các nhà tài trợ, các tổ chức từ
thiện yêu cầu phải làm rõ hay cải thiện năng lực chuyên môn và kĩ năng nghề
nghiệp của sinh viên và hiệu quả đào tạo của trường đại học, hệ thống tín chỉ
được mở rộng ra tất cả các môn học thuộc các khối kiến thức khác trong
chương trình đại học và trở thành một phương thức đào tạo chính thức, thay
thế cho phương thức đào tạo truyền thống mà những thế hệ cha ông của người
Mỹ mang đến từ Châu Âu.[9]
Vượt ra ngoài biên giới nước Mỹ, đào tạo theo tín chỉ bắt đầu được áp
dụng mạnh mẽ trước hết ở các nước Tây Âu từ những năm 1960. Trước đó,
chương trình truyền thống trong các trường đại học ở Châu Âu, đặc biệt là ở
Tây Âu hầu như do giáo viên quyết định. Nó có xu hướng áp đặt, có rất ít khả
năng cho người học lựa chọn các môn học. Hơn 40 quốc gia Châu Âu có các
các cơ sở đào tạo đại học, vì vậy việc áp dụng phương thức đào tạo theo tín
chỉ cũng khác nhau.
Các nước khác ở Tây Âu như Đức và Bồ Đào Nha mới chỉ tổ chức
chương trình đào tạo của họ và những yêu cầu để lấy bằng theo các môn học
với những giá trị tính theo tín chỉ.
Các nước còn lại như Italia, Tây Ban Nha và các nước thuộc khối xã hội
chủ nghĩa cũ ở Đông Âu cũng bắt đầu chủ trương chuyển phương thức đào
tạo truyền thống sang phương thức đào tạo theo tín chỉ.
Năm 1992, Hệ thống chuyển đổi tín chỉ Châu Âu (European Credit
Transfer System – ECTS) được phát động. Đây là một chương trình thí điểm
kéo dài trong 6 năm, thu hút sự tham gia của 145 trường đại học, tập trung
vào 5 khu vực học thuật: quản trị kinh doanh, hóa học, lịch sử, cơ khí, và y
11
học. Sau 6 năm, ECTS phát triển mạnh và đã được mở rộng vượt ra khỏi
chương trình thí điểm, thu hút sự tham gia của nhiều trường đại học, nhiều
Cần Thơ, Đại học Thủy sản Nha Trang v...v... và một số trường đại học khác
áp dụng từ năm 1994 và các năm sau đó.
Năm 2004, có gần 10 trường đại học trong cả nước áp dụng học chế tín
chỉ với các sắc thái và mức độ khác nhau.(6)
Năm 2007, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành “Quy chế Đào tạo đại
học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ”[3]. Tuy nhiên, khi nhận
định về thực trạng chuyển đổi sang hệ thống tín chỉ hiện nay của các trường
đại học ở Việt Nam, một học giả của chương trình Fulbright cho rằng: “Các
trường đại học Việt Nam đang thực hiện việc chuyển đổi này sang học chế tín
chỉ, nhưng có rất ít trường tạo ra được những thay đổi có tính chất cơ bản vốn
rất cần cho việc đổi mới hệ thống giáo dục đại học của Việt Nam. Nhiều
trường chỉ đang thực hiện những thay đổi hình thức theo hệ thống mới…vì
không có nhiều nhà khoa học Việt Nam hiểu rõ lịch sử và cơ chế hoạt động
của hệ thống đào tạo theo tín chỉ Hoa Kỳ.” [11].
Năm 2011 là hạn cuối cùng để các trường đại học liên quan phải chuyển
đổi sang hệ thống đào tạo mới này. Thế nhưng, đến tận năm 2014 vẫn có một số
trường đại học mới bắt đầu thực hiện việc chuyển đổi sang hệ thống giáo dục
mới này, như: Đại học Văn Hiến, Đại học Nội vụ Hà Nội, Đại học Văn hóa...
1.2.Các khái niệm cơ bản
1.2.1. Khái niệm học chế tín chỉ
Phương pháp đào tạo theo hệ thống tín chỉ (hay gọi tắt là hệ thống tín
chỉ) là một phương thức đào tạo tiên tiến trong nền giáo dục của nhiều quốc
gia trên thế giới. Nó còn được gọi là học chế tín chỉ để phân biệt với các
phương pháp đào tạo ra đời trước nó như học chế niên chế, học chế học
phần.Trên thế giới phương pháp này được áp dụng ở cả giáo dục phổ thông và
giáo dục đại học.
Hệ thống đào tạo tín chỉ hay học chế tín chỉ xét về mặt thuật ngữ trên
thế giới được sử dụng: trong Tiếng Anh có tên là “Credit System”, Tiếng
Pháp là “Système de Crédit”. Với thuật ngữ này hệ thống tín chỉ còn gọi là hệ
13
14
cũng chưa thấy được sự chủ động, sáng tạo mà sinh viên cần có khi theo học
tín chỉ.
Tín chỉ được gắn vào các phần cấu thành chương trình giáo dục và việc
xác định tín chỉ trong hệ thống giáo dục đại học có thể dựa trên những tham
số khác nhau nhưng lại không nêu đó là những tham gia số gì. Với định nghĩa
này thì mỗi trường đại học có thể tự đề ra những tham số xác định tín chỉ tùy
theo điều kiện và ngành đào tạo của trường, sẽ không tạo nên sự thống nhất và
đồng bộ giữa các trường đại học. Tuy nhiên, điều này sẽ tạo tính linh động
trong việc đào tạo bởi mỗi ngành học khác nhau thì có đặc điểm khác nhau, có
ngành thiên về lý luận nhưng lại có ngành thiên về thực hành, thực tiễn thông
qua các thí nghiệm, trải nghiệm thực tế, tính toán… giúp giảng viên có thể
thiết kế bài học hợp lý, sinh viên học tập cũng dễ dàng hơn.
Định nghĩa trên cũng đã nhắc đến kết quả học tập cũng như số giờ tiếp
xúc giữa giảng viên và sinh viên.Trong học chế tín chỉ, sinh viên không chỉ
tiếp xúc với giảng viên trên lớp học mà sinh viên còn có cố vấn học tập, giúp
đỡ, tư vấn cho sinh viên ngoài giờ lên lớp. Khoảng thời gian này cũng sẽ
được tính vào số giờ tiếp xúc giữa giảng viên và sinh viên, nó sẽ ít nhiều ảnh
hưởng đến kết quả học tập của sinh viên. Đây cũng là định nghĩa được
Trường Đại học Pavol Jozef Šafárik tại Košice sử dụng khi giải thích về
Chuyển đổi tín chỉ Châu Âu và hệ thống tích lũy (ECTS).
Định nghĩa trên được sử dụng phổ biến ở các trường đại học trên thế
giới học tập, đào tạo theo hệ thống tín chỉ đặc biệt là các trường đào tạo theo
hệ thống Chuyển đổi tín chỉ Châu Âu và hệ thống tích lũy (ECTS).
Theo Alexandru Pop “Hệ thống tín chỉ học tập đánh giá tiến bộ của
sinh viên trong các nghiên cứu của họ.Sinh viên được yêu cầu để kiếm được
một số lượng nhất định của các khoản tín dụng để được hưởng tình trạng sinh
số ràng buộc được quy định trước) nhằm tích lũy từng phần và tiến tới hoàn
tất toàn bộ chương trình đào tạo, được cấp văn bằng tốt nghiệp”. (9)
Định nghĩa trên đã nêu rất rõ trách nhiệm của sinh viên đối với việc học
16
tập theo hệ thống đào tạo tín chỉ, sinh viên có thể tự đăng ký, lựa chọn học
phần từ đó tạo nên tính chủ động cho sinh viên đối với quá trình học tập của
bản thân, đồng thời cũng chỉ rõ mục đích, chức năng những lợi ích của hệ
thống tín chỉ đối với sinh viên. Tuy nhiên, định nghĩa này chưa đề cập đến
khối lượng công việc cũng như nhiệm vụ mà sinh viên cần thực hiện đối với
từng môn học.
Học đại học chính là tự học đặc biệt trong học chế tín chỉ, tự học đóng
vai trò quan trọng, là yếu tố chủ chốt để việc học tập đạt kết quả cao tuy nhiên
trong định nghĩa này không hề nhắc đến vấn đề tự học, tự nghiên cứu của sinh
viên. Và nhất nhiều các định nghĩa của các trường đại học ở Việt Nam cũng
như trên thế giới không đưa vào vấn đề này.
Còn theo TS. Nguyễn Kim Dung (Viện Nghiên cứu Giáo dục – Trường
Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh):“Hệ thống tín chỉ là một hệ thống được
sử dụng cho tất cả các thành phần (hay môn học) của một chương trình học.
Tất cả số lượng tín chỉ gộp lại sẽ giúp sinh viên có được bằng cử nhân, thạc
sĩ, tiến sĩ hay một bằng cấp chuyên môn nào đó. Tín chỉ được dùng đo lường
khối lượng công việc của một sinh viên theo các hoạt động học tập đã được
lên kế hoạch như lên lớp nghe giảng, tham dự seminar hoặc tự học v.v… Các
tiêu chí này quyết định các đặc trưng cụ thể của các hệ thống tín chỉ khác
nhau trong những khóa học gần giống nhau trên thế giới”7
Định nghĩa của TS.Nguyễn Kim Dung lại nhấn mạnh vào các văn bằng,
chứng chỉ mà sinh viên nhận được sau quá trình học. Nếu hiểu theo nguyên
tắc hoàn trả nghĩa là tất cả số tín chỉ sinh viên tích lũy trong quá trình học sẽ
được đổi lại bằng các văn bằng, chứng chỉ tương đương. Ngoài ra, trong định
bắt đầu được xét vào chuyên ngành đã đăng ký và công bố sau 3 học kỳ.
− Học kỳ và năm học
Học kỳ là một khoảng thời gian nhất định gồm một số tuần dành cho
các hoạt động giảng dạy học tập các học phần và một số tuần dành cho việc
đánh giá kiến thức (kiểm tra, thi,...).
Một năm học có hai học kỳ chính, mỗi học kỳ chính có ít nhất 15 tuần
18
thực học và 3 tuần thi.Ngoài hai học kỳ chính, Hiệu trưởng xem xét quyết
định tổ chức thêm một kỳ học phụ để sinh viên có điều kiện được học lại; học
bù hoặc học vượt.Mỗi học kỳ phụ có ít nhất 5 tuần thực học và 1 tuần thi.
− Tín chỉ
Tín chỉ là đơn vị quy chuẩn dùng để lượng hoá khối lượng kiến thức và
khối lượng học tập giảng dạy trong quy trình đào tạo. Tín chỉ cũng là đơn vị
để đo lường tiến độ học tập của sinh viên – đánh giá dựa trên số lượng tín chỉ
sinh viên đã tích lũy được.
− Học phí tín chỉ
Học phí được xác định căn cứ theo số học phần mà sinh viên được xếp
thời khóa biểu trong học kỳ và bằng tổng số tín chỉ quy định cho các học phần
nhân với mức thu học phí/ 1 tín chỉ. Mức học phí do Hiệu trưởng nhà trường
quy định cho từng bậc học và từng hệ đào tạo của học kỳ tương ứng.
− Học phần
Học phần là đơn vị cấu thành chương trình đào tạo, gồm tập hợp những
tri thức về một lĩnh vực chuyên môn và được tổ chức giảng dạy trọn vẹn trong
một học kỳ. Hoạt động học tập giảng dạy của một học phần bao gồm một hay
kết hợp một số trong các hình thức sau:
+ Giảng dạy lý thuyết – tổ chức thành các lớp học phần;
+ Giảng dạy, hướng dẫn thực hành, bài tập – tổ chức theo lớp hay theo
− Học phần trước
Học phần A là học phần trước của học phần B, khi điều kiện bắt buộc
để đăng ký học học phần B là sinh viên đã đăng ký và được xác nhận học
xong học phần A (có thể chưa đạt). Sinh viên được phép đăng ký học học
phần B vào học kỳ tiếp sau học kỳ đã học học phần A.
− Học phần song hành
Học phần A là học phần song hành của một học phần B, khi điều kiện
bắt buộc để đăng ký học học phần B là sinh viên đã đăng ký học học phần A.
Sinh viên được phép đăng ký học học phần B vào cùng học kỳ đã đăng ký học
học phần A hoặc vào các học kỳ tiếp sau.
− Lớp học phần và điều kiện mở lớp
20
Lớp học phần là lớp của các sinh viên cùng đăng ký một học phần, có
cùng thời khoá biểu của học phần trong cùng một học kỳ.Mỗi lớp học phần
được gán một mã số riêng. Số lượng sinh viên của một lớp học phần được
giới hạn bởi sức chứa của phòng học/ phòng thực hành hoặc được sắp xếp
theo các yêu cầu riêng đặc thù của học phần.
− Lớp sinh viên và cố vấn học tập
Lớp sinh viên (lớp niên khóa) được tổ chức theo Quy định Công tác
sinh viên. Mỗi lớp sinh viên có một tên riêng gắn với khoa, khóa đào tạo và
do một cố vấn học tập phụ trách.
Cố vấn học tập có vai trò cố vấn cho sinh viên trong lớp về các vấn đề
học vụ, giúp đỡ sinh viên lập kế hoạch học tập trong từng học kỳ và kế hoạch
cho toàn bộ khóa đào tạo.
− Kết quả học tập
Kết quả học tập tuyên bố về những gì mà nhà trường mong muốn người
học biết, hiểu và/hay có thể thực hiện được sau khi hoàn thành một quá trình
học tập.
Trên đây là một số khái niệm về học chế tín chỉ được sử dụng phổ biến
không chỉ ở các trường đại học trên thế giới mà còn ở các trường đại học ở
Việt Nam.Qua đó, chúng ta bước đầu đã có thể hiểu một cách cơ bản nhất về
học chế tín chỉ và số thuật ngữ được sử dụng nhiều, gắn liền với hình thức
đào tạo này. Tạo điều kiện thuận lợi giúp sinh viên dễ dàng tiếp cận cũng như
làm quen với hình thức đào tạo mới ở đại học, giúp nâng cao kết quả học tập
của sinh viên và kết quả giảng dạy của giảng viên.
1.3. Đặc điểm của hệ thống tín chỉ
Xuất phát từ đòi hỏi quy trình đào tạo phải tổ chức sao cho mỗi sinh viên
có thể tìm được cách học thích hợp nhất cho mình, đồng thời trường đại học
phải nhanh chóng thích nghi và đáp ứng được những nhu cầu của thực tiễn
cuộc sống.Đào tạo theo tín chỉ tuy được coi là phương thức đào tạo mới
nhưng đã có lịch sử cách đây hàng trăm năm và đã khẳng định ưu thế của nó
tại nhiều trường đại học danh tiếng trên thế giới. Ở Việt Nam, nhìn chung
phương thức đào tạo theo tín chỉ còn khá mới mẻ. Mặc dù còn nhiều bỡ ngỡ,
22
lúng túng trong việc ứng dụng nhưng nhiều trường đại học đã tích cực áp
dụng phương thức đào tạo này và đạt được những thành công nhất định.
Những đặc điểm của hệ thống tín chỉ là :
Thứ nhất, hệ thống tín chỉ đòi hỏi sinh viên phải tích luỹ kiến thức theo
từng học phần (đơn vị: tín chỉ) và kiến thức cấu trúc thành các mô đun (học
phần). Kiến thức trong mỗi học phần được thiết kế kiểu mô đun theo từng
môn học hoặc được kết cấu dưới dạng tổ hợp từ nhiều môn học thành một
môn học mới. Mỗi học phần được ký hiệu bằng một mã riêng do Trường quy
định. Cùng với đó quy định khối lượng kiến thức phải tích luỹ cho từng văn
bằng. Xếp năm học của người học theo khối lượng tín chỉ tích luỹ. Một tín chỉ
được quy định bằng 15 tiết học lí thuyết; 30-45 tiết thực hành, thí nghiệm
hoặc thảo luận; 45-90 giờ thực tập tại cở sở; 45-60 giờ làm tiểu luận, bài tập