Đánh giá hiệu quả của việc trồng chè từ cành tại xã hòa bình huyện đồng hỷ tỉnh thái nguyên - Pdf 38

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

PHÙNG THỊ DUYÊN
Tên đề tài:

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA VIỆC TRỒNG CHÈ TỪ CÀNH
TẠI XÃ HÕA BÌNH - HUYỆN ĐỒNG HỶ - TỈNH THÁI NGUYÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo

: Chính quy

Chuyên ngành : Nông lâm kết hợp
Khoa

: Lâm nghiệp

Khoá học

: 2011 - 2015

Thái Nguyên - 2015


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

PHÙNG THỊ DUYÊN

tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu trình bày trong khóa luận là quá trình
điều tra trên thực địa hoàn toàn trung thực, khách quan.

Thái Nguyên, tháng 05 năm 2015
Xác nhận của giáo viên hƣớng dẫn

TS. Đàm Văn Vinh

Ngƣời viết cam đoan

Phùng Thị Duyên

Xác nhận của giáo viên chấm phản biện
(ký, họ và tên)


ii

LỜI CẢM ƠN
Thực tập tốt nghiệp có ý nghĩa rất lớn đối với mỗi sinh viên, đây là thời
gian để sinh viên làm quen với công tác điều tra, nghiên cứu, áp dụng những
kiến thức lý thuyết với thực tế, củng cố và nâng cao khả năng phân tích, làm
việc sáng tạo của bản thân phục vụ cho công tác sau này. Đồng thời đó là thời
gian quý báu cho mỗi sinh viên có thể học tập nhiều hơn từ bên ngoài về cả
kiến thức chuyên môn và những kĩ năng khác như giao tiếp, cách nhìn nhận
công việc và thực hiện công việc đó như thế nào.
Xuất phát từ nhu cầu thực tế và nhu cầu bản thân đồng thời được sự đồng ý
của Ban chủ nhiệm Khoa Lâm nghiệp,chúng tôi thực hiện đề tài: “Đánh giá
hiệu quả của việc trồng chè từ cành tại xã Hòa Bình huyện Đồng Hỷ tỉnh
Thái Nguyên”.

điều tra ................................................................................... 39
Bảng 4.6. So sánh hiệu quả sản xuất trên 1 ha của chè hạt và chè cành ......... 40
Bảng 4.7. So sánh một số chỉ tiêu về hiệu quả kinh tế ................................... 41


iv

DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 4.1: Biểu đồ tình hình sản xuất chè của các thôn điều tra...................... 33
Hình 4.2 : Biểu đồ phân bố diện tích chè cành ở các giai đoạn của các thôn
điều tra............................................................................................. 35
Hình 4.3: Biểu đồ các giai đoạn thay thế chè hạt bằng chè cành.................... 38


v

DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt

Chữ đầy đủ

ĐVT

Đơn vị tính

VA

Giá trị gia tăng

TSCĐ



vi

MỤC LỤC
Phần 1. MỞ ĐẦU ............................................................................................ 1
1.1. Đặt vấn đề ............................................................................................... 1
1.2. Mục đích nghiên cứu............................................................................... 3
1.3. Mục tiêu nghiên cứu ............................................................................... 3
1.4. Ý nghĩa của đề tài.................................................................................... 3
1.4.1. Ý nghĩa trong học tập........................................................................ 3
1.4.2. Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất ....................................................... 3
Phần 2. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ......................................................... 4
2.1. Cơ sở khoa học........................................................................................ 4
2.1.1. Nguồn gốc cây chè ............................................................................ 4
2.1.2. Phân loại cây chè .............................................................................. 5
2.1.3. Vai trò và tác dụng của chè đối với đời sống nhân dân .................... 6
2.1.4. Ảnh hưởng của nhân tố giống chè đến sản xuất chè ........................ 8
2.1.5. Cơ sở khoa học của việc giâm cành chè ........................................... 9
2.1.6. Những đóng góp mới về giống ....................................................... 10
2.2. Tình hình sản xuất chè trên thế giới và trong nước .............................. 15
2.2.1. Tình hình sản xuất chè trên thế giới ............................................... 15
2.2.2. Tình hình sản xuất chè trong nước ................................................. 16
2.2.3. Tình hình sản xuất chè ở tỉnh Thái Nguyên ................................... 17
2.3. Tổng quan khu vực nghiên cứu............................................................. 20
2.3.1. Điều kiện tự nhiên ........................................................................... 20
2.3.2. Điều kiện kinh tế xã hội .................................................................. 23
Phần 3. ĐỐI TƢỢNG, PHẠM VI, ĐỊA ĐIỂM, NỘI DUNG VÀ
PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ................................................................ 30
3.1. Đối tượng nghiên cứu ........................................................................... 30

MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Phát triển sản xuất, đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàng nông sản là một
chủ trương kinh tế lớn của Đảng và Nhà nước trong sự nghiệp công nghiệp hóa
và hiện đại hóa đất nước. Là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của
nước ta, chè mang lại hiệu quả kinh tế cao không chỉ trong sản xuất chế biến để
xuất khẩu, đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn góp phần tích cực ổn định đời
sống kinh tế xã hội, xóa đói giảm nghèo, đưa văn minh công nghiệp tới vùng
sâu vùng xa. Vì vậy, nghiên cứu những vấn đề về sản xuất như chất lượng
giống chè có ý nghĩa quan trọng trong việc tồn tại, phát triển của ngành chè.
Cây chè (Camellia sinensis O.Kuntze) là cây công nghiệp dài ngày, có
chu kỳ sản xuất, kinh doanh từ 30 - 40 năm, mau cho sản phẩm, đem lại hiệu
quả kinh tế cao và ổn định ( Trịnh Xuân Ngọ, 2009) [8]. Là loại cây trung tính
ưa sáng nhưng không gay gắt, không ưa nước nhưng cũng cần nước ở mức độ
vừa phải, chịu được hạn và rét. Cây chè rất thích hợp với vùng đồi núi, trung
du Bắc Bộ và Tây Nguyên nước ta. Cây chè có phạm vi thích ứng rộng,
nhưng là một cây lấy lá, chất lượng chè búp tươi phụ thuộc vào điều kiện đất
đai, thời tiết khí hậu. Nói chung chè trồng ở vùng trung du, miền núi có chất
lượng cao hơn. Ở vùng này, trồng chè theo phương thức nông lâm kết hợp,
tận dụng tối đa không gian và diện tích canh tác nhằm tạo ra sản phẩm chè
chất lượng cao ( Lê Tất Khương, 2003) [0].
Theo Hiệp hội chè Việt Nam năm 2012, nước ta có khoảng 124 nghìn
ha chè (trong đó vùng miền núi phía Bắc chiếm 68,94% diện tích chè của cả
nước), lượng chè xuất khẩu trên 160 nghìn tấn (chiếm 76%/ tổng sản lượng
chè), với kim ngạch xuất khẩu đạt 243 triệu USD, xu hướng trong thời gian


2

tới của ngành chè Việt Nam là tăng giá trị và chất lượng sản phẩm. Trong


nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiệu quả của việc trồng chè từ cành tại xã
Hòa Bình - huyện Đồng Hỷ - tỉnh Thái Nguyên”. Nhằm đánh giá được hiệu
quả kinh tế mà chè cành mang lại so với giống chè hạt cũ.
1.2. Mục đích nghiên cứu
Đánh giá hiệu quả của việc thay thế giống chè hạt bằng chè cành từ đó
đề xuất các giải pháp tối ưu cho việc phát triển chè cành nói riêng và nâng cao
hiệu quả cây chè nói chung góp phần nâng cao đời sống người dân một cách
bền vững.
1.3. Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá thực trạng phát triển cây chè tại Xã Hòa Bình.
Đánh giá quá trình chuyển đổi thay thế chè hạt bằng chè cành tại xã
Hòa Bình..
Đánh giá hiệu quả của việc thay thế chè hạt bằng chè cành tại xã Hòa Bình.
Đề xuất giải pháp phát triển chè cành tại xã Hòa Bình..
1.4. Ý nghĩa của đề tài
1.4.1. Ý nghĩa trong học tập
- Giúp cho sinh viên làm quen với thực tế sản xuất, biết áp dụng lí
thuyết vào thực tế, tích lũy kinh nghiệm cho bản thân.
- Các kết quả nghiên cứu là cơ sở khoa học cho các nghiên cứu tiếp theo.
- Học được cách sắp xếp, bố trí công việc trong học tập nghiên cứu một
cách khoa học.
- Tạo cho sinh viên một tác phong làm việc tự lập khi ra thực tế.
1.4.2. Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất
- Thành công của đề tài sẽ đánh giá được giống chè cho hiệu quả kinh
tế cao nhất, đóng góp cho định hướng phát triển cây chè tại xã Hòa Bình.
- Việc đánh giá được giống chè tốt nhất góp phần nâng cao năng suất,
nâng cao hiệu quả kinh tế, nâng cao chất lượng chè, tăng tính cạnh tranh đối
với các sản phẩm chè của các địa phương khác trên thị trường.



5

đổi chất ở đây hướng về phía tăng cường quá trình hiđroxin hóa và galin hóa.
Từ những biến đổi sinh hóa này của lá các cây chè mọc hoang dại và cây chè
được trồng trọt chăm sóc, cho phép đi tới một kết luận mới "Nguồn gốc của
cây chè chính là ở Việt Nam" ( Lê Tất Khương và cs, 1999) [0].
Hiện nay chè được phân bố khá rộng trong những điều kiện tự nhiên rất
khác nhau từ 30 độ vĩ Nam (Natan - Nam Phi) đến 45 độ vĩ Bắc (Gruzia - Liên
Xô) là những nơi có điều kiện tự nhiên khác rất xa vùng nguyên sản.
Những thành tựu gần đây của các nhà nông học Liên Xô cũng như một
số nước khác đã tạo ra nhiều giống chè mới có khả năng thích ứng trong
những điều kiện khí hậu khác nhau mở ra nhiều triển vọng cho sự nghiệp
trồng chè trên thế giới.
2.1.2. Phân loại cây chè
Cây chè thuộc ngành hạt kín Angiospermae,lớp song tử diệp
Dicotyledonae, bộ chè Theales, họ chè Theaceae, chi chè Camellia (Thea),
loài Camellia (Thea) sinensis.Tên khoa học của cây chè được nhiều nhà khoa
học công nhận là: Camellia sinensis (L) O. Kuntze và có tên đồng nghĩa là:
Thea sinensis ( Lê Tất Khương và cs, 1999) [0].
Năm 1753 Linê đặt tên khoa học cho cây chè là Thea sinensis, sau đó
lại đặt là Camellia sinensis.Sau Linê có nhà thực vật học xếp cây chè thuộc
chi Thea, có người lại xếp cây chè thuộc chi Camellia sinensis.Tên khoa học
của cây chè được viết là Thea sinensis hoặc Camellia sinensis. Hơn một trăm
năm, tên khoa học của cây chè vẫn là một vấn đề tranh luận.
Hiện nay các nhà thực vật học gộp hai chi Thea và Camellia làm một
và gọi là chi Camellia. Vì vậy tên khoa học của cây chè được nhiều người
thường gọi là Camellia sinensis (L) O. Kuntze.
Cơ sở của việc phân loại chè thường dựa vào:
- Cơ quan dinh dưỡng.

cách chế biến sẽ tạo ra các loại sản phẩm chè khác nhau: chè xanh, chè đen,
chè vàng, chè túi lọc…v.v..


7

Năm 1993, Đặng Hanh Khôi đã nghiên cứu và chỉ ra rằng chè có nhiều
vitamin có giá trị dinh dưỡng và bảo vệ sức khỏe. Có tác dụng giải khát, bổ
dưỡng và kích thích hệ thần kinh trung ương, giúp tiêu hóa các chất mỡ, giảm
được bệnh béo phì, chống lão hóa… Do đó chè đã trở thành sản phẩm đồ
uống phổ thông trên toàn thế giới. Chè được sử dụng hàng ngày và hình thành
nên một tập quán tạo ra được nền văn hóa. Khoa học hiện đại đã đi sâu nghiên
cứu, tìm hiểu và đã tìm ra nhiều hoạt chất có giá trị trong sản phẩm của cây
chè, người ta có thể chiết xuất từ cây chè lấy ra những sinh tố đặc biệt như:
cafein, vitamin A, B1, B2, B6, đặc biệt là vitamin C dùng để điều chế thuốc
tân dược cao cấp. Vì thế chè không những có tên trong danh mục nước giải
khát, mà nó còn có tên trong từ điển y học, dược học. Người Nhật Bản khẳng
định chè đã cứu người khỏi bị nhiễm xạ và gọi đó là thứ nước uống của thời
đại nguyên tử, nạn nhân bom nguyên tử Hirôxima ở các vùng chè xanh đã
sống khỏe mạnh, đó là một bằng chứng sinh động về tác dụng chống phóng
xạ của chè ( Đặng Hanh Khôi, 1993) [0].
“Lợi ích lớn nhất của trà xanh là gì? Đó là các hợp chất catechin,
là chất chống oxy hóa mà có thể ngăn ngừa sự tổn thương tế bào. Trà xanh
nếu không qua xử lý nhiều thì khi sử dụng nó sẽ rất giàu catechins” (Paula
Spencer Scott, 2013).
Chè là loại cây đã đi vào đời sống con người một cách sâu sắc, đậm đà.
Uống trà đã trở thành một phong tục tập quán, là sở thích từ lâu đời của nhiều
dân tộc trên thế giới. Cũng giống như nhiều nước ở châu Á và Đông Nam Á
khác, ở Việt Nam tục uống trà đã có từ rất lâu đời. Người Việt Nam biết đến
trà từ khá sớm, phương ngôn cổ truyền không ít những lời dạy về cách uống

chất lượng búp cao, đã và đang được sử dụng ngày càng nhiều, trồng trên diện
tích rộng, bổ sung cơ cấu giống vùng và thay thế dần giống cũ trên các nương
chè cằn cỗi ( Đỗ Ngọc Qũy và cs, 2008) [6].


9

Bên cạnh đặc tính của giống chè, phương pháp nhân giống cũng ảnh
hưởng trực tiếp tới chè nguyên liệu. Hiện nay có 2 phương pháp được áp
dụng chủ yếu là trồng bằng hạt và trồng bằng cành giâm. Đặc biệt phương
pháp trồng chè cành đến nay đã được phổ biến, áp dụng rộng rãi và dần dần
trở thành biện pháp chủ yếu trên thế giới cũng như Việt Nam.
2.1.5. Cơ sở khoa học của việc giâm cành chè
Phương pháp giâm cành chè là sử dụng một bộ phận gồm đoạn thân lá
(cơ quan dinh dưỡng) để tái sinh ra cây chè mới.
Để tạo thành cây chè hoàn chỉnh và sinh trưởng tốt trong vườn ươm, đủ
tiêu chuẩn, đưa ra trồng trên nương nó phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khác
nhau, nhưng chủ yếu là chất lượng hom giống, đất trong bầu, chế độ ánh sáng,
chế độ chăm sóc và phân bón cho vườn ươm. Môi trường cắm hom chè
thường dùng là một loại đất xốp có thành phần cơ giới trung bình và độ chua
thích hợp PH KCl từ 4,5-5,5. Từ vết cắt hom chè sau khi giâm cành xuống
đất, nó sẽ hình thành màng mộc thiêm để chống sự xâm nhập của vi sinh vật,
dần dần tạo thành mô sẹo và từ đó mọc ra rễ đầu tiên, mầm nách của hom chè
cũng được phát triển từng bước cùng với sự phát triển của bộ rễ, đầu tiên là lá
vảy ốc mở, sau đó đến các lá cá và lá thật, để tạo thành cây chè hoàn chỉnh.
Nếu để mầm phát triển sớm hơn phát triển rễ là không có lợi cho cây chè
giâm do đó phải điều chỉnh sinh trưởng cân đối mầm và rễ. Trong các yếu tố
trên thì chất lượng hom giống ngoài phụ thuộc vào kỹ thuật nuôi hom trên cây
mẹ nó còn phục thuộc rất lớn vào bản chất di truyền của từng giống. Trong
thực tế, có những giống giâm cành chè rất đơn giản, tỷ lệ sống cao nhưng

+ Giống Thúy Ngọc: nguồn gốc Đài Loan nhập nội năm 1994, công
nhận giống mới năm 2008. Đây là giống có dạng thân bụi, lá màu xanh nhạt,
non hơi phớt tím, có lông tuyết, khối lượng búp tôm 2 lá 0,51g. Cây sinh
trưởng yếu hơn Kim Tuyên, 5 - 6 tuổi mới giao tán, mật độ búp trung bình,


11

năng suất đạt 8 - 10 tấn/ha. Giống dễ giâm cành, khả năng chống chịu sâu
bệnh trung bình. Chế biến chè Ô long cho chất lượng rất tốt. Hiện nay đang
được trồng nhiều ở các tỉnh Lâm Đồng, Lạng Sơn, Yên Bái, Phú Thọ và Thái
Nguyên, diện tích trên 500 ha.
+ Giống Bát Tiên: nguồn gốc Đài Loan nhập nội năm 1994, công nhận
giống sản xuất thử năm 2003. Đây là giống có dạng thân bụi, lá màu xanh
vàng, non hơi phớt tím, khối lượng búp tôm 2 lá trung bình 0,52 - 0,57g. Cây
sinh trưởng khá tốt, 5 tuổi giao tán, mật độ búp thưa, năng suất đạt 8 tấn/ha
Giống dễ giâm cành, khả năng chống chịu sâu bệnh trung bình. Chế biến chè
Ô long cho chất lượng rất tốt. Hiện nay đang được trồng chủ yếu ở các tỉnh
Tuyên Quang, Phú Thọ và Thái Nguyên, diện tích trên 50 ha.
+ Giống PH10: nguồn gốc Trung Quốc nhập nội vào Việt Nam năm
2000, công nhận giống sản xuất thử năm 2010. Giống có dạng thân bụi, lá
màu xanh lục, non hơi phớt tím, khối lượng búp tôm 2 lá trung bình 0,55g.
Cây sinh trưởng tốt, 5 tuổi giao tán, mật độ búp rất dày, năng suất đạt 10
tấn/ha. Giống dễ giâm cành, khả năng chống chịu sâu bệnh khá. Chế biến chè
Ô long tốt. Được mở rộng sản xuất thử tại các vùng chè của Trung du miền
núi phía Bắc.
- Giống cho sản xuất chè xanh tốt gồm có LDP1, Phúc Vân Tiên, Hùng
Đỉnh Bạch, Keo Am Tích, PT95, PH8, PH9, Tham Vè.
+ Giống LDP1: Chọn tạo từ cặp lai PH1 x Đại bạch trà năm 1980, công
nhận giống mới năm 2003. Đây là giống có dạng thân gỗ nhỡ, lá màu xanh

Phú Thọ, Tuyên Quang, Yên Bái và Thái Nguyên cho sản xuất chè xanh.
+ Giống PT95: nguồn gốc Trung Quốc nhập nội vào Việt Nam năm
2000, công nhận giống sản xuất thử năm 2003. Giống có dạng thân gỗ nhỡ, lá
màu xanh lục, non có màu hơi hồng, khối lượng búp tôm 2 lá 0,56g. Cây sinh
trưởng trung bình, thích hợp trồng hàng đơn, mật độ búp trung bình, số lứa
hái ít, năng suất đạt 6 tấn/ha. Giống dễ giâm cành, khả năng chống chịu sâu


13

bệnh khá. Chế biến chè xanh tốt. Hiện nay đang được trồng mở rộng tại các
tỉnh Phú Thọ, Tuyên Quang, Yên Bái và Thái Nguyên cho sản xuất chè xanh.
+ Giống PH8: Chọn tạo từ cặp lai TRI-777 × Kim Tuyên năm 1998,
công nhận giống sản xuất thử năm 2009. Giống có thân gỗ nhỡ, lá có màu
xanh đậm, non có màu hơi phớt tím, khối lượng búp tôm 2 lá 0,84g. Cây sinh
trưởng tốt, 5 tuổi giao tán, mật độ búp rất khá dày, năng suất đạt trên 17
tấn/ha. Giống dễ giâm cành, khả năng chống chịu sâu bệnh tốt. Chế biến chè
xanh tốt, chè Ô long khá. Được nhân rộng tại Thái Nguyên, Phú Thọ, Tuyên
Quang và Sơn La.
+ Giống PH9: Chọn tạo từ cặp lai TRI-777 × Kim Tuyên năm 1998,
công nhận giống sản xuất thử năm 2009. Giống có thân gỗ nhỡ, lá có màu
xanh đậm, non có màu hơi phớt tím, khối lượng búp tôm 2 lá 1,03g. Cây sinh
trưởng tốt, 5 tuổi giao tán, mật độ búp khá dày, năng suất đạt trên 15 tấn/ha.
Giống dễ giâm cành, khả năng chống chịu sâu bệnh tốt. Chế biến chè xanh tốt.
Được nhân rộng tại Thái Nguyên, Phú Thọ, Tuyên Quang và Sơn La.
+ Giống Shan Tham Vè: Tuyển chọn từ tập đoàn chè Shan Hà Giang
1999, công nhận giống sản xuất thử năm 2006. Giống có thân gỗ lớn, sinh
trưởng khoẻ, phân cành cao, cành thưa. Lá có màu xanh lục, kích thước lá
lớn, dài 12 cm, rộng 3,5 cm, khối lượng búp tôm 2 lá 1,14g, có nhiều tuyết,
năng suất chè 5 tuổi đạt trên 6 tấn/ha. Chế biến chè xanh tốt, đặc biệt chè

sâu bệnh khá. Chất lượng búp chế biến chè đen tốt, hượng vị đậm đà, có hậu,
chè đen có vị dịu ngọt. Được nhân rộng cho các vùng chè miền núi phía Bắc
có độ cao so với mặt nước biển trên 600m.
+ Giống PH14: Được chọn lọc cá thể từ tập đoàn các giống chè Shan
rừng tại xã Thượng Sơn (Hà Giang), công nhận giống sản xuất thử năm 2010.
Giống có lá màu xanh đậm, búp non xanh phớt tím, có nhiều lông tuyết. Khả
năng chống chịu sâu bệnh khá, riêng đối với nhện đỏ bị gây hại nặng. Nhân
giống có tỷ lệ sống cao đạt 95%. Chất lượng búp chế biến chè xanh, chè đen


15

đều tốt, vị đậm có hậu đặc trưng của sản phẩm chè Shan, chè đen có vị dịu
ngọt. Được nhân rộng cho các vùng chè miền núi phía Bắc có độ cao so với
mặt nước biển trên 600m.
+ Giống Shan Chất Tiền: Tuyển chọn từ tập đoàn chè Shan Hà Giang
1999, công nhận giống sản xuất thử năm 2006. Giống có thân gỗ lớn, phân
cành thấp, cành to khoẻ, chiều cao cây nếu để sinh trưởng tự nhiên có thể đạt
10 - 15 m. Lá có dạng hình thuôn, dài 15 - 20 cm, rộng 4,5 cm, màu xanh vàng
và mềm. Khối lượng búp tôm 2 lá trung bình là 0,84 gam/búp, thuộc loại búp
to. Trên búp non có phủ lớp lông tơ màu trắng, chè 5 tuổi năng suất đạt trên 10
tấn/ha. Khả năng chống chịu sâu bệnh và chịu rét khá. Chất lượng búp chế biến
chè đen cho chất lượng rất cao. Hiện nay đang được trồng chủ yếu ở các tỉnh
Phú Thọ, Sơn La, Lào Cai, Yên Bái và Nghệ An, diện tích trên 300 ha.
- Giống vừa chế biến chè xanh vừa chế biến chè đen và có năng suất
khá là LDP1, Phúc Vân Tiên, PH9, nhóm giống này đã phát huy rất tốt trong
sản xuất hiện nay nhờ sản phẩm có thể thay đổi rất linh động tùy theo yêu cầu
của thị trường.
Đến nay, diện tích giống chè mới đã chiếm 50% tổng diện tích chè cả
nước, tăng 14,4% so năm 2005, việc áp dụng giống mới đã làm tăng năng suất

Việt Nam là một quốc gia với khoảng 120 nghìn ha trồng chè, hiện nay
Việt Nam đã đứng vào hàng thứ 5 về diện tích trong các nước trồng chè, và
với khoảng hơn 80.000 tấn chè xuất khẩu, Việt Nam xếp thứ 8 về khối lượng
trong các nước xuất khẩu chè trên thế giới ( Lê Quốc Doanh và cs, 2001) [0].
Theo tổng công ty chè Việt Nam, đến nay cả nước đã có 34 địa phương
trồng chè và trên 600 doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh chè với hơn 2.000
thương hiệu khác nhau. Đặc biệt, ngành chè đã thiết lập được nhiều vùng chè
chất lượng cao như: Lâm Đồng, Lạng Sơn, Sơn La, Lào Cai, Cao Bằng…
Đồng thời, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã cho phép khảo nghiệm
khu vực hóa trên diện rộng 7 giống chè chất lượng cao như: Bát Tiên, Kim



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status