tiểu luận đề tài tâm lý học đại cương - Pdf 38

TRƯỜNG………………..
KHOA…………………………..

Tiểu luận
ĐỀ TÀI:

Mối quan hệ di truyền và tâm lí

1


MỤC LỤC
Sơ lược về mối quan hệ di truyền và tâm lí.........................................................................2
B.Phần nội dung:.................................................................................................................3
I.Tổng quát về di truyền và tâm lí........................................................................................3
1.Di truyền...........................................................................................................................3
2, Tâm lý..............................................................................................................................4
a, Khái niệm :.......................................................................................................................4
1:Mức độ quan hệ,điều kiện môi trường.....................................................................11
2:Đặc điểm tính cách..................................................................................................11
4.Yếu tố sinh lí cũng bị thay đổi trong đời sống tâm lí.....................................................11
..........................................................................................................................................11

A.Mở đầu:
Sơ lược về mối quan hệ di truyền và tâm lí.
Đối với con người, mỗi cá thể sinh ra đã nhận được theo con đường di truyền từ các
thế hệ trước một số đặc điểm về cáu tạo, chức năng của cơ thể. Trong đó có những đặc

2



nguyên nhân sinh ra quá trình sống của cơ thể và nó truyền đạt tất cả các hiện tượng tâm
lý vốn có của con người. Các nhà duy tâm khách quan, như G. Berkeley ( 1685 – 1753)
cho rằng, thế giới ý niệm ra vạn vật, sinh ra thế giới vật chất. Còn các nhà duy tâm chủ
quan cho rằng, vốn dĩ có thế giới vật chất, những vật chất cụ thể là do cảm giác của con
người mà có. Thuyết linh hồn của Platon ở phương tây, thuyết tâm của đạo khổng
phương đông đều tuyệt đối hóa thuộc tính tinh thần của tâm lý, hoàn toàn tách biệt tâm lý
khỏi vật chất.
Những người theo trường phái “nhị nguyên luận” như Decarte ( 1596 - 1650), đã
dùng khái niệm phản xạ để giải thích các hoạt độngcủa cơ bắp đơn giản của động vật, của
con người và cho rằng những hoạt động chủ định, có ý thức của con người và là do linh
hồn điều khiển. Theo J.Lock tâm lý con người là những kinh nghiệm. Kinh nghiệm bên
ngoài do tác động bên ngoài vào giác quan mà có; kinh nghiệm bên trong được sinh ra từ
“ ý thức bên trong”, tự nó hoạt động, chỉ tự nó mới biết được nó. Quan niệm nhi nguyên
là sự biến dạng của chủ nghiã duy tâm.
Đối lập với quan điểm của chủ nghiã duy tâm là chủ nghĩa duy vật. Theo họ,
trong vũ trụ bao la chỉ có vật chất là tồn tại mãi mãi và luôn luôn biến đổi, với những tính
chất muôn hình muôn vẻ. Tâm lý không tồn tại ngoài vật chất.
Quan điểm duy vật thô sơ cho rằng tâm lý là một thứ vật hoặc do các vật chất khác sinh
ra như lửa, nước, không khí...
Démocrit: Não là chỗ trú ngụ của linh hồn, là trung tâm hoạt động của tâm thần.
Aristot (384-322 trước CN): Cảm giác do tác động của vật vào giác quan gây ra, tinh thần
là chức năng của thân thể, thị giác là chức năng của mắt.
Các nhà duy vật Trung Quốc đã từng dùng thuyết ngũ hành để giải thích nguồn gốc của
vật chất (Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ).
Tuân Tử ( 315-230 trước CN) cho rằng: Thân thế con người sinh ra tinh thần và cái tốt,
cái xấu ... đều nằm trong thân thế con người.

4



khác nhau phản ảnh khác nhau)
Trong mối quan hệ qua lại với thế giới xung quanh, con người không chỉ nhận cảm, suy
nghĩ, nhớ lại hoặc tưởng tượng ra mà còn thực hiện những hành động khác nhau gây nên
những biến đổi thế giới xung quanh nhằm thỏa mãn nhu cầu không ngừng tăng lên của
mình.
- Tâm lý con người có bản chất xã hội lịch sử
Đây là điểm khác nhau giữa tâm lý người và tâm lý động vật. Con người khi sống trong
xã hội lời người đã giao tiếp với nhau, cùng nhau lao động và phát triển xã hội.Tâm lý
con người có bản chất xã hội lịch sử, phản ảnh sự hình thành và phát triển của lịch sử xã
hội.Trong hoạt động, nhất là trong hoạt động sống, con người đã chuyển các hiện tượng
tâm lý của mình vào những sản phẩm vật chất hoặc tinh thần. Ngược lại, khi con người
sử dụng các sản phẩm, các công cụ lao động ... con người lại bóc tách những tinh túy
tâm lý mà loài người, xã hội gửi gắm vào đó thành hiện tượng tâm lý của riêng mình. Vì
vậy, trong mỗi hiện tượng tâm lý của con người đều mang dấu ấn của xã hội mà con
người đang ssống và thay đổi theo lịch sử phát triển xã hội mà con người đã trải qua.Con
người trên thực tế nếu thoát khỏi

5


các mối quan hệ xã hội thì con người sẽ bị mất bản tính người.
Tham gia vào sự hình thành và phát triển tâm lý con người có những yếu tố cơ
bản sau: bẩm sinh, di truyền về mặt sinh học hoặc truyền lại cho nhau qua công cụ, đồ
vật, hoạt động giao tiếp, giáo dục và tự giáo dục, điều kiện và hoàn cảnh sống…
b, Đặc điểm :
Hiện tượng tâm lý là hình ảnh của thế giới khách quan trong óc người. Là hiện tượng chủ
quan nhưng là hình ảnh của hiện tại diễn ra ở thế giới bên trong của con người. Hiện
tượng tâm lý có các đặc điểm:
- Tính chủ thể
Sự phản ánh tâm lý khác với sự phản ánh cơ giới vào sinh vật, bao giờ nó cũng mang dấu

Thuyết tiền định:

6


Thuyết này coi sự phát triển tâm lý là do các tiềm năng sinh vật gây ra, con người có tiềm
năng này từ khi mới sinh ra và sự phát triển chỉ là sự trưởng thành, chín muồi của những
thuộc tính đã có sẵn ngay từ đầu và được quyết định bằng con đường di truyền này.
Các nhà tâm lý học cho rằng: Những thuộc tính của nhân cách, năng lực cũng được mã
hóa, chương trình hóa trong các trang bị gen. Chẳng hạn S. Frớt cho rằng động lực phát
triển tâm lý là các bản năng. J. Điuây cho rằng nhu cầu và các thuộc tính tâm lý được sắp
sẵn trong gen. Các yếu tố di truyền quyết định giới hạn của giáo dục. Tuy nhiên, có
những người theo thuyết này có đề cập đến yếu tố môi trường nhưng theo họ môi trường
chỉ là “ yếu tố điều chỉnh”, “yếu tố thể hiện một nhân tố bất biến nào đó ở trẻ”. Một số
nhà tâm lý học Mỹ đã sử dụng quan điểm của E. Toodai có từ những năm 20-30 của thế
kỷ XX đã nói đến vai trò của giáo dục trong sự phát triển tâm lý người. Nhưng họ vẫn
khẳng định rằng, tiềm năng sinh vật bẩm sinh đã đã quyết định trước giới hạn của sự phát
triển tâm lý. Theo nhà tâm lý học E. Toocdai thì: “ Tự nhiên ban cho con người một vốn
nhất định, giáo dục cần phải làm bộc lộ vốn đó là vốn gì và phải sử dụng nó bằng phương
tiện tốt nhất” và “vốn tự nhiên đó” đặt ra giới hạn cho sự phát triển, cho nên một bộ phận
học sinh tỏ ra không đạt được kết quả nào đó “ dù giảng dạy tốt”, số khác lại tỏ ra có
thành tích “ dù giảng dạy tồi”... Từ quan điểm này làm cho con người mất lòng tin vào
giáo dục, vào sự tu dưỡng và cải tạo bản thân. Họ cho rằng vai trò của giáo dục là thứ
yếu, trẻ tốt hay xấu, học giỏi hay kém không phải do giáo dục mà do gen tốt hay gen xấu.
Từ đó họ đi đến kết luận: “Trẻ em khó bảo, năng lực trí tuệ kém phát triển là do bẩm sinh
chứ không phải do giáo dục, do môi trường”. Như vậy, vai trò của giáo dục đã bị hạ thấp,
giáo dục chỉ là yếu tố bên ngoài có khả năng làm tăng nhanh hay kìm hãm quá trình bộc
lộ những phẩm chất tự nhiên, bị ức chế bởi tính di truyền. Và họ đã rút ra kết luận sai
lầm: Mọi can thiệp vào quá trình phát triển tự nhiên của trẻ đều là sự tùy tiện, không thể
tha thứ.

rằng cả hai yếu tố này hội tụ lại cùng quyết định một cách máy móc sự phát triển tâm lí...
Sự tác động qua lại giữa hai yếu tố này trực tiếp quyết định tâm lý, trong đó yếu tố di
truyền giữ vai trò quyết định. Môi trường chỉ là điều kiện để biến những đặc điểm tâm lí
đã được định sẵn trong gen di truyền thành hiện thực. Theo họ, sự phát triển là sự chín
muồi của những năng lực, những nét tính cách, những hứng thú…mà trẻ sinh ra đã có.
Những nét và những đặc điểm tính cách do cha mẹ truyền lại cho trẻ dưới dạng sẵn có,
bất biến... Một số người theo thuyết này có đề cập đễn vai trò của môi trường đối với tốc
độ chín muồi của năng lực và nét tính cách được truyền lại cho trẻ em. Nhưng theo họ,
môi trường không phải là toàn bộ những điều kiện và hoàn cảnh mà trẻ em sống mà chỉ là
gia đình của trẻ…
Ví dụ khi nghiên cứu những bệnh nhân dị thường về tính cách ( tâm lý) người ta thấy
rằng một số trường hợp nguyên nhân chủ yếu thuộc về yếu tố bẩm sinh. Nhiều bác sĩ tâm
thần học nhận thấy rằng những đặc điểm di truyền không thuận lợi có thể là nguyên nhân
cơ bản gây nên bệnh thái tính cách ở bệnh nhân. Trong những trường hợp này đặc điểm
tính cách thái quá có thể thấy ở những người cùng họ hàng như cha mẹ, anh chị em, chú
bác... Tính cách đó thể hiện rất sớm ít thay đổi trong quá trình sống, nó vẫn diễn ra ngay
8


cả khi con người được sống trong những điều kiện giáo dưỡng rất thuận lợi. Ví dụ về
những quan điểm cho rằng cơ bản năng lực ( tâm lý) chịu sự quy định của các đặc điểm
di truyền mà con người được thừa hưởng từ thế hệ bố mẹ. một trong những luận cứ được
đưa ra là trong thực tế năng lực của các thiên tài thường bộc lộ từ rất sớm, chừng 3 – 4
tuổi. Hơn nữa, người ta thấy rằng sự phát triển tài năng về một lĩnh vực nào đó thường
giới hạn trong độ tuổi nhất định. Ngoài ra những con số thống kê cho thấy dù trong
những điều kiện sống và học tập như nhau, nhưng con cái của bố mẹ có tài trong lĩnh vực
nào thường có năng lực về lĩnh vực đó. Người ta đã tiến hành so sánh năng lực của hai
thế hệ con cái – bố mẹ ở những gia đình nhạ sĩ tài ba và thu được kết quả như sau:
Con cái
Bố mẹ

,thậm chí là sinh đôi cùng trứng.
Với hai anh(chị)em sinh đôi cùng trứng,có thể giông nhau về phương diện giải phẫu do
đươc di truyền từ cùng một tổ hợp gen trong quá trình thụ tinh.Tuy nhiên,cặp anh(chị)em
này lai không có những biểu hiện tâm lí giống nhau khi cùng bị kích thích bởi cùng một
hoat động.Chẳng hạn trong hoạt động thể thao,một người trong cặp sinh đôi này cười rất
tươi khi nhận được lời mời tham gia thể thao=>tâm lí vui vẻ.Trong khi ở người còn lại
không có biểu hiên này.
+Nhưng với nhà tâm lí Đubinin,ông cho rằng bản chât xã hội của con người được thể
hiện nhờ tính di truyền.Để truyền đạt nội dung của lĩnh vực này cho thế hệ sau bằng cách
9


tạo ra một phương pháp kế thừa kinh nghiêm đặc biệt,đặc trưng cho riêng mình.Và bản
chất xã hội của con người được di truyền theo kênh nào đó khác hơn so với thông tin di
truyền được ghi trong phân tử AND.
Quan điêm:Các yếu tố sinh học quyết định tất cả quá trình phát triển và mọi vấn đề
trong hệ thống nhu cầu xã hội và các bảng giá trị đạo đức của con người được các nhà
tâm lí như Langhe.Lorent,Uynxon,………tán thành.
+Với Lorent,ông đã đưa ra ví dụ minh họa để chứng minh luận điểm của quan điểm trên
là”tất cả những hoat động (hành vi)của con người là do bị qui định bởi chương trình gen
di truyền từ tổ tiên của loài người”.Ông cho rằng,tổ tiên chúng ta và hắc tinh tinh cũng đã
thủy chung với đồng loại của minh như ngỗng trời hay quạ nhỏ,như chó sói hay loài
công.Không nghi ngờ rằng,anh ta cũng coi thường cái chết,sẵn sàng dâng hiến cuộc sống
của mình,bảo vệ cộng đồng của mình,đối xử thận trọng với những thành viên nhỏ tuổi và
cũng có những ngăn cấm sát nhân như tất cả các loài động vật này.Và chúng ta cũng
thừa hưởng trọn vẹn những bản năng súc vật tương ứng ấy”.Ví dụ la:ông mô tả hành vi
của người lần đầu tiên nắm hòn đá trong tay cũng như đứa trẻ lên ba cũng không ngần
ngại choảng vào đầu đối phương sau khi lam anh ta tức giận.Theo ông,nếu bản chất của
con người là sự hiếu chiến ,hay nói cách khác,sự xâm lăng được ghi trong gen di truyền
thì nó có bôcj lộ ngay trong mối quan hệ với những người thân thuộc thâm chí với chính

Độ bền vững của tình
cảm
0.53

Tinh hướng ngoại_nội

0.11

0.17

0.61

1:Mức độ quan hệ,điều kiện môi trường
2:Đặc điểm tính cách
=>từ bảng trên ta thấy,hệ số tính cách của những cặp anh em bình thường được nuôi
cùng nhau vẫn thấp hơn hẳn hệ số của cặp trẻ sinh cung trứng=>Tính cách hay tâm lí
bị chi phối bởi gen.
+Có nhiêu nghiên cứu quan tâm tới mức độ ảnh hưởng của gen đối với tâm lí nói
chung.(sự hình thành và phát triển các đặc điểm tâm lí).Kết quả nghiên cứu thì không
đồng nhất.Trên cơ sở nghiên cứu của nhiêu tác giả đã đi tới kết luận rằng:”Vai trò của
gen đối với quá trình phát triển các đặc điểm tâm lí con người tăng lên cùng với lứa
tuổi và đạt đươc nhịp độ tăng lớn nhất vào lúc đứa trẻ chuyển từ giai đoạn tuổi thơ(03 tuổi) sang tuổi mẫu giáo(3-6 tuổi).
+Một số khác lại có những nghiên cứu tìm hiểu về mối quan hệ giữa cấu tạo gen và
các hành động hung hãn của con người và đã rút ra được một số kết quả sau:
.Phân tích gen của nhiều phạm nhân và các bệnh nhân có tính hung hãn,các nhà
khoa học làm việc trong cơ quan an ninh của nhiều nước đã thu được kết quả bất
ngờ:Ở những phạm nhân và bệnh nhân này trên các nhiễm sắc thể thường thừa ra một
nhiễm sắc thể bất bình thường kí hiệu là Y47.Sự hiện diện của nhiễm sắc thể này có
liên quan tới tính hung hãn của các bệnh nhân.
.Nghiên cứu những bệnh nhân dị thương về tính cách người ta thây rằng trong một

khác nhưng vẫn sống lạc quan tinh thần tư tưởng tốt thì khả nằng chống chọi với bệnh tật
cao hơn có thể đẩy lùi sự hoành hành của bệnh tật kéo dài thời gian sống. Một bà mẹ
đang mang thai nếu như gặp phải một sự vịêc gây sốc về tâm lý, tâm thần dối loạn căng
thẳng lo lắng sẽ khiến bà mẹ bị mất ngủ, dinh dưỡng không cân bằng, trước tiên sẽ làm
tổn hại đến chính sức khoẻ của bà mẹ, dẫn tới làm tổn hại đến thai nhi có thể gây một số
căn bệnh bẩm sinh cho trẻ do đột biến gen, có trường hợp dẫn tới sảy thai.
Sự tác động của tâm lý đến sinh lý là không hề nhỏ. Chúng ta biết đến vận động viên đua
xe đạp Lance ArmStrong bị mắc căn bệnh ung thư quái ác, nhưng bằng hoài bão, bằng
niềm tin và ý trí mãnh liệt anh đã vượt qua sự đau đớn, chiến thắng bệnh tật để rồi đến
với vinh quang có đến 6 lần vô địch giải Tuor Of Franch. Wilma Rudolph, đi lại khó khăn
do di chứng của bệnh bại liệt, bà đã trở thành “ người phụ nữ nhanh nhất địa cầu “ trong
khoảng thời gian 8năm bà giành được 1 chỗ đứng trong lịch sử : là người phụ nữ đầu tiền
đoạt 3 huy chương vàng trong bộ môn điền kinh ở thế vận hội Rome 1960. Quen thuộc
với chúng ta hơn Stephen Wiliam Hawking , vị giáo sư người anh bị liệt vì bệnh tế bào
thần kinh vận động và các cơ bắp bị teo ông được đánh giá là già vật lý lý thuyết sáng
trói nhất sau Einstein. Năm 21 tuổi ông được chuẩn đoán là chỉ còn sống thêm 2 năm rưỡi
. Hawking đã can đảm chiến đầu chống lại căn bệnh khiến cho tay chân và thanh quản bị
tê liệt . Kết quả ông đã sống thọ hơn 50 tuổi. Ông nói “ Tôi sẽ rất vui mừng nếu mình
giúp được những người tàn tật khác bằng cách chứng minh là 1 người có thể thành công
bất chấp trở ngại cá nhân”.
Sức mạnh tinh thần, sức mạnh tâm lý con người là điều khó hình dung được. Nó mang
đến cho con người bao bất ngờ tuyệt vời, bao kỳ tích trong y học, trong cuộc sống. Từ
đây ta thấy được dưới sự tác động trở lại của tâm lý đối với di truyền.
C.Kết luận
Tóm lại, di truyền và tâm lý có mối quan hệ qua lại chặt chẽ với nhau . Tuy lý thuyết di
truyền học hiện đại và các công trình nghiên cứu thực nghiệm chỉ cho phép ta khảng định
vai trò tiền đề của di truyền trong sự phát triển của cá nhân xong chúng ta có thể khảng
định vai trò quan trọng của di truyền đối với sự hình thành và tốc độ phát triển của tâm lý

12


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status