MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
BNV
CBCC
CCTC
CTTCKHTL
CLTL
CNTT
CP
CQBNV
HCVT-LT
HN
NĐ
NXB
PL
PLTBNV
PLT
PLTL
QH
TCKHTL
TLLT
VN
XĐGTTL
Cụm từ đầy đủ
Bộ Nội Vụ
Cán bộ công chức
bộ phận của nền hành chính phải có những đổi mới nhanh chóng, phù hợp
với xu thế của thời đại.
Công tác lưu trữ là một lĩnh vực hoạt động quản lý nhà nước bao
gồm tất cả những vấn đề về lý luận, thực tiễn và pháp chế liên quan tới
việc tổ chức khoa học tài liệu (TCKHTL), bảo quản và tổ chức khai thác,
sử dụng tài liệu lưu trữ (TLLT) phục vụ công tác quản lý, nghiên cứu khoa
học và các nhu cầu cá nhân.
Công tác lưu trữ bao gồm 3 quy trình nghiệp vụ cơ bản:
TCKHTL lưu trữ;
Bảo quản tài liệu lưu trữ;
Tổ chức khai thác, sử dụng tài liệu lưu trữ.
Mỗi quy trình nghiệp vụ lại có những ý nghĩa quan trọng riêng, gắn bó
khăng khít với nhau. Trong đó TCKHTL lưu trữ là một trong ba quy trình
nghiệp vụ cơ bản của công tác lưu trữ, có mối quan hệ chặt chẽ với quy trình
bảo quản tài liệu và tổ chức khai thác, sử dụng tài liệu, quyết định đến hiệu
quả của công tác lưu trữ. Đây là khâu nghiệp vụ cơ bản gồm nhiều quy trình
nghiệp vụ như: thu thập tài liệu vào lưu trữ, phân loại (PL), chỉnh lý tài liệu
(CLTL), xác định giá trị tài liệu (XĐGTTL) và xây dựng công cụ tra cứu
3
(CCTC). TCKHTL lưu trữ là đầu vào của thông tin TLLT, làm tốt thông tin
đầu vào TLLT, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác bảo quản và đặc biệt là
khai thác sử dụng thông tin TLLT.
Việc TCKHTL lưu trữ ở mỗi phông lưu trữ (PLT) khác nhau phụ thuộc
vào đặc điểm của cơ quan đơn vị hình thành phông, đặc điểm của tài liệu
trong phông. Để làm tốt công tác tổ chức khoa học tài liệu (CTTCKHTL) của
mỗi PLT chúng ta không chỉ áp dụng lý luận chung mà đòi hỏi phải có sự
nghiên cứu thực tiễn, tìm hiểu đặc điểm của từng cơ quan, đơn vị hình thành
TCKHTL là một trong ba quy trình nghiệp vụ cơ bản của công tác lưu
trữ, giữ vai trò quyết định đến hiệu quả của công tác lưu trữ. Do đó đây là vấn
đề nghiên cứu cơ bản được nhiều người quan tâm, đặc biệt là các giáo sư, tiến
sỹ đầu ngành lưu trữ, các giảng viên giảng dạy bộ môn lưu trữ học, cán bộ,
nhân viên trong ngành lưu trữ và các sinh viên, các nghiên cứu sinh chuyên
ngành lưu trữ.
Một số đề tài về tổ chức KHTL phông lưu trữ đã được nghiên cứu như:
Tác giả Hà Văn Phước, sinh viên Trường Đại học Nội vụ HN với đề tài
khóa luận “Tổ chức khoa học tài liệu Phông lưu trữ Công ty TNHH Hãng
Kiểm toán AASC”
Tác giả Nguyễn Thị Hồng Hạnh, sinh viên Trường Đại học Khoa học
Xã hội và Nhân văn với đề tài khóa luận “Tổ chức khoa học tài liệu Phông
lưu trữ Quận ủy Đống Đa”
Tác giả Nguyễn Thị Dung, sinh viên Trường Đại học Khoa học Xã hội
và Nhân văn với đề tài khóa luận “Tổ chức khoa học tài liệu lưu trữ của
Trường Đại học Y Hà Nội”
Tác giả Hán Thị Hồng Hải, sinh viên Trường Đại học Khoa học Xã hội
và Nhân văn với đề tài khóa luận “Tổ chức khoa học tài liệu phông lưu trữ
Tập đoàn Điện lực Việt Nam. Thực trạng và giải pháp”
5
Tác giả Đỗ Thị Phương, sinh viên Trường Đại học Khoa học Xã hội và
Nhân văn với đề tài khóa luận “Tìm hiểu việc tổ chức khoa học tài liệu lưu
trữ tại Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam”
Phần lớn các đề tài trên mới chỉ nghiên cứu công tác này ở các cơ quan
sự nghiệp, các doanh nghiệp…, chưa có đề tài nào nghiên cứu ở cấp bộ, cụ
thể là BNV. Bên cạnh đó, trong các đề tài phần lớn giải pháp được nêu ra
chưa đồng bộ, mang tính đơn lẻ, chưa cụ thể nên sự thay đổi chất lượng
5. 5.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là CTTCKHTL PLTBNV, bao gồm
các quy trình nghiệp vụ cụ thể như: thu thập tài liệu vào lưu trữ; PLTL;
CLTL; XĐGTTL; Xây dựng CCTC TLLT.
Do khuôn khổ phạm vi của đề tài khóa luận tốt nghiệp, đề tài chỉ tập
trung nghiên cứu công tác TCKHTL PLTBNV mà chưa có điều kiện tìm hiểu
toàn bộ nội dung công tác lưu trữ của Bộ Nội vụ.
6. 6.Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Để hoàn thành được nhiệm vụ nghiên cứu đề ra, tác giả đã sử dụng:
Phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh
và các phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể sau:
Phương pháp hệ thống: Tác giả đã nghiên cứu và sử dụng phương pháp
này để hệ thống các quy định pháp lý về TCKHTL; để khái quát chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của BNV;
Phương pháp điều tra, khảo sát, phỏng vấn: Đây là nhóm phương pháp
quan trọng và tác giả đã sử dụng trong quá trình thực hiện đề tài. Phương pháp
này được sử dụng để khảo sát thực tế, tiến hành thu thập thông tin. Tác giả đã
tiến hành khảo sát cụ thể từng nghiệp vụ lưu trữ như thu thập tài liệu, PL,
XĐGTTL, chỉnh lý, xây dựng CCTC. Ngoài ra, tác giả còn trực tiếp trao đổi,
phỏng vấn lãnh đạo Văn phòng Bộ, cán bộ lưu trữ của Bộ và một số cán bộ của
các Vụ chức năng BNV;
Phương pháp phân tích, so sánh, đối chiếu: Tác giả sử dụng phương
7
pháp này để phân tích kết quả điều tra, khảo sát thực tế từ lưu trữ BNV, từ đó
so sánh, đối chiếu giữa lý luận với thực tế để tìm ra ưu điểm, hạn chế, nguyên
nhân của hạn chế.
Các phương pháp này đều được tác giá sử dụng đan xen và kết hợp linh
thiện các văn bản hướng dẫn CTTCKHTL PLTBNV; Tăng cường kiểm tra,
đánh giá về công tác lưu trữ; Đầu tư hơn nữa về cơ sở vật chất; Cải tiến chất
lượng công tác nghiệp vụ…
Trong quá trình thực hiện đề tài khóa luận, tác giả đã nhận được sự giúp
đỡ từ phía giảng viên hướng dẫn - thạc sĩ Trịnh Thị Kim Oanh, từ phía lãnh đạo
Văn phòng Bộ - ông Nguyễn Tiến Thành, trưởng phòng HCVT-LT bà - Nguyễn
Thị Dung, cùng toàn thể cán bộ văn thư, cán bộ lưu trữ cơ quan Bộ.
Bên cạnh những thuận lợi, tác giả đã gặp những khó khăn nhất định
trong quá trình khảo sát, thu thập thông tin như việc chia sẻ thông tin từ các
cán bộ lưu trữ của Văn phòng Bộ còn hạn chế, chưa cụ thể, các thông tin về
PLTBNV còn mang tính chung chung. Điều đáng nói là trong chương trình
đào tạo ngành Lưu trữ học khóa K1 chưa có học phần phương pháp luận
nghiên cứu khoa học. Với những khó khăn nêu trên khóa luận không thể tránh
khỏi những khiếm khuyết. Vì vậy, tác giả rất mong nhận được sự góp ý của
các thầy, cô để bài khóa luận được hoàn thiện hơn.
Nhân đây, tác giả cũng xin trân trọng cảm ơn các thầy cô giáo trong Khoa
Văn thư - Lưu trữ trường Đại học Nội vụ HN - nơi đã truyền thụ kiến thức khoa
học về lưu trữ cho các thế hệ sinh viên; Các cán bộ, công chức BNV đã cung cấp
thông tin, số liệu phản ánh thực tiễn công tác TCKHTL PLT BNV. Hơn nữa, tác
giả xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc tới thạc sĩ Trịnh Thị Kim Oanh đã tận tình
hướng dẫn tác giả triển khai và hoàn thiện khóa luận này.
Hà Nội, ngày 15 tháng 4 năm 2016
Sinh viên
Nguyễn Thị Hà
9
PHẦN NỘI DUNG
TLLTđược hình thành trong quá trình hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá
nhân theo những đặc trưng nhất định, đảm bảo tính khách quan, chính xác, có
hệ thống nhằm phục vụ tốt nhất nhu cầu khai thác, sử dụng tài liệu.
1.1.2. Mục đích, ý nghĩa của công tác tổ chức khoa học tài liệu
Công tác lưu trữ là một lĩnh vực hoạt động quản lý nhà nước bao gồm
tất cả những vấn đề lý luận, thực tiễn và pháp chế liên quan đến việc
TCKHTL, bảo quản và tổ chức khai thác, sử dụng TLLT phục vụ công tác
quản lý, nghiên cứu khoa học và các nhu cầu cá nhân [27].
Tổ chức khoa học tài liệu là một trong ba nhiệm vụ sự nghiệp của công
tác lưu trữ, có ý nghĩa quan trọng, thiết thực đối với công tác lưu trữ, quyết
định đến hiệu quả của công tác lưu trữ. CTTCKHTL là quy trình nghiệp vụ
đầu tiên, làm tốt công tác này sẽ tạo thuận lợi cho công tác bảo quản và công
tác khai thác sử dụng TLLT. Mỗi quy trình nghiệp vụ trong công tác lưu trữ
đều có mối quan hệ biện chứng với nhau, thực hiện tốt quy trình nghiệp vụ
này là cơ sở để làm tốt các quy trình nghiệp vụ khác.
Một khối tài liệu hay một phông lưu trữ được tổ chức tốt, khoa học
góp phần tối ưu hóa thành phần phông lưu trữ, tiết kiệm được diện tích kho
bảo quản, trang thiết bị bảo quản tài liệu và chi phí khác dành cho công tác
lưu trữ.
Với các ý nghĩa như trên, CTTCKHTL lưu trữ có ý nghĩa vô cùng quan
trọng đối với công tác lưu trữ.
1.1.3. Yêu cầu của CTTCKHTL
CTTCKHTL phải dựa trên đặc điểm của từng loại hình tài liệu, tình
trạng cơ sở vật chất của cơ quan lưu trữ, giữa lý luận và thực tiễn công tác lưu
trữ, dựa trên các nguyên tắc, thống nhất trong một phông lưu trữ và toàn
phông lưu trữ Quốc gia. Tài liệu sau khi được tổ chức khoa học phải đảm bảo
các yêu cầu nghiệp vụ công tác lưu trữ, đảm bảo tính lôgic hợp lý, phản ánh
12
nói chung.
c) Nội dung công tác thu thập, bổ sung tài liệu vào lưu trữ
Xác định nguồn thu thập, bổ sung;
Xác định thành phần tài liệu thuộc diện nộp lưu để thu thập, bổ sung
vào lưu trữ;
Phân chia các nguồn tài liệu vào mạng lưới kho lưu trữ:
- Kho lưu trữ Đảng thu thập tài liệu thuộc PLT Đảng Cộng sản VN
- Kho lưu trữ Nhà nước thu thập tài liệu thuộc PLT Nhà nước
Thực hiện thủ tục giao nộp tài liệu vào kho lưu trữ.
d) Các nguyên tắc thu thập tài liệu vào các lưu trữ
Hoạt động thu thập tài liệu vào lưu trữ phải đảm bảo những nguyên tắc
sau:Thu thập, bổ sung tài liệu theo thời đại lịch sử; Không phân tán phông;
Thu thập, bổ sung tài liệu theo khối PLT; Thu thập bổ sung tài liệu theo khu
vực thẩm quyền;
1.1.4.2. PLTL
a) Khái niệm
PLTL lưu trữ là căn cứ vào những đặc trưng phổ biến của việc hình
thành tài liệu để phân chia chúng ra các khối, các nhóm, hoặc các đơn vị chi
tiết lớn, nhỏ khác nhau nhằm mục đích quản lý và sử dụng có hiệu quả những
tài liệu đó [30, 59].
b) Mục đích
Việc PLTL có hai mục đích cơ bản sau:
- PL để TCKHTL của các PLT
- PLTL nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý và khai thác, sử
dụng tài liệu.
c) Yêu cầu
14
Để xây dựng phương án PLTL cho một PLT cần dựa vào những đặc
trưng cơ bản sau:
Đặc trưng cơ cấu tổ chức
Đặc trưng mặt hoạt động
Đặc trưng thời gian
Đặc trưng địa danh
Đặc trưng vấn đề
Khi PLTL, không chỉ vận dụng một đặc trưng mà phải biết kết hợp một
cách linh hoạt nhiều đặc trưng khác nhau. Vì vậy, các đặc trưng PL nêu trên
không phải đều có ý nghĩa như nhau đối với tất cả các PLT mà trong đó có
những đặc trưng chủ yếu và những đặc trưng thứ yếu. Đặc trưng chủ yếu là
những đặc trưng cơ bản được áp dụng để phân tài liệu thành các nhóm cơ bản
ngay từ những bước đầu tiên tiến hành PLTL trong phạm vi toàn PLT. Những
đặc trưng chỉ áp dụng để PLTL từ những nhóm lớn thành nhứng nhóm nhỏ
được xem là những đặc trưng thứ yếu.
1.1.4.3. Xác định giá trị tài liệu
a) Khái niệm
XĐGTTL là việc đánh giá giá trị tài liệu theo những nguyên tắc,
phương pháp, tiêu chuẩn theo quy định của cơ quan có thẩm quyền để xác
định những tài liệu có giá trị lưu trữ, thời hạn bảo quản và tài liệu hết giá trị
(khoản 14, điều 02, Luật Lưu trữ 2011).
b)Mục đích,ý nghĩa
Giúp cho việc quản lý TLLT được chặt chẽ.
Tạo điều kiện để bổ sung tài liệu có giá trị vào các PLT, tối ưu hoá PLT
Quốc gia VN, nâng cao hiệu quả phục vụ khai thác sử dụng TLLT.
Tiết kiệm diện tích kho tàng và phương tiện bảo quản tài liệu (khắc
phục tình trạng tài liệu tích đống trong cơ quan).
quá trình nghiên cứu các nguyên tắc và phương pháp XĐGTTL các nhà
nghiên cứu đã đưa ra một số các tiêu chuẩn làm thước đo cụ thể, chi tiết đánh
giá giá trị của tài liệu. Có rất nhiều tiêu chuẩn được xây dựng và áp dụng
trong XĐGTTL, theo Khoản 3 điều 16 Luật Lưu trữ năm 2011 các tiêu chuẩn
16
xác định giá trị tài liệu bao gồm: Tiêu chuẩn nội dung của tài liệu; Tiêu chuẩn
vị trí của cơ quan, tổ chức, cá nhân hình thành tài liệu; Tiêu chuẩn ý nghĩa của
sự kiện, thời gian và địa điểm hình thành tài liệu; Tiêu chuẩn mức độ toàn vẹn
của phông lưu trữ; Tiêu chuẩn hình thức của tài liệu; Tiêu chuẩn tình trạng vật
lý của tài liệu.
f) Phương pháp XĐGTTL
Khi tiến hành XĐGTTL, việc áp dụng các nguyên tắc, các tiêu chuẩn
như đã trình bày ở trên là chưa đủ. Để tiến hành XĐGTTL cần phải có
phương pháp. Phương pháp ở đây được hiểu như là tổng hợp các biện pháp
hay là các thủ pháp nghiệp vụ. Trong XĐGTTL người ta áp dụng bốn phương
pháp sau: Phương pháp hệ thống; Phương pháp phân tích chức năng; Phương
pháp thông tin và Phương pháp phân tích sử liệu.
g) Tổ chức XĐGTTL
Tổ chức công tác XĐGTTL là việc thực hiện XĐGTTL theo một trình
tự, ở các giai đoạn khác nhau của công tác lưu trữ. Việc tổ chức XĐGTTL có
ý nghĩa đặc biệt quan trọng, quyết định đến số phận của tài liệu do đó phải
được tiến hành một cách thận trọng, người tham gia hội đồng XĐGTTL phải
có kiến thức hiểu biết pháp luật lưu trữ và đặc biệt là phải am hiểu về tài liệu
đưa ra xác định giá trị. Công tác XĐGTTL thường diễn ra ở ba giai đoạn: Văn
thư; Lưu trữ cơ quan; Lưu trữ lịch sử.
h) Thời hạn bảo quản tài liệu
Thời hạn bảo quản tài liệu là khoảng thời gian cần thiết để lưu giữ hồ
liệu trong các phông lưu trữ cơ quan, trong toàn Phông lưu trữ Quốc gia
Việt Nam.
Thực hiện tốt công tác chỉnh lý tạođiều kiện thuận lợi để quản lý, khai
thác sử dụng và đặc biệt là phát huy giá trị của TLLT theo tinh thần Chỉ thị số
05/2007/CT-TTg của Thủ tướng CP ban hành ngày 02/3/2007 về việc tăng
cường bảo vệ và phát huy giá trị của TLLT.
Chỉnh lý tài liệu là nghiệp vụ trung tâm trong công tác lưu trữ có mối
18
quan hệ đến hầu hết các khâu nghiệp vụ khác. Giải quyết tốt công tác
chỉnh lý góp phần thực hiện tốt công tác thu thập tài liệu vào lưu trữ, là cơ
sở để thực hiện tốt công tác quản lý, thống kê, bảo quản và khai thác sử
dụng TLLT.
c) Yêu cầu của công tác chỉnh lý
Tùy theo điều kiện thực tế về cơ sở vật chất, kinh phí và nguồn nhân
lực và tình hình khối tài liệu đưa ra chỉnh lý (mức độ phân loại, lập hồ sơ) mà
thực hiện hoàn chỉnh hay một số công đoạn của quy trình chỉnh lý.
Tài liệu sau khi chỉnh lý phải bảo đảm các yêu cầu cơ bản sau đây:
- Được PL theo nguyên tắc nghiệp vụ lưu trữ;
- Được xác định thời hạn bảo quản;
- Hồ sơ được hoàn thiện và hệ thống hoá;
- Có mục lục hồ sơ, cơ sở dữ liệu tra cứu và danh mục tài liệu hết giá trị.
d) Các nguyên tắc chỉnh lý tài liệu
Không phân tán PLT, tài liệu của từng đơn vị hình thành phông phải
được chỉnh lý và sắp xếp riêng biệt.
Tài liệu khi PL, lập hồ sơ phải đảm bảo sự hình thành tự nhiên của tài liệu.
Tài liệu sau khi chỉnh lý phải phản ánh được các hoạt động của cơ
quan, tổ chức phải phản ánh được mối liên hệ lôgic và lịch sử của tài liệu.
nhanh chóng theo yêu cầu của độc giả.
d) Các loại công cụ tra cứu tài liệu lưu trữ
Có rất nhiều loại công cụ tra cứu trong các lưu trữ, trong đó phải kể tới
một số các công cụ truyền thống và được sử dụng phổ biến nhất đó là mục lục
hồ sơ. Đây là loại công cụ được sử dụng ở tất cả các lưu trữ lịch sử cũng như
lưu trữ cơ quan.
Sách chỉ dẫn phông lưu trữ, Sổ thống kê mục lục hồ sơ... đây là loại
công cụ tra cứu hầu như chỉ có trong các lưu trữ lịch sử, nơi mà bảo quản một
khối lượng lớn tài liệu và có nhiều phông khác nhau.
Ngoài ra còn có bộ thẻ tra tìm tài liệu lưu trữ. Đây là loại công cụ tra
cứu mà thông tin tài liệu lưu trữ được phân loại theo ngành hoạt động xã hội,
20
theo chuyên đề, sự vật. Loại công cụ này hiện nay ít được xây dựng ở các lưu
trữ của Việt Nam. Hiện tại chỉ có Trung tâm Lưu trữ Quốc gia 1 còn sử dụng
loại công cụ tra cứu này.
Ngày nay cùng với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin một
loại hình công cụ tra cứu tài liệu lưu trữ mới ra đời: cơ sở dữ liệu lưu trữ. Đây
là loại công cụ tra cứu với nhiều ưu việt như tra cứu nhanh chóng, chính xác,
khả năng tập hợp thông tin hồ sơ theo yêu cầu của độc giả rất nhanh và hiệu
quả, có thể tra cứu từ xa, phục vụ nhiều người tra cứu trong cùng một thời
điểm. Đây sẽ là phương tiện tra cứu phổ biến trong tương lai gần. Hạn chế
của loại công cụ tra cứu này là tồn tại dưới dạng điện tử, khi sử dụng phụ
thuộc hoàn toàn vào máy móc và trình độ người sử dụng.
1.2. Cơ sở pháp lý của việc TCKHTL
1.2.1. Văn bản Luật
Có thể nói, trải qua hơn sáu thập kỷ - kể từ khi Chủ tịch Hồ Chí Minh
ký ban hành Thông đạt số 01/CV cho đến nay, xác định được vai trò, vị trí
dân tộc giải phóng VN do Quốc dân Đại hội Tân Trào bầu ra đã được cải tổ
thành CP lâm thời nước VN Dân chủ Cộng hòa. Trong thành phần CP lâm
thời có BNV do đồng chí Võ Nguyễn Giáp làm Bộ trưởng với nhiệm vụ xây
dựng bộ máy nhà nước, bảo vệ chính quyền cách mạng
Ngày 26-2-1970 Hội đồng CP ban hành Quyết định số 40/CP về việc
điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ của BNV. BNV lúc này chỉ thực hiện một số
nhiệm vụ xã hội. Ngày 6-6-1975, tại kỳ họp thứ nhất, QH khóa V đã quyết
định hợp nhất Bộ Công an và BNV thành một Bộ lấy tên là BNV với chức
22
năng bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội.
Để chuẩn bị cho một Nhà nước thống nhất, trên cơ sở những chức năng,
nhiệm vụ của công tác tổ chức nhà nước được chuyển từ BNV về Phủ Thủ
tướng, ngày 20-2-1973 Hội đồng CP ban hành NĐ số 29/CP lập Ban Tổ chức
của CP để thực hiện nhiệm vụ giúp CP quản lý công tác tổ chức theo chủ
trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, xây dựng,
kiện toàn bộ máy nhà nước trong điều kiện tình hình, nhiệm vụ mới.
Khi đất nước tiến hành công cuộc đổi mới, thực hiện nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đòi hỏi phải cải cách bộ máy nhà nước
theo tinh thần Đại hội Đảng lần thứ VI. Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành NĐ
số 135/HĐBT ngày 7-5-1990 quy định tên gọi, vị trí, chức năng, nhiệm vụ
của Ban Tổ chức - Cán bộ của CP. Ngày 30-9-1992 tại kỳ họp thứ nhất QH
khóa IX, Ban Tổ chức cán bộ CP được xác định là cơ quan ngang Bộ, ngày 911-1994 CP đã ban hành NĐ số 181/CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền
hạn và cơ cấu của Ban Tổ chức - Cán bộ CP.
Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ về công tác xây dựng bộ máy và đội ngũ
cán bộ, công chức trong tình hình mới, ngày 5-8-2002 QH khóa XI quyết định
đổi tên Ban Tổ chức - Cán bộ CP thành BNV. Ngày 9-5-2003 CP đã ban hành
NĐ số 45/2003/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ
Vụ Hợp tác quốc tế
Vụ Tổ chức cán bộ
Thanh tra Bộ
Văn phòng Bộ (có cơ quan thường trực tại TP Hồ Chí Minh và TP
Đà Nẵng)
12. Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước
13. Học viện Hành chính quốc gia
14. Viện nghiên cứu khoa học tổ chức nhà nước
15. Tạp chí Tổ chức nhà nước
16. Trung tâm Tin học
Năm 2008, với việc triển khai chức năng nhiệm vụ của Bộ đa ngành, đa
lĩnh vực, CP ban hành NĐ 48/2008/NĐ-CP ngày 17/4/2008 quy định chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của BNV, theo đó BNV có chức
năng quản lý nhà nước về các ngành, lĩnh vực: tổ chức hành chính, sự nghiệp
nhà nước; chính quyền địa phương, địa giới hành chính; cán bộ, công chức,
viên chức nhà nước; Hội, tổ chức phi CP; thi đua, khen thưởng; tôn giáo; cơ
yếu; văn thư, lưu trữ nhà nước và quản lý nhà nước đối với dịch vụ công
thuộc lĩnh vực quản lý của Bộ theo quy định của pháp luật. Lúc này, cơ cấu tổ
chức của Bộ được bổ sung các đơn vị, cụ thể như sau:
1. Vụ Pháp chế
2. Vụ Kế hoạch - Tài chính
3. Vụ Tổng hợp
4. Ban Thi đua khen thưởng trung ương
5. Ban Tôn giáo CP
6. Ban Cơ yếu CP
7. Cơ quan đại diện của Bộ tại TP Hồ Chí Minh
8. Cơ quan đại diện của Bộ tại TP Đà Nẵng
24
7.
Vụ Tổ chức Biên chế
Vụ Chính quyền địa phương
Vụ Công chức Viên chức
Vụ Đào tạo, bồi dưỡng CBCC nhà nước
Vụ Tiền lương
Vụ Tổ chức Phi CP
Vụ Cải cách hành chính
25