Kinh nghiệm quản lý nợ công trên thế giới và bài học cho Việt Nam - Pdf 38

Mục Lục
Mục Lục.............................................................................................................................................................................. 1
Chương II: Lý Thuyết.................................................................................................................................................... 2
1.1 Khái niệm nợ, nợ công..................................................................................................................................... 2
1.2 Quan điểm về nợ công và cách tính nợ công ở Việt Nam so với thế giới...................................2
1.2.1 Đối tượng...................................................................................................................................................... 2
1.2.2 Phương thức xác định............................................................................................................................. 2
1.3 Nguyên nhân và các nhân tố ảnh hưởng................................................................................................. 3
1.3.1 Nguyên nhân gây nợ công..................................................................................................................... 3
1.3.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến nợ công................................................................................................ 4
1.4. Hậu quả của nợ công...................................................................................................................................... 4
1.4.1 Nợ công làm giảm GDP........................................................................................................................... 4
1.4.2 Nợ công làm cho sự tăng trưởng của sản phẩm tiềm năng chậm lại................................5
1.4.3 Nợ công ảnh hưởng đến xếp hạng tín nhiệm của quốc gia.....................................................5
1.4.4 Các hậu quả khác...................................................................................................................................... 5
Chương II: Thực trạng nợ công............................................................................................................................... 6
2.1. Thực trạng nợ công trên thế giới.............................................................................................................. 6
2.1.1. Thực trạng nợ công của Mỹ................................................................................................................. 6
2.1.2. Thực trạng nợ công khu vực EU:....................................................................................................... 6
2.1.3. Thực trạng nợ công của Trung Quốc:............................................................................................. 7
2.1.4. Thực trạng nợ công của Thái Lan:................................................................................................... 7
2.2 Thực trạng nợ công ở Việt Nam.................................................................................................................. 8
2.2.1. Quy mô nợ công Việt Nam gia tăng nhanh...................................................................................8
2.2.2 Việc sử dụng nợ công còn nhiều bất cập......................................................................................10
2.2.3 Rủi ro liên quan đến nợ công hiện nay.......................................................................................... 11
2.3 Dự báo tình hình nợ công của Việt Nam trong thời gian tới.......................................................11
Chương III: Kết luận................................................................................................................................................... 13

1



tiêu chuẩn quốc tế sẽ bằng nợ công theo tiêu chuẩn Việt Nam cộng với nợ của: Ngân hàng Nhà
nước (NHNN), các doanh nghiệp nhà nước (DNNN), tổ chức bảo hiểm xã hội và an sinh xã hội
(ASXH) và một số địa phương. Điều này góp phần giải thích cho những con số nợ công được
đưa ra bởi các tổ chức quốc tế và Việt Nam rất khác nhau.
2


Thực tiễn các nước cho thấy, ngoài nợ chính phủ và nợ được chính phủ bảo lãnh (hầu hết các
quốc gia đều cho vào nợ công) một số nước xác định nợ công còn gồm nợ của DNNN phi tài chính
(Thái Lan, Macedonia). Tuy nhiên, cần lưu ý ít nước có khu vực DNNN lớn như Việt Nam.

Ngoài ra, các tổ chức quốc tế có tính đến nợ lương hưu trong khoản nợ Chính phủ
(UNCTAD) còn Việt Nam thì dường như quên mất. Theo nguyên tắc tính nợ của một số tổ chức
quốc tế, khi một công chức nhận lương họ phải đóng vào quỹ về hưu, còn một phần khác, có thể
bằng hoặc gấp đôi Chính phủ phải đóng vào quỹ này. Phần Nhà nước đóng góp phải tính vào chi
tiêu. Dựa vào hợp đồng đã ký về hưu trí, nếu đóng góp không đủ để chi trả trong tương lai thì phải
tính vào nợ. Khoản mục này trên thực tế là không nhỏ.
Tại các quốc gia phát triển như Mỹ, Canada, Úc, Nhật và các nước trong khối EU đã tính nợ
theo đúng tiêu chuẩn của Liên hiệp quốc nên đều có tỷ lệ nợ/GDP cao hơn 50% nhiều. Tỷ lệ trên
100% đối với các nước này là bắt đầu vượt ngưỡng an toàn. Còn đối với các nước đang phát
triển khi không tính nợ lương hưu thì có lẽ 50% là ngưỡng phù hợp. Tại Việt Nam mức ngưỡng
nợ công/GDP được Quốc hội đề ra là 65% là phù hợp với thông lệ quốc tế; và việc vượt ngưỡng
tối ưu có thể tiềm ẩn rủi ro.

1.3 Nguyên nhân và các nhân tố ảnh hưởng.
1.3.1 Nguyên nhân gây nợ công
Ở mỗi nước và tùy từng thời kỳ lại có các nguyên nhân khác nhau, song tình trạng nợ công
hiện nay ở nước ta do những nguyên nhân cơ bản sau:
• Thứ nhất, gia tăng mạnh chi tiêu từ ngân sách nhà nước, đặc biệt là hậu quả to lớn của cuộc


chính phủ khó khăn hơn, không đảm bảo được cho vay nợ đúng hạn.
Thứ ba, tốc độ tăng trưởng thực tế ảnh hưởng đến nợ công theo hai cơ chế. Một là, nền kinh
tế phát triển hơn thì chính phủ dễ dàng vay tiền hơn, dẫn đến khả năng nợ công tăng lên. Hai là,
tăng trưởng nhanh thường đi kèm với lạm phát, dẫn đến việc cấp bù lạm phát cho các khoản nợ
đã đến hạn thanh toán.
Thứ tư, lãi suất ngoại tệ có liên quan đến các khoản vay nước ngoài của chính phủ. Cơ chế
tác động của nhân tố này tương tự như lãi suất thực tế, chỉ khác nhau về đối tượng hưởng lãi.
Thứ năm, tỷ giá cũng có tác động tới việc vay nợ nước ngoài. Sự biến động của tỷ giá ảnh
hưởng đến chi phí của khoản nợ công.

1.4. Hậu quả của nợ công.
1.4.1 Nợ công làm giảm GDP
Có hai quan điểm chính về việc nợ công tác động đến nền kinh tế:
Quan điểm truyền thống cho rằng biện pháp cắt giảm thuế được bù đắp bằng nợ công kích
thích tiêu dùng và làm giảm tiết kiệm quốc dân. Sự gia tăng tiêu dùng làm tăng tổng cầu và thu
nhập quốc dân trong ngắn hạn nhưng dẫn đến khối lượng tư bản ít hơn (do đầu tư giảm) và thu
nhập quốc dân thấp hơn trong dài hạn.
Quan điểm Barro-Ricardo lại cho rằng biện pháp cắt giảm thuế được bù đắp bằng nợ chính
phủ không kích thích chi tiêu ngay cả trong ngắn hạn vì không làm tăng thu nhập thường xuyên
của các cá nhân mà nó chỉ làm dịch chuyển thuế từ hiện tại sang tương lai. Các cá nhân dự tính
rằng, hiện giờ chính phủ giảm thuế và phát hành trái phiếu bù đắp thâm hụt thì đến một thời
điểm trong tương lai chính phủ sẽ lại tăng thuế để có tiền trả nợ hoặc in tiền để trả nợ (mà hậu
4


quả là lạm phát tăng tốc). Do đó, người ta tiết kiệm hiện tại để có tiền đóng thuế trong tương lai
hoặc mua hàng hóa và dịch vụ sẽ lên giá.

1.4.2 Nợ công làm cho sự tăng trưởng của sản phẩm tiềm năng chậm lại
Trong những năm gần đây, hầu hết các nhà kinh tế đều cho rằng trong dài hạn một khoản nợ

2.1. Thực trạng nợ công trên thế giới
2.1.1. Thực trạng nợ công của Mỹ
Nợ công Hoa Kỳ là tổng số nợ của chính phủ liên bang Hoa Kỳ. Số nợ này từ thập niên 1980,
ngoại trừ một thời gian ngắn, gia tăng đều đặn, đặc biệt là vào thập niên 2000, phần lớn vì chiến
tranh ở Afghanistanvà Iraq cũng như vì ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chánh từ năm 2007.
Tính tới ngày 29 tháng 11 2011 số nợ công tổng cộng là 14,46 ngàn tỷ USD tương đương với
98,6 % Tổng sản phẩm nội địa. Tính tới ngày 2 tháng 12 2013 là 17,226 ngàn tỷ USD hay trên
100% GDP. 47% số tiền cho vay là từ các nhà đầu tư ngoại quốc, từ Nhật Bản và Trung Quốc
mỗi nước trên 1,1 ngàn tỷ.
Nợ công của Mỹ hiện tại là $17 ngàn tỷ USD. Đó là một con số nằm ngoài sức tưởng tượng.
Đa số người sẽ không bao giờ kiếm tới $1 triệu USD trong một năm.

2.1.2. Thực trạng nợ công khu vực EU:
Vấn đề nợ không chỉ của riêng Hy Lạp
Hy Lạp không phải nước duy nhất đương đầu với khủng hoảng tín dụng và nợ.
Liên minh châu Âu bao gồm 27 nước, liên minh đặt mục tiêu lón để tạo ra một thị trường chung
và tích hợp các nền kinh tế thông qua thể chế chung. Ủy ban châu Âu có trụ sở tại Brussels chịu
trách nhiệm giám sát Liên minh châu Âu. Trong Liên minh châu Âu có 17 nước sử dụng đồng
euro làm đồng tiền chung
14/27 nước thuộc Liên minh châu Âu có tỷ lệ nợ tương đương hơn 60% GDP, mức giới hạn
mà Liên minh châu Âu đưa ra. Trong nhóm này có cả một số nền kinh tế lớn của khu vực như
Anh hay Pháp. Chi tiêu vào phúc lợi xã hội và một số chương trình khác của chính phủ đã tăng
nhanh trong thập kỷ qua, đẩy tỷ lệ nợ công của khắp các nước trong khu vực lên cao.
Vấn đề nợ của Hy Lạp cũng không phải mới. Từ khi chuẩn bị gia nhập khu vực đồng tiền chung
châu Âu vào năm 2000, Hy Lạp đã có tỷ lệ nợ cao. Ý và Bỉ cũng khốn khổ với các khoản nợ lớn.

Quy mô các nền kinh tế được thể hiện qua mức độ to nhỏ của hình. Trong bảng là so sánh
GDP năm 2010 của các nền kinh tế thuộc Liên minh châu Âu. Kinh tế Hy Lạp có quy mô nhỏ
thế nhưng nỗi sợ của khả năng Hy Lạp vỡ nợ đã làm xói mòn niềm tin vào đồng euro và khiến
nhà đầu tư khắp thế giới sợ hãi.

các rủi ro tài chính trong dài hạn. Tuy nhiên, trước nguy cơ hạ cánh cứng, nước này đã buộc phải
bổ sung các gói kích thích kinh tế mới.
Các khoản tín dụng mới đã tăng thêm 6,2 tỷ nhân dân tệ trong ba tháng đầu năm 2016, tăng
hơn 50% so với cùng kỳ năm ngoái. Đây là mức tăng theo quý cao nhất từ trước đến nay.
Nền kinh tế Trung Quốc khó mà hấp thụ số tín dụng lớn như vậy trong một thời gian ngắn.
Với việc khả năng sinh lời của các dự án mới ngày càng giảm, số vụ vỡ nợ ở Trung Quốc sẽ
ngày càng tăng trong thời gian tới.

2.1.4. Thực trạng nợ công của Thái Lan:
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Thái Lan không nói quá: nợ nước ngoài của Thái Lan tính đến
cuối năm ngoái, theo Ngân hàng Nhà nước Thái, là hơn 129 tỉ USD, tương đương 32% GDP (thấp

7


hơn nhiều so với Việt Nam), trong đó nợ ngắn hạn là 51,3 tỉ USD, còn nợ dài hạn 78,1 tỉ USD.

Dò trên cơ sở dữ liệu của Ngân hàng Thế giới sẽ thấy phần nợ của Chính phủ Thái cộng các
khoản vay được nhà nước bảo lãnh cũng chỉ mới 33,4 tỉ USD trên tổng số hơn 129 tỉ USD nợ
nước ngoài, tức chưa đầy 1/4.
Mặt khác, Thái Lan không còn thói quen vay viện trợ phát triển chính thức (ODA) để chi tiêu
ngân sách: năm 2014 chỉ nhận ODA có 351 triệu USD, trong khi Việt Nam nhận 4,2 tỉ USD.
Tất nhiên, ở Thái cũng có một số tập đoàn nhà nước như điện, hàng không, thuốc lá, rượu,
cảng hàng không và hàng hải, ngân hàng... nhưng không tràn lan đến tận từng bộ cũng như đã
được cổ phần hóa, nên ít rơi vào tình trạng “con thuyền không đáy”.
Kết quả là việc kiểm soát ngân sách ở Thái Lan được đánh giá là “tuyệt vời”: nợ công của
Thái Lan là thấp so với các chuẩn của thế giới. Mặt khác, ngân sách ở Thái Lan không phải gánh
vác những chi tiêu đoàn thể, hội đoàn, cũng như những khoản chi lễ lạt địa phương, cục bộ vô
bổ, ngoại trừ các lễ lạt hoàng gia...
Việc xây dựng kế hoạch thu chi ngân sách hằng năm được tính toán bởi bốn cơ quan là Ngân

(Giai đoạn 2008-2014)
Chỉ tiêu
Nợ công so với tổng sản phẩm quốc
dân (GDP) (%)
Nợ nước ngoài của quốc gia so với
GDP (%)
Nghĩa vụ trả nợ nước ngoài trung,

2008

29,8

2009

39,0

dài hạn của quốc gia so với tổng kim
ngạch xuất khẩu hàng hóa và dịch
vụ (%)
Dư nợ của chính phủ so với GDP
Dư nợ của chính phủ so với thu
ngân sách (%)
Nghĩa vụ trả nợ của chính phủ so
với thu NSNS (%)
Nghĩa vụ nợ dự phòng so với thu
ngân sách (%)
Hạn mức vay thương mại nước
ngoài và bảo lãnh nước ngoài của

2010


3,5

3,5

4,3

4,1

44,6

43,2

39,4

42,6

46,4

157,9

162,0

172,0

184,4

211,5

3,5


3.500

1.800

2.800

chính phủ (Triệu USD)
(Nguồn: Bộ tài chính)
Quy mô nợ công hiện nay đang áp sát ngưỡng kiểm soát do quốc hội đề ra. Nợ công tăng
nhanh như vậy là do tác động của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu làm kinh
tế Việt Nam tăng trưởng chậm lại, thu ngân sách bị ảnh hưởng lớn trong khi nhu cầu chi tăng
mạnh. Thu NSNN gặp nhiều khó khăn nhưng vẫn phải giảm thu để hỗ trợ doanh nghiệp; đầu tư
phát triển, xây dựng kết cấu hạ tầng; thực hiện các chính sách xã hội và tiền lương. Vì vậy, giai
đoạn 2011 - 2015, Việt Nam đã phát hành 335 nghìn tỷ đồng trái phiếu chính phủ (TPCP), gấp
hơn 2,5 lần giai đoạn 2006 - 2010 (giai đoạn 2011 - 2014 đã phát hành 250 nghìn tỷ đồng, năm
2015 theo kế hoạch phát hành thêm 85 nghìn tỷ đồng), đồng thời đã đẩy mạnh giải ngân vốn
9


ODA, vay ưu đãi và bảo lãnh vay để đầu tư các dự án hạ tầng giao thông, thủy lợi, năng lượng, y
tế, giáo dục, xây dựng nông thôn mới… theo nghị quyết của Đảng, Quốc hội.
Trong giai đoạn 2011-2015, nợ công gia tăng nhanh chóng với mức 16,7%/năm. Cuối năm
2015, về số tuyệt đối, dư nợ công lên đến 2.608 nghìn tỷ đồng, gấp 1,9 lần so với cuối năm 2011
(1.393 nghìn tỷ đồng). Về số tương đối, cuối năm 2015, nợ công/GDP ở mức 62,2%, áp sát
ngưỡng kiểm soát 65% của quốc hội.
Trước đây nợ công hầu hết là nợ nước ngoài hay vốn vay ODA với lãi suất từ 1% đến dưới
3%. Từ năm 2010, Việt Nam gia nhập nhóm nước có thu nhập trung bình nên nợ nước ngoài có
mức ưu đãi giảm dần. Vì vậy nợ công dịch chuyển sang nguồn vay trong nước, tăng từ 40% năm
2011 lên 57% năm 2015.Cụ thể:

ODA còn khá phức tạp.

2.2.3 Rủi ro liên quan đến nợ công hiện nay
Thứ nhất: Chi tiêu nợ phải trả (nợ gốc và lãi) có nguy cơ tiến sát vượt ngưỡng cảnh báo.
Theo bộ tài chính, trong giai đoạn 2011 đến 2015 nghĩa vụ trả nơi nước ngoài trung và dài
hạn/thu NSNN đã tăng lên 22,3% (ngưỡng an toàn 25%)
Thứ hai: Nghĩa vụ trả nợ tăng trong khi nguồn trả nợ công không bền vững) Theo bộ Kế
hoạch và đầu tư, nghĩa vụ trả nợ/thu NSNN tăng lên 38% vào năm 2014 và 45% vào năm 2015.
Hệ quả là tình trạng vay để trả nợ gốc ngày càng tăng lên, lên đến 80.000 tỷ vào năm 2014 và
150.000 tỷ đồng năm 2015. Tuy nhiên khả năng gia tăng thu ngân sách/GDP giảm mạnh, cụ thể là
2011 là 25,9% xuống 22,1% năm 2015 và dự báo tiếp tục giảm.
Thứ ba: Tác động tiêu cực của nợ công với nền kinh tế: Các khoản lãi và một phần nợ gốc
phải trả trong ngắn hạn đang ngày càng cao, gây sức ép lên cân bằng NSNN. Do đó chính phủ
phải liên tục phát hành TPCP để bù đắp thâm hụt NSNN. Hệ quả là quy mô nợ công tăng theo
tần suất và quy mô phát hành TPCP. Ngoài ra lãi suất bị đẩy đi lên cao, gây khó khăn cho doanh
nghiệp từ đó làm giảm nguồn thu NSNN để thanh toán các khoản vay.

2.3 Dự báo tình hình nợ công của Việt Nam trong thời gian tới
Mặc dù nợ công hiện nay của Việt Nam được đánh giá là vẫn trong ngưỡng an toàn, song
với việc NSNN liên tục thâm hụt ở mức cao và nhu cầu vay vốn cho các dự án đấu tư vẫn tiếp
tục tăng, thực trạng này đặt ra yêu cầu cần phải xem xét và dự báo kịch bản rủi ro mà Việt Nam
có thể sẽ gặp trong thời gian tới, cụ thể:
Thứ nhất: Rủi ro về khả năng trả nợ
Sở dĩ tỷ lệ nợ công/GDP của Việt Nam hiện này vẫn nằm trong giới hạn cho phép của Quốc Hội
là do vào năm 2013, Tổng cục Thống kê đã điều chỉnh phương pháp tính GDP, bổ sung thêm giá trị
kinh doan của ngành Ngân hàng và dịch vụ nhà tự có, tự ở của dân cư cho GDP của các các năm
trước đó. Chưa kể, cơ sở để Quốc Hội/Chính phủ đặt ra mục tiêu hay trần nợ công lại ở thời điểm
đầu kế hoạch phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2011-2015 là dựa vào GDP theo phương pháp cũ thì
tỷ lệ nợ công/GDP và nợ chính phủ/GDP của Việt Nam đã lần lượt xấp xỉ 59,6% và 46,5% vào năm
2013 và ước tính sẽ vượt các ngưỡng cho phép 65% và 50% vào cuối năm 2014.

hiệu quả đã dẫn đến khả năng trả nợ khó khăn.
Thứ năm: Rủi ro từ các khoản nợ tiềm ẩn cũng như sự bền vững của nợ công.
Những rủi ro này bao gồm: rủi ro không trả được nợ từ các khoản nợ được Chính phủ bảo
lãnh cho các doanh nghiệp vay vốn đầu tư từ các dự án trọng điểm, tái cơ cấu nợ Vinashin và
phát hành trái phiếu cho ngân hàng phát triển. Rủi ro lớn từ nợ xấu có khả năng mất vốn của
DNNN và doanh nghiệp tư nhân vay vốn ngân hàng trực tiếp hoặc gián tiếp sẽ chuyển thành nợ
công. Rủi ro hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại sẽ tác động tiêu cực đến nợ công và
ngược lại. Rủi ro nợ đọng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế của các doanh nghiệp chuyển thành nợ
công. Rủi ro tăng trưởng kinh tế giảm sút và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam thấp
ảnh hưởng đến sự bền vững của nợ công. Các khoản vay nợ của chính quyền địa phương chưa
được thống kê đầy đủ cũng là nhân tố có thể làm tăng gánh nặng nợ công trong tương lai

12


Chương III: Kết luận
Nợ công đã, đang và sẽ luôn là một vấn đề đáng lưu tâm cho các nhà hoạch định, quản lý
nền kinh tế vĩ mô của một đất nước. Nếu coi một đất nước là một doanh nghiệp, nợ công sẽ là nợ
phải trả, là phần vốn chiếm dụng doanh nghiệp có thể sử dụng và phải trả trong tương lai. Cũng
như đòn bẩy tài chính đối với tình hình tài chính doanh nghiệp, nợ công sẽ là một con dao hai
lưỡi đối với kinh tế vĩ mô và sự phát triển của một đất nước. Nếu đầu tư mang lại hiệu suất sinh
13


lời cao thì đòn bẩy tài chính sẽ làm tăng hiệu suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu, đồng nghĩa với
việc ta sử dụng ít vốn hơn và thu được lợi nhuận nhiều hơn. Tuy nhiên nếu hiệu suất sinh lời
thấp thì với đòn bẩy tài chính cao, áp lực trả nợ lớn sẽ là một nguy cơ tiềm ẩn gây ra các tác hại
rất lớn. Vậy bài toán đối với nợ công chính là bài toán về thực hiện và kiểm soát đầu tư, chi tiêu
công một cách hiệu quả, mang lại nguồn lợi cho đất nước. Nợ công bền vững là nợ công được tài
trợ bằng thặng dư ngân sách trong tương lai. Tỷ lệ nợ công sẽ không phải là vấn đề lớn nếu kiêm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status