Thực hiện quy chế dân chủ ở các trường đại học và cao đẳng trên địa bàn tỉnh khánh hòa trong giai đoạn hiện nay - Pdf 38

VIN HN LM
KHOA HC X HI VIT NAM
HC VIN KHOA HC X HI
---------------

NGUYN HU TM

THựC HIệN QUY CHế DÂN CHủ ở CáC TRƯờNG ĐạI HọC
Và CAO ĐẳNG TRÊN ĐịA BàN TỉNH KHáNH HòA TRONG
GIAI ĐOạN HIệN NAY

LUN N TIN S TRIT HC

H NI - 2016


VIN HN LM
KHOA HC X HI VIT NAM
HC VIN KHOA HC X HI
---------------

NGUYN HU TM

THựC HIệN QUY CHế DÂN CHủ ở CáC TRƯờNG ĐạI HọC
Và CAO ĐẳNG TRÊN ĐịA BàN TỉNH KHáNH HòA TRONG
GIAI ĐOạN HIệN NAY
Ngnh, chuyờn ngnh: CNDVBC & CNDVLS
Mó s:
62 22 03 02

LUN N TIN S TRIT HC

Chương 2. KHÁI LUẬN VỀ QUY CHẾ DÂN CHỦ VÀ THỰC HIỆN QUY
CHẾ DÂN CHỦ TRONG CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG.............30
2.1. Dân chủ và bản chất của dân chủ .............................................................................. 30
2.2. Quy chế dân chủ, quy chế thực hiện dân chủ và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở ....... 49
2.3. Quy chế thực hiện dân chủ và thực hiện quy chế dân chủ trong các trường đại học,
cao đẳng ........................................................................................................................... 62

Chƣơng 3. THỰC TRẠNG THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ TRONG CÁC
TRƯỜNG ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH KHÁNH HÒA ..........79
3.1. Tình hình ban hành các văn bản liên quan tới việc thực hiện dân chủ trong các
trường đại học, cao đẳng ở Khánh Hòa ........................................................................... 79
3.2. Kết quả thực hiện quy chế dân chủ và quy chế thực hiện dân chủ trong các trường
đại học và cao đẳng ở Khánh Hòa trong thời gian qua .................................................... 85

Chƣơng 4. PHƢƠNG HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ TRONG CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC
VÀ CAO ĐẲNG Ở KHÁNH HÒA HIỆN NAY ..................................................122
4.1. Phương hướng nâng cao hiệu quả thực hiện quy chế dân chủ trong các trường đại
học và cao đẳng ở Khánh Hòa ....................................................................................... 122
4.2. Những giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện quy chế dân chủ ở các trường đại học
và cao đẳng ở Khánh Hòa hiện nay ............................................................................... 128

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ...................................................................................145
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CÔNG BỐ LIÊN QUAN
ĐẾN ĐỀ TÀI .................................................................................................................149
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ...............................................................150
PHỤ LỤC .......................................................................................................................161
1




Cao đẳng Nghề Nha Trang

11. CĐMGTWII NT

Cao đẳng Mẫu giáo Trung ương Nha Trang

12. CĐSPNT

Cao đẳng Sư phạm Nha Trang

13. CĐVHDLNT

Cao đẳng Văn hóa Du lịch Nha Trang

14. ĐHQG

Đại học quốc gia

15. ĐH

Đại học

16. HN

Hà Nội

17. ĐHNT

Đại học Nha Trang


Xã hội chủ nghĩa

2


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) nêu rõ: Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất
của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước. Xây
dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm dân chủ
được thực hiện trong thực tế cuộc sống ở mỗi cấp, trên tất cả các lĩnh vực. Dân
chủ gắn liền với kỷ luật, kỷ cương và phải được thể chế hóa bằng pháp luật, được
pháp luật bảo đảm. Dân chủ - thực chất là quyền lực thuộc về nhân dân, đây là
một khát vọng to lớn của nhân dân, hiện nay nó đã trở thành một chuẩn mực giá
trị của xã hội. Đồng thời, là nguyên tắc cơ bản của thể chế dân chủ XHCN ở Việt
Nam. Đặc biệt, trong điều kiện mở cửa và hội nhập của đất nước, việc xây

dựng nền dân chủ và thực hiện dân chủ ở cơ sở là một yêu cầu khách quan của
công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện nay ở nước ta. Dân chủ đang còn là
nội dung cần bàn trong quá trình tiến lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam cũng
như trong tiến trình phát triển cách mạng của thế giới. Đây là nội dung có tính
chất cơ bản để xác định phương hướng, mục tiêu, động lực, phương pháp và
tiêu chuẩn kiểm định của một chế độ xã hội, một thể chế chính trị, một đơn vị,
tập thể trong mỗi cộng đồng. Do đó, đối với Việt Nam, đây đang là vấn đề cấp
thiết cần phải nghiên cứu.
Để đảm bảo dân chủ, mà ở đó quyền lực thuộc về nhân dân, nhân dân là
người sáng tạo ra lịch sử chân chính của mình. Chỉ thị số 30 - CT/TW ngày 18
tháng 02 năm 1998 của Bộ Chính trị về “Xây dựng và thực hiện quy chế dân

Để góp phần không nhỏ vào việc ổn định trật tự chính trị - xã hội trên địa
bàn của tỉnh, việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, đặc biệt là thực hiện quy
chế dân chủ trong các trường đại học và cao đẳng là nhiệm vụ quan trọng hàng
đầu trong giai đoạn hiện nay theo tinh thần của đảng, Chỉ thị số 30-CT/TW
nhằm mục đích xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở và đẩy mạnh quá
trình dân chủ hóa trong xã hội. Trong những năm qua Đảng và Nhà nước ta đã
ban hành nhiều chính sách đổi mới về kinh tế, chính trị, xã hội, phát huy một
4


bước quyền làm chủ của nhân dân, nhờ đó đã đạt được những thành tựu to lớn
trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Tuy
nhiên, trong thời gian qua, nhìn chung quyền làm chủ của nhân dân còn bị vi
phạm ở nhiều nơi, trên nhiều lĩnh vực, tệ quan liêu, mệnh lệnh, cửa quyền, tham
nhũng, sách nhiễu, gây phiền hà cho nhân dân đang phổ biến và nghiêm trọng
mà chúng ta chưa đẩy lùi, ngăn chặn được. Phương châm "Dân biết, dân bàn,
dân làm, dân kiểm tra" chưa được cụ thể hoá và thể chế hoá thành luật pháp,
chậm đi vào cuộc sống. Nghị quyết Hội nghị lần thứ Ba Ban Chấp hành Trung
ương Đảng khoá VIII (tháng 6-1997) đã nhấn mạnh: Lúc này để giữ vững và
phát huy được bản chất tốt đẹp của nhà nước ta, phải phát huy quyền làm chủ
của dân, thu hút nhân dân tham gia quản lý nhà nước, tham gia kiểm kê, kiểm
soát nhà nước, khắc phục tình trạng suy thoái, quan liêu, mất dân chủ và nạn
tham nhũng. Khâu quan trọng và cấp bách trước mắt là phát huy quyền làm chủ
của nhân dân ở cơ sở, là nơi trực tiếp thực hiện mọi chủ trương, chính sách của
đảng và nhà nước, là nơi cần thực hiện quyền dân chủ của nhân dân một cách
trực tiếp và rộng rãi nhất. Muốn vậy, nhà nước cần ban hành quy chế dân chủ ở
cơ sở có tính pháp lý, yêu cầu mọi người, mọi tổ chức ở cơ sở đều phải nghiêm
chỉnh thực hiện. Quy chế dân chủ cần được xây dựng cho từng loại cơ sở xã,
phường, doanh nghiệp, bệnh viện, trường học, viện nghiên cứu, cơ quan hành
chính sự nghiệp… phù hợp với đặc điểm của từng loại cơ sở.

2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
Mục đích nghiên cứu: Tác giả làm rõ hơn một số khái niệm như: Quy
chế dân chủ cơ sở, quy chế thực hiện dân chủ cơ sở… Đồng thời, chỉ ra thực
trạng ban hành quy chế thực hiện dân chủ và thực trạng thực hiện quy chế dân
chủ ở các trường đại học và cao đẳng ở Khánh Hòa. Từ đó, đề xuất một số giải
pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện quy chế dân chủ ở các trường đại học và
cao đẳng ở tỉnh Khánh Hòa hiện nay.
Nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt được mục đích trên, đề tài có những nhiệm
vụ cơ bản sau:
6


Thứ nhất, làm rõ cơ sở lý luận của việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở
nói chung và ở các trường đại học, cao đẳng Khánh Hòa nói riêng.
Thứ hai, phân tích những thành tựu, hạn chế của việc thực hiện quy chế dân
chủ cơ sở ở các trường đại học và cao đẳng ở Khánh Hòa trong thời gian qua.
Thứ ba, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả của việc thực hiện
quy chế dân chủ trong các trường đại học, cao đẳng ở Khánh Hòa hiện nay.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu việc thực hiện quy
chế dân chủ trong các trường đại học và cao đẳng trong thời gian qua trên địa
bàn tỉnh Khánh Hòa.
Phạm vi nghiên cứu: Xuất phát từ tình hình thực tế các trường đại học và cao
đẳng trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa và các tài liệu mà tác giả có thể tiếp cận được, đề
tài tập trung nghiên cứu việc thực hiên quy chế dân chủ cơ sở ở các trường đại học và
cao đẳng từ năm 2012 đến năm 1015, bao gồm: Đại học Nha Trang, Đại học Thái
Bình Dương, trường cao đẳng Văn hóa và Du lịch Nha Trang, Cao đẳng Sư phạm
Nha Trang, Cao đẳng Mẫu giáo Trung ương II Nha Trang, Cao đẳng Y tế Nha Trang.
4. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận: Để tài được thực hiện trên cơ sở của chủ nghĩa duy vật biện

án gồm 4 chương, 11 tiết

8


Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
Ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu về dân chủ và quy chế dân chủ rất
nhiều, tất cả các bài nghiên cứu đều xuất phát từ quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, mỗi thời đại, mỗi quốc gia lại có quan
điểm về dân chủ khác nhau. Cho nên, đã có khá nhiều các công trình nghiên cứu
thường tập trung vào một lĩnh vực nhất định hoặc một khía cạnh nổi bật nào đó,
bằng cách tiếp cận chuyên ngành khoa học xã hội cụ thể khác nhau. Cho đến nay
chưa có một công trình chuyên khảo nào nghiên cứu về thực hiện quy chế dân chủ
trong các trường đại học và cao đẳng trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa từ góc độ triết
học. Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu của các nhà khoa học đi trước đã
nghiên cứu về dân chủ và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở là cơ sở và là nguồn
tài liệu quan trọng của luận án. Từ tình hình nghiên cứu như vậy, tác giả sơ bộ
phân loại các công trình nghiên cứu trên thành các lĩnh vực như sau:
1.1. Các công trình nghiên cứu về dân chủ, quy chế dân chủ ở cơ sở và thực
hiện dân chủ ở cơ sở
Cơ sở của việc nghiên cứu thực hiện dân chủ ở Việt Nam hiện nay được
thể hiện trong các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học và đều bắt đầu từ
việc nghiên cứu lý luận về dân chủ. Đặc điểm của các công trình nghiên cứu về
dân chủ là các tác giả đi vào nghiên cứu sự biểu hiện của tư tưởng dân chủ trong
thể chế chính trị của mỗi quốc gia và ít mang tính so sánh vì nó còn phụ thuộc
vào đặc điểm văn hóa của mỗi dân tộc. Đây là loại hình chiếm số lượng lớn
trong những công trình nghiên cứu về dân chủ. Dân chủ với tư cách là phạm trù
chính trị không mang tính khuôn mẫu của bất kỳ một chế độ chính trị nào. Cho
nên, ở lĩnh vực dân chủ ngoài những quan điểm kinh điển của các nhà macxít và
tư tưởng Hồ Chí Minh còn có một số công trình tiêu biểu như sau:

cuốn “Quyền dân chủ ở nước ta”, xuất bản năm 1957, cho rằng: “Chế độ dân chủ
của nước ta hoàn toàn khác hẳn chế độ dân chủ của các nước tư bản Âu - Mỹ,
với nền thống trị của giai cấp tư sản, nhân dân lao động không có quyền làm chủ
10


quốc gia, không có quyền tự do, bình đẳng thực sự. Ở chế độ chúng ta toàn dân
làm chủ nhà nước và Bản chất của chế độ ta là hoàn toàn tốt đẹp” [134, tr.41].
Một công trình khác của nhà nghiên cứu Thái Ninh - Hoàng Chí Bảo, trong
cuốn “Dân chủ tư sản và dân chủ xã hội chủ nghĩa”, xuất bản năm 1991. Tác giả
chỉ ra bản chất của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là “Một nền dân chủ khác hẳn với
dân chủ tư sản bởi dân chủ xã hội chủ nghĩa là dân chủ thuộc về số đông, hơn thế
dân chủ còn là kết quả của đấu tranh giai cấp và cải tạo xã hội do quần chúng nhân
dân thực hiện như một hành vi giải phóng để đạt đến tự do và trở thành tự do” [111,
tr. 41]. Khi bàn đến nền dân chủ tư sản, tác giả cũng khẳng định: “Nền dân chủ tư
sản không phải là của đa số nhân dân lao động, không phải là nền dân chủ của dân,
vì dân, do dân mà chỉ là dân chủ tư sản, vì giai cấp tư sản, do giai cấp tư sản, dân
chủ của thiểu số giai cấp này” [111, tr. 31]. Như vậy, các tác giả đã có sự so sánh để
thấy được tính ưu việt của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Đối với Việt Nam, tác giả
cho rằng: “Dân chủ hóa trên các lĩnh vực ở Việt Nam là vấn đề cấp bách. Nhưng
dân chủ hóa muốn được đảm bảo cần phải có pháp luật tức dân chủ hóa là thực hiện
pháp luật dân chủ hóa đồng thời là pháp chế hóa xã hội” [111, tr.111].
Qua nghiên cứu của hai tác giả, họ đã so sánh hai nền dân chủ trên cơ sở
tính chất của nền dân chủ của hai thể chế. Tuy nhiên, những vấn đề nghiên cứu
chưa đi sâu vào quá trình thực hiện dân chủ của người dân tại cơ sở, tính chất cụ
thể cho đối tượng thực hiện chưa được thể hiện rõ về dân chủ cho mọi đối tượng
trong dân chúng.
Để thực hiện quyền dân chủ thực sự trong nhà nước pháp quyền của dân,
do dân, vì dân, quyền con người, quyền công dân giữ vai trò quyết định trong sự
nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta. Trong cuốn “Quyền con người,

xuyên xây dựng và hoàn thiện pháp luật. Dân chủ phải đi đôi với pháp luật,
không có dân chủ ngoài pháp luật. Tác giả Hoàng Chí Bảo - Tống Đức Thảo đã
khẳng định: Dân chủ và pháp luật luôn có mối quan hệ mật thiết với nhau, tạo
điều kiện cho nhau phát triển. Việc thực hiện dân chủ phải dựa vào pháp luật và
thông qua pháp luật. Đồng thời dân chủ lại là thước đo để đánh giá sự tiến bộ
12


của pháp luật giữa các quốc gia. Các tác giả khẳng định: “Pháp luật của chúng ta
là pháp luật thực sự dân chủ vì nó bảo vệ quyền tự do dân chủ rộng rãi cho nhân
dân lao động” [9, tr. 223]. Cũng bàn về dân chủ và pháp luật, tác giả Nguyễn
Trọng Thóc khẳng định: “Trong hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa, nhà nước có
vai trò quyết định trực tiếp việc thể chế hóa nội dung dân chủ. Hoạt động nhà
nước trong việc lập pháp, bảo vệ pháp luật, giữ vững kỷ cương xã hội có ý nghĩa
to lớn trong việc thực hiện dân chủ của nhân dân. Muốn vậy, nhà nước phải bảo
đảm tính tối cao của pháp luật” [129, tr.104].
Bàn đến nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, tác giả Nguyễn Văn Niên
còn nhấn mạnh đến vấn đề lý luận và thực tiễn trong quá trình thực thi quyền lực
chính trị của nhà nước Việt Nam. Theo ông, đây là một nhiệm vụ quan trọng
trong việc xây dựng một nhà nước của dân, do dân và vì dân. Tác giả còn quan
niệm rằng: Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một
quá trình lâu dài, trên cơ sở hình thành đầy đủ các tiền đề và nền tảng của mô
hình mới về nhà nước pháp quyền cả trong lý luận và thực tiễn. Đây không phải
là công việc một sớm, một chiều có thể làm ngay được. Để xây dựng nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn hiện nay, trước hết đề cao vai trò và
giá trị xã hội của pháp luật, làm cho nó giữ địa vị tối cao trong đời sống. Như
vậy, tác giả đã đề cao vai trò của pháp luật, đặc biệt trong thực tiễn. Tác giả còn
khẳng định: “Xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam là quá trình đẩy mạnh
các hoạt động tổ chức và thực hiện pháp luật trong thực tiễn” [110, tr.195].
Bên cạnh đó, Trần Ngọc Liêu, trong cuốn “Quan điểm của chủ nghĩa Mác

huy dân chủ pháp quyền”. Tác giả cũng khẳng định: Để xã hội phát triển ổn
định, quyền lực không trở thành tham quyền vị lợi, thì phải phát huy vai trò của
phản biện xã hội. Khi phản biện được thực hiện đúng đắn sẽ đem lại kết quả
tích cực trực tiếp chủ trương, đường lối, chính sách sẽ vận động phù hợp với
thực tiễn khách quan, các chính sách phản ánh đúng nhu cầu thực tế, có cơ sở
vững chắc: “Phản biện xã hội chính là cách thức cân bằng tốt nhất đối với các
chủ thể lợi ích giúp họ phản ánh tiếng nói của mình để những nhà quản lý,
14


chính trị gia uốn nắn, điều chỉnh lại các chính sách cho phù hợp với đòi hỏi
chính đáng của quần chúng” [136, tr. 37]. Phản biện xã hội là phương thức và
xu hướng thực hiện dân chủ của xã hội đương đại.
Trong cuốn “Đảng và các tổ chức chính trị - xã hội trong hệ thống chính trị
Việt Nam hiện nay” của Nguyễn Hữu Đông, xuất bản năm 2009. Tác giả đã chỉ ra
những thành tựu và hạn chế của các tổ chức chính trị trong thực thi quyền lực của
mình, đồng thời đề cập đến những vấn đề đặt ra trong tổ chức và hoạt động của
đảng, các tổ chức chính trị - xã hội trong xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước
ta. Tác giả chỉ ra những định hướng về sự phát triển đối với các tổ chức chính trị xã hội trong nhà nước pháp quyền và khẳng định: “Để có nhà nước pháp quyền thì
phải xây dựng được kinh tế thị trường và xã hội dân sự, vì đó được coi là ba trụ
cột chính của hệ thống chính trị - xã hội. Do vây, để xã hội dân sự được hình
thành và phát triển, đã đến lúc Đảng và Nhà nước cần xây dựng các thể chế của xã
hội dân sự làm cơ sở quản lý và định hướng bằng pháp luật của nhà nước, nhằm
tạo ra một môi trường pháp lý, dân chủ, tạo không gian cho sự phát triển của các
tổ chức chính trị xã hội” [33, tr.155].
Để ổn định chính trị và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa trong giai
đoạn hiện nay, trong bài “Sự thống nhất giữa ổn định chính trị và phát huy dân
chủ xã hội chủ nghĩa - cơ sở của đồng thuận xã hội và phát triển đất nước hiện
nay” của Trần Nguyên Việt, Tạp chí Triết học, số 02 năm 2008. Tác giả chỉ ra
rằng, ổn định chính trị trước hết là sự phản ánh các mối quan hệ xã hội giữa

Bàn đến việc thực hiện dân chủ ở cơ sở, vấn đề này được nhiều nhà
nghiên cứu quan tâm. Tuy nhiên, những vấn đề được đưa ra đều xuất phát từ
thực tiễn của đất nước và đặc biệt trước tình hình đất nước ta đang trong thời kỳ
mở cửa, hội nhập với khu vực và thế giới, cho nên, để đảm bảo quyền dân chủ
rộng rãi, nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn thực hiện quy chế
dân chủ ở cơ sở.
Để đẩy mạnh quá trình thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, vai trò của các
đoàn thể trong hệ thống chính trị của nước ta rất to lớn. Tác giả Phan Xuân Sơn
16


trong cuốn “Các đoàn thể nhân dân với việc bảo đảm dân chủ ở cơ sở hiện nay”,
xuất bản năm 2003. Trong đó, tác giả đã phân tích vai trò, vị trí của các đoàn thể
nhân dân trong việc thực hiện quy chế dân chủ và chỉ ra những nguyên nhân của
những hạn chế trong quá trình thực hiện quy chế dân chủ: Thứ nhất, nhiều nơi
còn làm qua loa, đại khái, hời hợt, một số nơi tổ chức rầm rộ lúc đầu rồi sau đó
lại lắng xướng. Thứ hai, một số nơi chưa thành lập Ban Thanh tra Nhân dân, do
vây, trên nhiều mặt, quyền dân chủ còn bị hạn chế, tạo sự hoài nghi, thiếu tin
tưởng trong nhân dân. Thứ ba, nhiều cơ sở chưa phát huy được tính tích cực của
tất cả các thành viên trong hệ thống chính trị, đặc biệt là vai trò của đảng và việc
quản lý của chính quyền, nên việc phát huy vai trò của các đoàn thể nhân dân vì
thế cũng rất hạn chế, còn mờ nhạt. Đây là những những nguyên nhân làm cho
quá trình thực hiện dân chủ chưa đúng nghĩa của nó.
Bên cạnh những hạn chế đã đề cập trong nghiên cứu của mình, tác giả còn
chỉ ra những thành tựu to lớn của các đoàn thể nhân dân trong quá trình thực thi
quyền dân chủ, đó là: Thực hiện chức năng giám sát của mặt trận phối hợp với
Ban Thanh tra Nhân dân và các tổ chức thành viên đã phát hiện và đấu tranh
được nhiều vụ việc giúp chính quyền xem xét, xử lý, tham gia củng cố các tổ
chức hòa giải, tranh chấp đất đai, hôn nhân gia đình. Các tổ chức đoàn thể đã
nâng cao một bước nhận thức về dân chủ, về vai trò của các đoàn thể nhân dân

cơ sở, đặc biệt ở nông thôn phải tạo được động lực để thúc đẩy kinh tế nông thôn,
kinh tế hộ nông dân, kinh tế từng người phát triển, do đó dân chủ trong kinh tế
chẳng những đảm bảo phát triển kinh tế mà còn đem lại sự thụ hưởng lợi ích công
bằng cho mỗi người dân, động lực thực sự của dân chủ và quy chế dân chủ là ở
đó. Thứ tư, thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, nhất là nông thôn phải chú trọng
phát huy tác dụng của các thiết chế xã hội có tính tự quản cộng đồng của dân. Thứ
năm, thực hiện quy chế dân chủ thực sự là một cuộc thử thách về đạo đức, năng
lực, bản lĩnh. Chỉ có tổ chức mạnh, cán bộ tốt thì mới có phong trào mạnh.
Qua nghiên cứu của tác giả, điểm nhấn mạnh của việc thực hiện dân chủ ở
nông thôn đó là việc coi thực hiện dân chủ trong lĩnh vực kinh tế là điều kiện để
18


người dân thụ hưởng lợi ích từ quy chế thực hiện dân chủ. Hơn nữa, thực hiện
quy chế dân chủ ở nông thôn được xem như là lăng kính để xem xét năng lực
lãnh đạo công tác thực hiện dân chủ, tác giả xem đó là việc thử thách về đạo đức
của cán bộ, vì đạo đức là gốc của cán bộ. Tuy nhiên, bài viết của tác giả chỉ tiếp
cận vấn đề thực hiện quy chế dân chủ trong nông thôn mà chưa đề cập đến việc
thực hiện dân chủ trong các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp.
Thực hiện dân chủ là động lực để phát triển các mặt của đời sống của
nhân dân, trong bài viết “Quan điểm của Đảng về dân chủ và việc thực hiện dân
chủ ở nước ta hiện nay” của Mai Thị Qúy – Nguyễn Thị Chinh, Tạp chí Triết
học, số 3(262) năm 2013. Với bài viết của mình, họ đã làm nổi bật một số nội
dung cơ bản về bản chất nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, quan điểm
của Đảng ta về dân chủ trong Văn kiện Đại hội XI, thực trạng về dân chủ và đề
xuất một số giải pháp nhằm phát huy dân chủ ở nước ta. Bên cạnh những thành
tựu đạt được, các tác giả còn chỉ ra một số hạn chế trong quá trình thực hiện dân
chủ ở nước ta hiện nay như: Quyền làm chủ của nhân dân ở một số nơi, trên một
vài lĩnh vực còn bị vi phạm, thực hành dân chủ còn mang tính hình thức, có tình
trạng lợi dụng dân chủ gây chia rẽ làm mất đoàn kết nội bộ, gây rối, ảnh hưởng

cao năng lực thực hành dân chủ của nhân dân và hoàn thiện cơ chế thực hiện nó.
Hai là, đổi mới hệ thống chính trị nhằm hoàn thiện cơ chế thực hiện dân chủ. Ba
là, tiếp tục chuyển sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa
để tạo ra tiền đề vật chất cho sự phát triển dân chủ và cơ chế thực hiện dân chủ.
Tuy nhiên, những giải pháp mà tác giả chỉ ra trên cơ sở tiếp cận về lý luận chung
cho việc ban hành cơ chế thực hiện dân chủ mà chưa đi sâu vào những giải pháp
cụ thể cho từng loại hình cơ sở để thực hiện.
1.2. Các công trình nghiên cứu về thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở và thực
trạng thực hiện quy chế dân chủ trong các trường đại học và cao đẳng
Bàn đến quy chế thực hiện dân chủ và vấn đề thực hiện quy chế dân chủ ở
cơ sở, được Đảng và Chính phủ và nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Năm 2001, từ
thực tiễn của đất nước đang đặt ra nhiều vấn đề về thực hiện dân chủ, Ban Tổ
20


chức - Cán bộ Chính phủ ban hành cuốn “Hướng dẫn triển khai quy chế dân chủ
cơ sở”. Bằng tổng kết việc ban hành và triển khai quy chế thực hiện dân chủ. Các
tác giả chỉ ra những thành tựu đạt được trong quá trình thực hiện dân chủ và nhấn
mạnh: Thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở đã tạo ra động lực mới thúc đẩy phát
triển kinh tế - xã hội của đất nước. Bên cạnh những thành tựu đạt được, các tác giả
còn chỉ ra phương pháp và kinh nghiệm thực hiện quy chế dân chủ và khẳng định:
Qua thực tiễn thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, đã nảy sinh những hạn chế và
yếu kém của việc thực hiện quy chế dân chủ, việc thực hiện quy chế dân chủ chưa
được triển khai đồng bộ, chưa thành nề nếp làm việc thường xuyên ở cơ sở.
Dương Xuân Ngọc (chủ biên) trong cuốn “Quy chế thực hiện dân chủ ở
cấp xã, một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, xuất bản năm 2000. Tác giả đã làm
rõ vai trò của nhân dân trong việc thực hiện quy chế dân chủ ở xã. Đồng thời, chỉ
ra những thành tựu và hạn chế của nhân dân trong việc thực hiện quy chế dân
chủ. Qua đó, tác giả nêu ra những giải pháp chủ yếu để nhằm hoàn thiện và thực
hiện có hiệu quả quy chế thực hiện dân chủ ở xã hiện nay.

nhân của tình trạng này bắt nguồn từ ý thức làm chủ, tính tích cực, chủ động
trong nhân dân ở nhiều nơi chưa cao, người dân thiếu thông tin về các vấn đề
quan trọng ở địa phương, không hiểu biết về quyền và nghĩa vụ của mình.
Nhiều cán bộ cấp xã còn hạn chế về chuyên môn, thiếu hiểu biết về pháp luật,
nhiều cơ chế hiện hành, sự công khai, minh bạch chưa được bảo đảm một
cách vững chắc. Do vậy, nhân dân chưa thực hiện được quyền kiểm tra, giám
sát của nhân dân, làm phát sinh tệ nạn quan liêu, xa rời nhân dân và tham
nhũng của không ít cán bộ chính quyền các cấp.
Tuy nhiên, việc chỉ ra tình hình thực hiện quy chế dân chủ của các tác
giả phần nào đã phản ánh một cách tổng thể về thành tựu và nguyên nhân yếu
kém của việc thực hiện quy chế dân chủ và đề ra một số giải pháp cơ bản,
nhưng những giải pháp đó là những giải pháp chung cho mọi loại hình dân chủ
ở cơ sở, chưa tiếp cận việc thực hiện quy chế dân chủ cho mỗi loại hình cụ thể
để thực hiện dân chủ ở cơ sở.
22



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status