BÀI 5: CÁC QUY ĐỊNH VỀ KHÔNG PHÂN BIỆT ĐÔI XỬ (MFN)
1. Mục tiêu cơ bản của nguyên tắc đối xử MFN tại Điều I:1 của GATT
1994 là gì ?
- Thực hiện mục tiêu tự do hóa thương mại của WTO
- Đảm bảo rằng việc xuất khẩu hoặc nhập khẩu các sản phẩm tương tự từ
các nước thành viên WTO sẽ được đối xử bình đẳng và không phân biệt.
- Nhằm hướng tới tự do hóa thương mại nhưng vẫn chấp nhận một số ngoại
lệ đặc biệt nhằm đảm bảo sự hiệu quả và công bằng giữa các quốc gia khi thực thi
nguyên tắc này.
2. Để kết luận một biện pháp vi phạm quy định tại Điều I:1 của GATT
1994, cần chứng minh những yếu tố nào? Giải thích ngắn gọn những yếu tố
trên.
- Biện pháp xuất phát từ quốc gia nào và quốc gia nào bị ảnh hưởng lợi ích
từ biện pháp đó ?
Việc xác định chủ thể rất quan trọng vì nó xác định được biện pháp trên có
thuộc phạm vi điều chỉnh của GATT 1994 hay không.
- Biện pháp đó có nằm trong ngoại lệ của Điều I :1 mà quốc gia đó được áp
dụng hay không. Các ngoại lệ cần xác định :
+ Chế độ ưu đãi đặc biệt
+ Hội nhập kinh tế khu vực
+ Các biện pháp đặc biệt dành cho các nước phát triển
1
+ Các ngoại lệ khác(dùng biện pháp cần thiết nhằm mục đích để bảo vệ đạo
đức, trật tự công cộng, bảo vệ sinh mạng và cuộc sống con người, môi trường, tài
nguyên thiên nhiên,…..)
3. Những loại biện pháp nào thuộc phạm vi điều chỉnh của Điều I:1 ?
lập tức’ và ‘vô điều kiện’ trong phạm vi Điều I:1 của GATT?
- Một lợi thế được kết luận là đã được áp dụng một cách “ngay lập tức” và
“vô điều kiện” trong phạm vi Điều I:1 của GATT là khi có một “lợi thế” của một
thành viên WTO dành cho một nước thành viên cụ thể thì “lợi thế” đó sẽ áp dụng
ngay lập tức đến tất cả các sản phẩm tương tự bất kể của thành viên thứ ba nào
của WTO. Và một khi đã trao “lợi thế” thì không thể yêu cầu quốc gia khác cũng
cấp lại một “lợi thế” tương ứng. Vì vậy một nước thành viên WTO không dược đặt
thêm hoặc duy trì điều kiện bổ sung nào đối với việc dành lợi thế và cũng không
được trì hoãn việc dành lợi thế đó.
6. Các điều kiện nào cần có thể Thành viên WTO không thực hiện nghĩa
vụ đãi ngộ tối huệ quốc vì mục đích thành lập một liên minh thuế quan hay
khu vực thương mại tự do dưới quan điểm là hỗ trợ thương mại giữa các lãnh
thổ thành viên? Thế nào là liên minh thuế quan hay khu vực thương mại tự
do định nghĩa theo GATT 1994?
- Theo quy định tại Điều XXIV:8(a) của GATT 1994 thì liên minh thuế quan
là sự thay thế hai hay nhiều lãnh thổ thuế quan bằng một lãnh thổ thuế quan khi sự
thay đổi đó là hệ quả của hai động tác:
+ Những thuế quan và các quy tắc điều chỉnh thương mại có tính chất hạn
chế được triệt tiêu cơ bản trong trao đổi thương mại giữa các lãnh thổ hợp thành
liên minh. Tức mức thuế quan giữa các các nước này đều được bỏ đi.
+ Các thành viên phải áp dụng cơ bản như nhau các mức thuế quan và các
quy định hạn chế thương mại đối với các bên thứ ba.
3
- Theo quy định tại Điều XXIV:8(b) của GATT 1994 thì khu vực thương mại
tự do được định nghĩa là một nhóm gồm hai hay nhiều lãnh thổ thuế quan mà thuế
quan và các quy tắc hạn chế thương mại được triệt tiêu về cơ bản trong trao đổi
thương mại các sản phẩm có xuất xứ từ các lãnh thổ lập thành khu vực thương mại
tự do. Còn thuế quan và các quy tắc hạn chế thương mại đối với các nước không là
Hơn thế nữa còn thúc đẩy các vấn đề thương mại nhạy cảm trong hệ thống thương
mại đa phương (môi trường, lao động, đầu tư....). Như vậy, ngoại lệ này không làm
xói mòn nguyên tắc nền tảng của WTO cũng như không phân biệt đối xử vì khi
thành lập liên minh thuế quan giữa các nước thì các nước thành viên trong liên
minh sẽ dành cho nhau những lợi ích nhất định thông qua những cam kết, các nước
còn lại sẽ coi đó là động lực thúc đẩy chính đất nước đó tham gia vào các liên minh
thuế quan và khu vực thương mại tự do.
8. Tóm tắt án lệ Spain – Unroasted Coffee
Các dữ kiện chính của vụ kiện (Facts)
Tên vụ kiện: Biện pháp đánh thuế hải quan của Tây Ban Nha lên cà phê
chưa rang
Nguyên đơn: Brazil
Bị đơn: Tây Ban Nha (TBN)
Tranh chấp chính: biện pháp đánh thuế lên cà phê chưa rang do Brazil nhập
khẩu vào Tây Ban Nha
Vấn đề tranh chấp: Trước ngày 1/3/1980, cà phê chưa rang nhập khẩu vào
Tây Ban Nha được xếp vào cùng một nhóm. Sau ngày này, quyết định của chính
5
phủ số 1764/79 đã phân loại mặt hàng này vào năm dòng thuế quan khác nhau như
sau:
Cà phê nhẹ Columbia (Columbia mild) Miễn thuế
Các loại cà phê nhẹ khác Miễn thuế
Arập nguyên chất (Unwashed Arabica) 7 % ad valorem
Robusta 7 % ad valorem
Khác 7 % ad valorem
nhau hoàn toàn. Vd như “các loại sản phẩm khác” bao gồm nhiều loại sản phẩm
không đồng nhất với nhau hay những tiêu đề gồm những sản phẩm đồng nhất
nhưng trong nhiều trường hợp chúng không thể là sản phẩm tương tự, vd CCNN
tiêu đề số 15.07 bao gồm nhiều loại dầu thực vật.
Tồn tại sự khác nhau về chất lượng giữa những loại cà phê khác nhau tùy
thuộc điều kiện kĩ thuật, kinh tế. Hạt cà phê Robusta có hình thái khác cà phê A
rập, có thành phần cấu tạo vật lý khác nhau và tính chất vật lý khác nhau ( cà phê
Robusta ít thơm và hòa tan nhanh hơn cà phê Robusta)
Mặc dù cà phê nhẹ và cà phê chưa rang A rập đều thuộc nhóm Cà phê A rập
nhưng lại khác nhau về chất lượng do điều kiện thời tiết trồng trọt, kĩ thuật canh
tác khác nhau làm mùi hương, hương vị khác nhau quyết định đến sự tiêu thụ
những sản phẩm đó sẽ khác nhau.
Thị hiếu của người tiêu dùng cho những loại cà phê khác nhau cũng khác
nhau. Đa số mọi người thích cà phê trộn hơn. Điều đó chứng tỏ rằng đa số cà phê
không thể như nhau.
7
Chính sự khác nhau về thành phần, tính chất vật lý của sản phẩm và thị hiếu
thói quen của người tiêu dùng khác nhau nên không thể kết luận những sản phẩm
trên là sản phẩm tương tự.
Người đại diện của TBN giải thích cho việc đánh thuế nhập khẩu cà phê nhẹ
thấp hơn phản ánh quan tâm sâu sắc của chính phủ TBN về những tác động về giá
có thể xảy ra và nỗ lự thúc đẩy quá trình tự do hóa thương mại. Bên cạnh đó 1
lượng lớn cà phê nhẹ được tiêu thụ ở TBN, chính vì thế thông qua hệ thống giá
được chính phủ ban hành để duy trì được lượng lớn tiêu thụ cà phê nhẹ.
Từ những gì đã đề cập, chính phủ TBN cho rằng cách duy nhất để hòa hợp
thị hiếu của khách hàng và sự lưu thông buôn bán cà phê là thiết lập những giá trị
thuế suất khác nhau với 0% trên mặt hàng cà phê đắt nhất ví dụ như cà phê nhẹ.
coffee) có phải là những sản phẩm tương tự trong phạm vi của Điều I.1 GATT
1994 về đãi ngộ tối huệ quốc?
Cơ sở pháp lý để giải quyết (Law)
Cơ sở pháp lý: điều I:1 GATT 1947
Brazil cho rằng Tây Ban Nha đã vị phạm nghĩa vụ đối xử tối huệ quốc với
“sản phẩm tương tự” theo I:1 GATT 1947 cụ thể là biện pháp đánh thuế kém thuận
lợi hơn đối với sản phẩm cà phê do Brazil nhập khẩu so với 2 loại cà phê tương tự
khác( cà phê A rập chưa rang và cà phê Robusta)
Kết luận của cơ quan giải quyết tranh chấp (Holdings)
Quyết định của ban hội thẩm:
Sau khi tiến hành kiểm tra những thông tin thực tế và xét những ý kiến tranh
luận của 2 bên, ban hội thẩm kết luận rằng Cà phê nhẹ (mild coffee) và cà phê
nguyên chất (unwashed coffee) là những sản phẩm tương tự trong phạm vi của
9
Điều I:1 GATT 1994 về đãi ngộ tối huệ quốc, do sự khác biệt cảm quan không đủ
để tạo thành sự khác biệt về tính chất vật lý, không có sự phân biệt về công dụng
cuối cùng của các loại cà phê khác nhau và không có sự khác biệt về phân loại thuế
quan.
Lập luận chính của cơ quan giải quyết trnah chấp để đi đến kết luận
(Reasoning)
Sau khi xem xét nghị định 1764/79 , Nhóm chuyên gia của GATT đã đi đến
kết luận như sau: ''Hiệp định GATT không quy định nghĩa vụ cho các bên ký kết
phải tuân thủ một hệ thống phân loại hàng hoá đặc biệt nào. Tuy nhiên, Điều I.1