Những vấn đề hiện nay về vốn ở các nước đang phát triển - Pdf 38

1. NHỮNG VẤN ĐỀ HIỆN NAY VỀ KINH TẾ Ở CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT
TRIỂN
1.1.Đầu tư vượt quá khả năng tích luỹ của nền kinh tế
Nguồn hình thành vốn đầu tư trong nước hay tiết kiệm trong nước gồm tiết kiệm
hộ gia đình, tiết kiệm doanh nghiệp, tiết kiệm chính phủ.
1.1.1. Tiết kiệm chính phủ: tiết kiệm từ ngân sách nhà nước.
Ngân sách nhà nước ở các nước đang phát triển do phải chi nhiều cho đầu tư
phát triển cơ sở hạ tầng công cộng, hỗ trợ người dân do đó thường “thu không
bù đủ chi”.
 Giải pháp:
- Tăng thuế do thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước bằng cách :
điều chỉnh thuế suất hợp lý, tuỳ theo từng loại hàng hoá, tăng lên nhiều loại
thuế, phân cấp thu thuế theo quy mô và hiệu quả hoạt động.
- Chi ngân sách hợp lí và quản lí tốt hiệu quả chi ngân sách( quản lí theo kết
quả) cấp phát vốn từ ngân sách đến địa phương theo quy mô đối tượng.
- Giảm cấp ngân sách tăng cường cho vay vốn
- Đầu tư từ ngân sách đúng trọng tâm
Chủ động tìm nguồn vốn cho đầu tư phát triển không phụ thuộc vào ngân
sách nhà nước.
Quản lí khống chế chỉ ở mức 30% dưới hình thức cấp phát.
1.1.2. Tiết kiệm doanh nghiệp:
Tiết kiệm của doanh nghiệp tư nhân ở các nước đang phát triển hầu hết đều
tương đối nhỏ do quy mô và hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp chưa cao,
ít áp lực và động lực kinh doanh.
Tương tự với các doanh nghiệp nhà nước so với doanh nghiệp tư nhân, doanh
nghiệp Nhà nước thường được cho là kém hiệu quả hơn, lợi nhuận thấp hơn.
Doanh nghiệp Nhà nước thường phải gồng gánh một số trách nhiệm xã hội, hoạt
động vì lợi ích của người dân, được thành lập để đối phó với những thất bại của
thị trường. Điều đó dẫn đến việc các Doanh nghiệp Nhà nước không hướng đến
và cũng không cần cố gắng tối đa hóa lợi nhuận, hoạt động không mang lại lợi
nhuận cao, tích luỹ và tiết kiệm thấp

phần vốn tiết kiệm hộ gia đình này.
 Giải pháp:
- Cần tăng thu nhập được quyền chi của hộ gia đình: tăng cường giải quyết việc
làm, tận dụng nguồn lao động nhàn rỗi, tạo việc làm thêm cho lao động.
- Giảm chi tiêu không cần thiết để tăng tiết kiệm.
- chuyển phần tiền tiết kiệm nhàn rỗi vào lưu thông:
+ khuyến khích người dân trực tiếp đầu tư kinh doanh : tạo môi trường thuận lợi và
cơ hội bỏ vốn đầu tư để nâng cao thu nhập người dân.
+ đầu tư gián tiếp qua việc gửi tiền vào các ngân hàng:


Có mức lãi suất hấp dẫn thu hút nguồn tiền, đa dạng hoá các mạng lưới tín dụng:
mạng lưới ngân hàng và các chi nhánh rộng khắp để người dân tiếp cận dễ dàng,
đơn giản các thủ tục nhận, gửi tiền và thanh toán, đa dạng hoá sản phẩm nhận gửi,
hình thức tín dụng.
1.2. Huy động vốn đầu tư nước ngoài gặp nhiều khó khăn:
Huy động vốn đầu tư từ nước ngoài ngày càng khó khăn. Các nước đang phát
triển cần nhiều vốn để thúc đẩy nền kinh tế phát triển . Tuy nhiên do bất ổn kinh tế
toàn cầu và lạm phát ở các nước đang phát triển cao nên đầu tư trực tiếp chững lại,
đầu tư gián tiếp nhỏ giọt. Ngoài ra do trở ngại về môi trường đầu tư như chi phí bôi
trơn, thủ tục rườm rà, khung pháp lí chưa chặt chẽ... dẫn đến lượng vốn đầu tư ít và
chưa chú trọng và có các chính sách tốt để thu hút huy động vốn chưa đáp ứng nhu
cầu cao về vốn của các nước đang phát triển.
 Giải pháp:
Tăng số lượng và chất lượng nguồn vốn đầu tư trực tiếp FDI:
- Có các chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài khuyến khích
thu hút FDI liên doanh, xoá bỏ FDI 100% vốn nước ngoài. Liên kết với
doang nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước
- Có các chính sách nhằm mục tiêu nâng cao chất lượng dòng vốn FDI
chọn các dự án có FDI công nghệ cao,công nghệ sạch,loại trừ các dự án công

hiệu quả hơn và giảm sự phụ thuộc vào bên cung viện trợ.
- Cách cấp ODA hiệu quả: theo chương trình đầu tư và đánh giá theo kết quả
thực hiện

1.3.Đầu tư dàn trải theo chiều rộng.
Đối với các quốc gia đang phát triển, huy động được vốn đầu tư là một vấn đề
khó, tuy nhiên sử dụng vốn đầu tư như thế nào cho hiệu quả mới thực sự là vấn đề
nan giải. Có một thực tế rằng vốn đầu tư ở các nước đang phát triển đang bị dàn trải
ra quá nhiều, đầu tư chủ yếu theo chiều rộng, hiệu quả đầu tư chưa thực sự được
phát huy tối đa.
Đầu tư dàn trải là triển khai quá nhiều dự án trong một thời kỳ, vì thế mà năng lực
quản lý và khả năng tài chính khó có thể đáp ứng, việc nghiên cứu triển khai các dự
án mới thường sơ sài và không tính toán kỹ lưỡng hiệu quả đầu tư. Ở các nước
đang phát triển, khi nhận được nguồn vốn đầu tư thì luôn tồn tại suy nghĩ rằng làm
thế nào để mở rộng quy mô sản xuất một cách nhanh nhất, làm thế nào có thể tạo ra
nhiều công ăn việc làm nhất… Bởi thế mà nguồn vốn không được phân bổ hiệu
quả, gây ra tình trạng thất thoát vốn, hậu quả là nhiều công trình, dự án dở dang
hoặc chậm tiến độ thi công, gây lãng phí cực lớn.
Giải pháp:
-Hạn chế đầu tư dàn trải, tập trung đầu tư theo chiều sâu để gia tăng năng lực sản
xuất.
-Cần đánh giá lại hiệu quả đầu tư các dự án, những dự án đầu tư không hiệu quả
cần kiên quyết cắt bỏ để thu hồi vốn dù thua lỗ để tập trung cho những dự án cốt
lõi.


-Thẩm định kỹ lưỡng các dự án trước khi quyết định đầu tư, ưu tiên các dự án quan
trọng và có nhiều khả năng mang lại hiệu quả kinh tế cao.
1.4.Nợ nước ngoài của Chính phủ cao và có rủi ro vỡ nợ.
 Một số khái niệm cơ bản:

nợ/
GDP

1970

1980

1981

1982

1983

1984

1985

1986

1987

1988

1989

68,4

635,8

747,7


167,8

156,6

147,6

139,0

13,5

13,2

15,6

18,9

17,8

19,2

20,3

21,9

19,1

19,3

17,5

khẩu, tỷ lệ trả nợ/xuất khẩu và tỷ lệ nợ/GDP cũng tăng lên nhanh chóng qua các
năm và đạt đỉnh vào giữa những năm 1980. Trong đó, đa phần nợ tập trung vào 4
nước thuộc khu vực Châu Mỹ La tinh bao gồm Brazil (114,5 tỷ USD), Mê-hi-cô
(105 tỷ USD), Ac-hen-ti-na (49,4 tỷ USD) và Vê-nê-zue-la (33,9 tỷ USD) trong
tổng số nợ 485 tỷ USD của 17 nước nợ nhiều nhất thế giới năm 1987. Đến năm
2000, tổng số nợ nước ngoài từ vay mới và từ lãi mẹ đẻ lãi con của các nước Mỹ La
tinh đã lên đến 739 tỷ USD, tăng 650 tỷ USD so với 40 năm trước đó. Chỉ tính
riêng số tiền các quốc gia con nợ này phải bỏ ra để trả lãi và khấu hao cơ bản của
món nợ khổng lồ nói trên cũng đã tốn mất hơn một nửa ngân sách mỗi năm.
Tại các quốc gia Đông Nam Á cũng có nhiều quốc gia đang sống dở chết dở vì nợ
nước ngoài. Bước sanh những năm đầu tiên của Thiên niên kỷ thứ 3, nợ nước ngoài
của Indonesia đã đạt con số 150 tỷ USD và nước này trở thành một trong 4 con nợ
lớn nhất thế giới sau Mê-hi-cô, Brazil và Ac-hen-ti-na. Năm 1999, Indonesia đã
phải dùng đến hơn 50% thu nhập từ xuất khẩu để trả lãi và khấu hao nợ hàng năm.
Philipine ngay từ tháng 10-1983 đã phải tuyên bố không thể tiếp tục trả lãi suất và
khấu hao nợ hàng năm của món nợ nước ngoài 24 tỷ USD nhằm tìm kiếm một sự
thỏa hiệp từ các ngân hàng phương Tây.
b, Giai đoạn 2000 đến nay:
Trong giai đoạn 2000-2009, các chỉ số nợ nước ngoài ( tỷ lệ nợ/xuất khẩu, tỷ lệ trả
nợ/xuất khẩu và tỷ lên nợ /GDP) được cải thiện đáng kể từ đầu thập kỷ đến năm
2008. Lợi nhuận từ xuất khẩu tăng nhanh chóng nhờ vào khối lượng xuất khẩu tăng
và giá cả hàng hòa thương mại quốc tế tăng cao cho tới cuối năm 2008. Sự xoay
chuyển dòng vốn đầu tư quốc tế từ nợ thành tài sản có và sự xóa nợ đáng kể đối với
các nước thu nhập thấp là các nhân tố quan trọng trong việc giảm gánh nợ nước
ngoài của các nước đang phát triển. Từ năm 2000-2008, tỷ lệ nợ/xuất khẩu giảm
hơn một nửa, từ 124,8% xuống còn 58,4%; tỷ lệ nợ/GNI giảm từ 37,8% xuống
20,6%. Tuy nhiên xu hướng này bắt đầu thay đổi vào năm 2009khi tốc độ tăng
trưởng giảm và thu nhập từ xuất khẩu giảm mạnh trong hầu hết các nước đang phát
triển do sự ảnh hưởng của nền kinh tế toàn cầu và cuộc khủng hoảng tài chính thế
giới lúc này. Thu nhập từ xuất khẩu năm 2009 giảm gần 20% so với năm 2008,

Châu Âu và Trung Á

52,9

35,1

44,7

140,2

91,6

131,8

Mỹ La tinh và Caribbean

38,3

21,5

23,7

169,6

85,2

111,4

Trung Đông và Bắc Á


21,4

22,9

185,2

49,0

66,4

Nguồn: World Bank Debtor Reporting System and IMF.

Sự tăng lên của tỷ lệ nợ là khác nhau giữa từng khu vực. Khu vực Đông Á và Thái
Bình Dương và Trung Đông và Bắc Á có tỷ lệ nợ nước ngoài thấp nhất ở cả hai chỉ
tiêu là nợ/GNI và nợ/xuất khẩu. Năm 2009, các nhóm nước này trải qua sự tăng nhẹ
trong hai chỉ tiêu nợ. Ngược lại, Châu Âu và Trung Á là khu vực tăng tỷ lệ nợ/GNI
cao nhất, từ 35,1% năm 2008 lên 44,7% năm 2009, gấp 3 lần tỷ lệ của khu vực
Đông Á và Thái Bình Dương và gấp 2 lần tỷ lệ của khu vực Mỹ La tinh và
Caribbean. Tỷ lệ nợ/xuất khẩu của khu vực này cũng cao nhất với 131,8% năm
2009.
Cuối năm 2010, tổng trữ lượng nợ nước ngoài của các nước đang phát triển đã tăng
lên mức 4000 tỷ USD.Nợ ngắn hạn là thành phần có mức tăng nhanh nhất, tăng
34% trong năm 2010 so với mức tăng 6% của trữ lượng nợ nước ngoài dài hạn
đang lưu hành và hầu hết các khoản nợ ngắn hạn là nợ thương mại. Trữ lượng nợ
của các nước đang phát triển vẫn còn ở mức vừa phải, trung bình 21% tổng thu
nhập quốc dân (GNI) và 69% kim ngạch xuất khẩu, và các rủi ro liên quan xuất
phát từ các khoản nợ ngắn hạn chiếm 25% trữ lượng nợ vào cuối năm 2010 cũng đã
được giảm nhẹ nhờ các khoản dự trữ quốc tế. Mặc dù cuộc khủng hoảng kinh tế
toàn cầu đã lấy đi một phần dự trữ quốc tế của một số nước đang phát triển nhưng,
xét tổng thể, các nước đang phát triển vẫn được ghi nhận là đã tích luỹ được các

2013,2 2081,6
500,8
593,8

2456,4
764,0

2739,7
759,5

26,6

23,9

23,2

21,0

75,9

66,1

65,6

59,3

78,7
15,3

97,8

17,2

Nguồn: Hệ thống Báo cáo Nợ của Ngân hàng Thế giới, Quỹ Tiền tệ Quốc tế

 Rủi ro vỡ nợ tại các nước đang phát triển:
Trong suốt ba thập kỷ qua, thế giới đã chứng kiến nhiều nước đang phát triển lâm
vào tình trạng vỡ nợ. tình trạng vỡ nợ xảy ra từ châu lục nghèo nhất là Châu Phi
đến Châu Á, đến Châu Mỹ La tinh và cả Châu Âu. Khi gánh nặng nợ đến hạn tăng
lên vượt ngưỡng an toàn và khi khả năng trả nợ yếu đi, các quốc gia sẽ phải đối mặt
với một số vấn đề nan giải cũng như sự đánh đổi. Các quốc gia sẽ phải tiếp tục tăng
thuế hoặc cắt giảm chi tiêu để trả nợ ? Những nỗ lực đàm phán lại về điều khoản
vay vốn sẽ dừng lại ở đâu và đến giới hạn nào thì phải tuyên bố vỡ nợ hoàn toàn?
Vỡ nợ không chỉ là vấn đề hay gặp phải ở các công ty tư nhân, mà còn diễn ra ở các
định chế công, nhất là các DNNN. Vỡ nợ không chỉ giới hạn ở các nước đang phát
triển mà còn xảy ra đối với cả các nước phát triển, khủng hoảng nợ công ở Châu Âu
là một minh chứng cho vỡ nợ ở các nước phát triển. Vỡ nợ xảy ra thường xuyên ở
các nước thuộc khu vực Châu Mỹ La tinh, Châu Á trong suốt thế kỷ XX cũng như
đầu thế kỷ XXI.
 Những giải pháp mà các nước đang phát triển sử dụng trong xử lý nợ
nước ngoài:
-Các quốc gia con nợ nhóm họp lại với nhau và đứng trước 2 sự lựa chọn: cắt
giảm nhập khẩu và áp dụng các biện pháp thắt chặt tài khoa và tiền tệ, do đó cản trở
những mục tiêu tăng trưởng và phát triển, hoặc họ có thể tài trợ cho những thâm hụt
tài khoản vãng lai đang lớn dần bằng cách vay thêm nợ nước ngoài. Lựa chon cắt
giảm tăng trưởng không thể thực hiện, vì vậy các quốc gia lại tiếp tục vay nợ nước
ngoài và hậu quả là món nợ ngày càng khổng lồ.
-Giải pháp thứ hai là các nước đang phát triển tiến hành đàm phán với các quốc gia
cho vay về các vấn đề:



khi tăng trưởng dựa vào vốn mà các doanh nghiệp không tiếp cận được vốn do thắt
chặt tiền tệ và lãi suất của hệ thống ngân hàng dẫn đến suy giảm mạnh về tổng
cung, giảm thu nhập của người dân và lại tiếp tục ảnh hưởng ngược đến cầu. Suy
giảm tổng cầu làm trầm trọng hơn đến phía cung và nền kinh tế dường như rơi vào
vòng xoáy của lạm phát - suy trầm hoặc vừa lạm phát vừa suy trầm.
Thâm hụt cán cân thương mại, nhập siêu ở mức cao và trở thành căn bệnh
kinh niên của nền kinh tế. Lạm phát cao, nhập siêu lớn là nguyên nhân cơ bản làm
mất giá đồng Việt Nam, suy giảm dự trữ ngoại tệ quốc gia và làm giảm lòng tin của


người dân vào VND, tạo cơ hội cho đầu cơ, găm giữ, buôn lậu, buôn bán trái phép
ngoại tệ và vàng. Tới tháng 4/2011, các nước lân cận lạm phát đều không quá 5 –
6%, còn Việt Nam thì lên đến gần 18% so với cùng kỳ.
Nguyên nhân chính gây ra thâm hụt thương mại đó là tiết kiệm ròng của Việt
Nam đang ở mức âm rất lớn. Báo cáo Kinh tế vĩ mô 2012 do Ủy ban Kinh tế của
Quốc hội thực hiện đã nêu rõ: Nếu giai đoạn 2001-2005, nhập siêu của VN trung
bình ở mức 9,1% GDP thì giai đoạn 5 năm tiếp theo (2006-2010), nhập siêu đã tăng
tới 14,7% GDP. Trong khi đó, Trung Quốc và các nước ASEAN như Indonesia,
Thái Lan hay Malaysia đều có thặng dư thương mại, thậm chí ở mức rất cao (như
Malaysia 22% GDP).
Năm 2011, nhập siêu đã có dấu hiệu suy giảm mạnh, chỉ còn 9,5 USD (so
với 12,6 tỉ năm 2010), chiếm 7,7% GDP (so với 11,9% năm 2010); tỉ lệ nhập
siêu/xuất khẩu chỉ còn 9,8%, dưới xa mức chỉ tiêu của Quốc hội là 16%.
Tuy nhiên, theo như phân tích, điều này chủ yếu là do thuận lợi giá, đặc biệt
là giá xuất khẩu, và vì thế, xu hướng giảm nhập siêu khó bền vững do rủi ro cú sốc
giá thế giới trong gian tới, nếu không có những cải thiện đáng kể về cơ cấu.

Nguồn: Báo cáo Kinh tế vĩ mô 2012 do Ủy ban Kinh tế của Quốc hội thực hiện

Từ năm 1997-2000, xuất siêu, nhập siêu của VN luôn có sự chênh lệch khá

này không lớn.
Đặc biệt từ năm 2007, khi Việt Nam đón nhận một nguồn vốn lớn từ nước
ngoài, nhưng Ngân hàng Trung ương chưa có kinh nghiệm trong trung hoà dòng
tiền tăng đột biến này đã dẫn đến lạm phát và bong bóng trên thị trường tài sản như
thị trường chứng khoán và bất động sản. Điều này đã kích thích tiêu dùng thái quá
đối với một bộ phận người tiêu dùng, đặc biệt ở khu vực thành thị.
Trong khi đó, khu vực doanh nghiệp lại có mức đầu tư rất lớn so với tiết
kiệm - có thể nhìn thấy qua quy mô vay nợ tín dụng tăng cao trong những năm qua.
Báo cáo kết luận: Tỉ lệ tín dụng/huy động của Việt Nam ở mức rất cao so với
hầu hết các nước trong khu vực. Nguyên nhân của sự mất cân đối này không những


xuất phát từ các chính sách kích thích tăng trưởng kinh tế thông qua nới lỏng tiền tệ
và tài khóa trong thời gian dài.
Những hành vi đầu tư thiếu thận trọng, “chụp giật”, dàn trải nhưng thiếu hiệu
quả của các doanh nghiệp khá phổ biến. Những doanh nghiệp như vậy lại có sự
“giúp sức” rất lớn của hệ thống ngân hàng yếu kém, thiếu giám sát vĩ mô và vi mô
hiệu quả, trong đó, nhiều ngân hàng nhỏ hoạt động với mục tiêu tăng trưởng nhanh
bằng cách tăng trưởng mạnh tín dụng, thậm chí là không kiểm soát và một cách dễ
dãi.
Báo cáo khuyến nghị: Nếu không thay đổi mô hình tăng trưởng, tái cơ cấu
nền kinh tế, trong đó có tái cơ cấu hệ thống tài chính ngân hàng thì tình trạng nhập
siêu và tiết kiệm ròng âm khó có thể giải quyết triệt để và bền vững.
Kết luận số 02-KL/TW của Bộ Chính trị đã chỉ rõ nguyên nhân: "Về khách
quan, do tác động tiêu cực của tình hình kinh tế thế giới; về chủ quan là do những
hạn chế, yếu kém vốn có của nền kinh tế, mô hình tăng trưởng và cơ cấu kinh tế
chậm được khắc phục, bị tích tụ nặng nề hơn trong những năm phải đối phó với
tình trạng suy giảm kinh tế và do một số hạn chế trong quản lý, điều hành của các
cấp. Đây cũng chính là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng trong nhiều năm
qua, nước ta luôn phải đối mặt với tình trạng lạm phát cao và kinh tế vĩ mô không

kinh tế gia tăng, dòng vốn lưu chuyển nhanh sẽ góp phần tạo ra các hiệu ứng tốt đối
với hoạt động của các doanh nghiệp. Vì vậy, việc tham gia của các nhà đầu tư FII
sẽ có tác động mạnh mẽ đến thị trường tài chính, giúp cho thị trường tài chính minh
bạch và hoạt động hiệu quả hơn, xác lập giá trị thị trường của các cổ phiếu niêm yết
một cách chuyên nghiệp, giảm thiểu những giao động “phi thị trường”, góp phần
vào giải quyết một cách cơ bản các mối quan hệ kinh tế (vốn, công nghệ, quản
lý…).
Giai đoạn 2003 đến nay: Từ năm 2003, dòng vốn FII vào Việt Nam hồi phục, tăng
dần từng năm và tăng đột biến vào năm 2006-2007. Báo cáo của Ngân hàng ANZ
cho biết, từ năm 2001-2006 vốn FII đạt khoảng 12 tỷ USD và năm 2007 đạt khoảng
5,7 tỷ USD. Năm 2008 và đầu năm 2009, trước những khó khăn của nền kinh tế,
dòng vốn FII có dấu hiệu chững lại và một phần đã được rút ra. Từ cuối quý
II/2009, có sự đảo chiều và quay trở lại của vốn FII, nhưng không thật sự mạnh như
mong đợi. Trong năm 2010, nguồn vốn FII vào Việt Nam đạt 1,7 tỷ USD, năm
2011 đạt mức 1 tỷ USD.
Theo thống kê của ngân hàng HSBC, quý I/2012, có khoảng 500 triệu USD chảy
vào TTCK Việt Nam. Tuy nhiên, sang quý II, thị trường lại có những biến chuyển
khác. Chỉ tính riêng trên sàn chứng khoán TP. Hồ Chí Minh từ đầu năm đến nay,
dòng vốn FII đã âm hơn 4,9 triệu USD, trong khi đó, quý I/2012 khối này đã mua
ròng gần 43 triệu USD. Sự suy giảm của dòng vốn FII cũng chính là lý do TTCK
càng ngày càng ảm đạm trong những tháng qua.
Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA): Đây là nguồn hỗ trợ phát triển
chính thức, là hình thức tín dụng quốc tế nhằm hỗ trợ các nước cải thiện môi trường
đầu tư hoặc cải thiện môi trường sống của quốc gia.
Lãi suất vay ODA thường thấp, bình quân từ 2-4%/năm so với lãi vay thương mại.
Nguồn vốn ODA vào Việt Nam gia tăng đáng kể ở cả 3 giác độ: cam kết, ký kết và
giải ngân. Trong đó, nguồn vốn dành cho nhà đầu tư cơ sở hạ tầng chiếm 40% tổng
vốn ODA đã góp phần phát triển mạnh mẽ kinh tế Việt Nam.
Nguồn kiều hối gửi về Việt Nam hàng năm:
Ngày 12/09/1999, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 170/1999/QĐTTg khuyến khích người Việt Nam ở nước ngoài chuyển tiền về nước. Tiếp theo đó

nghệ cao không tạo ra lợi thế khác biệt cho từng địa phương và vùng lãnh thổ. Đối tác đầu tư
vào Việt Nam chủ yếu từ Châu Á, nhà đầu tư nước ngoài là doanh nghiệp nhỏ và
vừa chiếm tỷ lệ cao. Hiện mới chỉ thu hút được trên 100 trong tổng số 500 tập đoàn
xuyên quốc gia hàng đầu thế giới. Tỷ lệ vốn thực hiện thấp so với vốn đăng ký, chỉ
khoảng 47,2%.
Thứ hai, mục tiêu thu hút công nghệ (công nghệ cao và công nghệ nguồn), chuyển
giao công nghệ chưa đạt được như kỳ vọng


Trên 80% doanh nghiệp ĐTNN sử dụng công nghệ trung bình của thế giới,
5-6% sử dụng công nghệ cao, 14% ở mức thấp và lạc hậu, cá biệt có trường hợp sử
dụng công nghệ lạc hậu. Chuyển giao công nghệ chủ yếu thực hiện theo chiều
ngang – giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp, ít có những biến đổi về trình độ và
năng lực công nghệ. Do mặt bằng công nghệ sử dụng trong các dự án ĐTNN chưa
cao nên hiệu quả chuyển giao công nghệ theo chiều ngang còn hạn chế. Không ít
trường hợp nhà đầu tư nước ngoài lợi dụng sơ hở của luật pháp,yếu kém trong quản
lý nhà nước để nhập khẩu vào Việt Nam máy móc, thiết bị lạc hậu gây ô nhiễm môi
trường, khai tăng giá trị nhập khẩu và giá trị chuyển giao công nghệ. Công nghệ
thấp dẫn đến các doanh nghiệp tại Việt Nam chủ yếu thực hiện việc gia công, một
số doanh nghiệp được coi là công nghệ cao nhưng những khâu sử dụng công nghệ
cao lại không thực hiện ở Việt Nam. Hệ quả là doanh nghiệp Việt Nam tạo ra gia trị
gia tăng thấp, khó tham gia vào mạng sản xuất toàn cầu.
Thứ ba, số lượng việc làm tạo ra chưa tương xứng, đời sống người lao động chưa
cao, tranh chấp và đình công có xu hướng gia tăng
Tỷ lệ việc làm mới do khu vực ĐTNN tạo ra không tương xứng (chỉ chiếm 3,4%
trong tổng số lao động có việc làm năm 2011). Thu nhập bình quân theo tháng của
người lao động ở khu vực doanh nghiệp ĐTNN chỉ cao hơn khu vực doanh nghiệp
tư nhân trong nước nhưng thấp hơn khu vực doanh nghiệp nhà nước. Nhu cầu về
nhà ở, đời sống văn hóa ở các khu tập trung nhiều lao động đã trở nên bức xúc mà
chưa đáp ứng được.Từ năm 1995 đến nay, cả nước đã xảy là 4.142 cuộc đình công,

quốc phòng, một số dự án sử dụngnhiều lao động phổ thông nước ngoài.
Thứ sáu, tồn tại hiện tượng chuyển giá, trốn thuế.
Một số doanh nghiệp ĐTNN có biểu hiện áp dụng các thủ thuật chuyển giá tinh vi
như nâng khống giá trị góp vốn (bằng máy móc, thiết bị, bản quyền…), giá trị mua
bán nguyên vật liệu đầu vào, bán thành phẩm, thành phẩm, dịch vụ, phí quản
lý, tiền bản quyền, chi phí bảo lãnh, cho vay, trả lương, đào tạo, quảng cáo, nhà
thầu, chuyển nhượng vốn … tạo nên tình trạng lỗ giả, lãi thật, gây thất thu ngân
sách, làm cho đa số bên Việt Nam phải rút khỏi liên doanh, doanh nghiệp trở thành
100% vốn nước ngoài.
2.2.2. Nguyên nhân
Thứ nhất, chưa chuẩn bị tốt tiền đề thu hút vốn đầu tư nước ngoài:
Kết cấu hạ tầng, nguồn nhân lực, hệ thống doanh nghiệp trong nước… chuẩn bị
chưa tốt dẫn đếngiảm khả năng hấp thụ, cũng như hiệu quả của ĐTNN.
Cơ sở hạ tầng là một trong những trở ngại lớn nhất của phát triển kinh tế tại
Việt Nam. Cơ sở hạ tầng Việt Nam bị đánh giá là yếu kém, thiếu thốn. Việc nâng
cấp hạ tầng vật chất của Việt Nam vẫn còn nhiều thiếu sót và trậm trễ. Nhất là trong
việc phát triển cơ sở hạ tầng trọng yếu, như các tuyến đường liên tỉnh, cầu…
Những hạn chế về cơ sở hạ tầng tại Việt Nam theo đánh giá bởi các nhà đầu tư
nước ngoài sẽ đe doạ các dự án FDI đối với xuất khẩu và sản xuất. Chi phí vận tải ở
Việt Nam cao hơn nhiều so với các nước trong khu vực. Việt Nam chưa có cảng
biển mang tầm cỡ quốc tế. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến chi phí sản xuất
hàng hóa ở Việt Nam, vì phải vận chuyển qua cảng trung gian. Vấn đề bất cập


trong cơ sở hạ tầng hiện nay là thiếu một quy hoạch phát triển đồng bộ, chi phí đầu
tư cao, chất lượng đầu tư thấp và thất thoát lớn trong quá trình đầu tư.
Chất lượng nhân lực không cao và chậm áp dụng các tiến bộ khoa học công
nghệ khiến cho năng suất lao động thấp, sức cạnh tranh của hàng hóa kém, giá trị
gia tăng của các sản phẩm chưa cao. Trên thực tế, quá trình đưa nhân tố nguồn cung
lao động vào nền kinh tế Việt Nam phụ thuộc rất nhiều vào các quá trình kinh tế

thuật, công nghệ riêng thường không chuyển giao thông qua hình thức mua bán bản
quyền mà thông qua nhượng quyền hoặc các hình thức khác.
Hệ thống văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường chưa đầy đủ, thiếu đồng
bộ, chưa đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa – hiện đại hóa và hội nhập; quản lý nhà
nước về môi trường thiên về tiền kiểm (nhà đầu tư phải thực hiện báo cáo đánh giá
tác động môi trường trước khi thực hiện quy trình đầu tư đối với các dự án thuộc
diện phải đánh giá tác động môi trường), chưa chú trọng đến hậu kiểm; thiếu chế tài
xử lý nghiêm minh.
Thứ ba, quản lý nhà nước về thu hút vốn đầu tư nước ngoài chưa đạt yêu cầu
Công tác quy hoạch còn bất cập , thể hiện ở việc thiếu một số quy hoạch ngành, quy
hoạch sản phẩm; chất lượng quy hoạch chưa cao do thiếu tính dự báodài hạn và thiếu
tính liên kết vùng, liên kết ngành hàng; việc xây quy hoạch nhưng chưa tính đến năng lực sản
xuất trong nước và của ĐTNN, dẫn đến các quy hoạch còn dàn trải, hiệu quả tương hỗ thấp.
Thực hiện việc phân cấp đầu tư chưa phù hợp với tình hình thực tế,phân cấp
đầu tư “đại trà, dàn đều” chưa tính đầy đủ đến đặc thù của địa phương về năng lực
quản lý, trình độ cán bộ, quy mô nền kinh tế địa phương…Tình trạng cạnh tranh
trong thu hút ĐTNN dẫn đến một số địa phương cấp phép cho các dự án tiềm
ẩn gây ô nhiễm môi trường, tiêu tốn năng lượng sử một số bộ, ngành chưa thực
hiện công bố công khai, minh bạch điều kiện đầu tư trong từng ngành theo quy
định; lúng túng trong việc xác định các điều kiện đầu tư trong lĩnh vực quản lý,
nhất là trong bối cảnh Việt Nam đang đàm phán mở cửa thị trường đầu tư.
Các bộ, ngành chưa cập nhật, nắm bắt thông tin trong phạm vi quản lýchuyên
ngành (vốn vay, lao động, môi trường, khoa học công nghệ, công nghiệphỗ trợ…).
Điều này một mặt dẫn đến khó khăn cho chính bộ chuyên ngành trong việc quản lý,
điều hành, phân tích và dự báo về tình hình trong phạm vi
mình phụ trách, mặt khác, gây khó khăn cho Bộ Kế hoạch và Đầu tư trong
việc tổng hợp chung về tình hình đầu tư, cũng như khó khăn cho cả địa phương
trong quá trình thực thi.
Năng lực phản ứng chính sách ở các cấp còn yếu, nên chậm luật hóa vấnđề
bức xúc nảy sinh trong thực tiễn (như chuyển giá, vi phạm quy định về môi trường,

tích tụ qua các năm là nguyên nhân chủ yếu làm cho lạm phát tăng cao vào các năm
2008-2011.
Theo ông Nguyễn Xuân Tự - Vụ trưởng Vụ Giám sát và Thẩm định đầu tư Bộ Kế hoạch và Đầu tư, xét về mặt tổng thể, hiệu quả đầu tư của toàn bộ nền kinh
tế Việt Nam trong những năm vừa qua ở mức thấp và có chiều hướng đi xuống.
Trên cơ sở số liệu của Niên giám thống kê 2005 (theo giá so sánh 1994), chỉ số
ICOR (tỉ lệ phần trăm vốn đầu tư bỏ ra để tạo một đơn vị phần trăm gia tăng tổng
sản phẩm trong nước) của kinh tế Việt Nam đang có xu hướng ngày càng tăng: giai
đoạn 1996-2000 là 5,8, giai đoạn 2001-2005 là 6,6, đến năm 2010 chỉ số này là
khoảng 8 (các nước trong khu vực chỉ số này dao động trong khoảng từ trên 2 đến
dưới 4).
Thống kê của Viện Kinh tế Việt Nam cũng cho thấy, khu vực có vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài lượng tiền bỏ ra nhằm mục đích đầu tư đi vào được trong quá
trình sản xuất nhiều nhất (bỏ ra một đồng thì xấp xỉ 83% đi vào được quá trình sản
xuất), tiếp đến là khu vực kinh tế tư nhân (bỏ ra 1 đồng có 68% đi vào sản xuất)


trong khi đó khu vực kinh tế nhà nước bỏ ra 1 đồng nhằm mục đích đầu tư chỉ có
63% là đến được quá trình sản xuất.
Phân tích của các chuyên gia Viện Kinh tế Việt Nam đã đưa ra một chỉ tiêu
khác phản ảnh hiệu quả đầu tư là sản phẩm dở dang trong nền kinh tế, hay tỷ lệ giá
trị tài sản tồn kho. Khối lượng sản phẩm dở dang trong nền kinh tế tính theo tỷ
trọng so với GDP đã tăng từ 2,2% năm 2004 lên 5,1% năm 2008. Về mặt giá trị đã
tăng gần gấp 4 lần. Điều này có nghĩa là có một khối lượng vốn đầu tư ngày càng
lớn chậm được đưa vào khai thác. Một trong những nguyên nhân của tình trạng này
là việc đầu tư dàn trải, phân tán vốn.
Bàn về vấn đề này, TS. Phạm Văn Khánh - Vụ trưởng Vụ Kinh tế xây dựng Bộ Xây dựng cho rằng, hiệu quả đầu tư từ nguồn vốn nhà nước đạt thấp thể hiện rất
rõ thông qua tình trạng đầu tư dàn trải, tiến độ thi công chậm trễ, kéo dài, chất
lượng thi công không đảm bảo, vượt chi phí dự toán ban đầu, gây ô nhiễm môi
trường, chưa an toàn cho người thi công và người sử dụng. Công trình xây xong
không sử dụng, một số tiêu cực trong quá trình đầu tư xây dựng làm cho dự án bị

phân cấp nêu trên là phù hợp với thông lệ quốc tế và ở các nước phát triển, tuy
nhiên ở Việt Nam, do năng lực của chủ đầu tư còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu
cầu quản lý; thị trường tư vấn quản lý dự án đầu tư xây dựng, quản lý chi phí dự án
mới hình thành, cho nên chưa đáp ứng được yêu cầu cả về quy mô và chất lượng,
đặc biệt là đối với các dự án ở vùng núi, biên giới, dự án quy mô lớn, kỹ thuật phức
tạp, dự án áp dụng công nghệ mới. Dẫn đến, nhiều dự án bị vỡ thầu, chậm tiến độ,
vượt chi phí, gây thất thoát lãng phí vốn đầu tư do năng lực của chủ đầu tư và tư
vấn yếu kém, bên cạnh đó chế tài của pháp luật đối với các vi phạm trong quản lý
dự án, quản lý chi phí đầu tư xây dựng chưa đủ mạnh để hạn chế tiêu cực trong lĩnh
vực này…
PGS.TS Trần Đình Thiên cho rằng việc chưa thiết lập được môi trường cạnh
tranh trong khu vực sản xuất, tiêu dùng có thể là nguyên nhân chính dẫn đến sự
thiếu hiệu quả trong sử dụng vốn đầu tư Nhà nước. Theo ông Thiên: “để đạt được
hiệu quả, đầu tư công phải được triển khai một cách minh bạch và có tính cạnh
tranh. Việc tổ chức, thực hiện và giám sát đầu tư công phải khoa học, công bằng,
công khai. Khoa học là dự án đầu tư công phải được khảo cứu kỹ lưỡng và tham
khảo ý kiến các nhà nghiên cứu chuyên môn. Công bằng và công khai là nhằm
chọn được những doanh nghiệp có tư tưởng cạnh tranh lành mạnh, mưu cầu lợi
nhuận chính đáng.”
Tuy nhiên, có những vấn đề quan ngại về trách nhiệm đối với chi tiêu ngân
sách và có lập luận cho rằng bản chất thương mại của các hợp đồng tài chính là mối
nguy tiềm ẩn đối với những tiêu chuẩn đã được thông qua về trách nhiệm của các
cơ quan Nhà nước. Trách nhiệm phụ thuộc vào tính minh bạch trong các quyết định
sao cho những người quan tâm và có trách nhiệm thực hiện những công việc công
có thể giám sát quá trình thực hiện những quyết định đó. Công chúng không bị che
dấu thông tin, vì vậy, vai trò của cơ quan Kiểm toán Nhà nước trở nên quan trọng
hơn.
Ông Phạm Văn Khánh - Vụ trưởng Vụ Kinh tế xây dựng - Bộ Xây dựng đề
xuất, cần sớm sửa đổi, hoàn thiện hệ thống Luật Xây dựng, Luật Đấu thầu, Luật
Đầu tư, Luật Đất đai, Luật Ngân sách nhà nước...và các Nghị định hướng dẫn Luật

kinh doanh. Hệ quả là đòn bẩy tài chính luôn cao và có thể còn gia tăng; không thể
chủ động trong đầu tư phát triển; rủi ro và nguy cơ bất ổn kinh doanh là rất lớn.
Quản trị ở các công ty sở hữu nhà nước còn yếu kém; quyền chủ sở hữu nhà nước
chưa được thực hiện đầy đủ, kém hiệu lực, ít hiệu quả; cơ chế "hành chính chủ
quản" phân tán, thiếu minh bạch, thiếu trách nhiệm giải trình.
Thứ năm, tình trạng thiếu trách nhiệm, không sâu sát thực tế, chỉ quan tâm
đến lợi ích cục bộ, lợi ích nhóm, bệnh thành tích theo nhiệm kỳ, thiếu tuân thủ các
quy định về chuẩn bị đầu tư, thẩm quyền quyết định đầu tư, vi phạm quy hoạch đã
được phê duyệt… là những nguyên nhân dẫn đến những quyết định đầu tư chưa


đúng. Tăng GDP chạy theo số lượng, tìm mọi cách tăng lượng vốn đầu tư, trước hết
là đầu tư công diễn ra phổ biến trong tổ chức thực hiện đầu tư. Bố trí đầu tư vượt
quá khả năng cho phép, phân bổ đầu tư cho cả những dự án chưa đủ thủ tục, những
dự án chưa cần thiết, bất chấp hiệu quả làm phát sinh đầu tư dàn trải, nợ đọng lớn.
Trong nhiều dự án, chủ đầu tư quản lý đầu tư xây dựng tách rời người vận hành
công trình sau khi công trình được đưa vào sử dụng nên chủ đầu tư thường buông
lỏng trách nhiệm kiểm soát nhà thầu; có trường hợp chủ đầu tư, nhà thầu câu kết
với nhau để thực hiện các hành vi sai trái.
Thứ sáu, năng lực, trình độ chuyên môn của cán bộ, công chức chưa ngang
tầm, yếu kém trong công tác chỉ đạo, điều hành gây thất thoát, lãng phí trong quá
trình triển khai thực hiện đầu tư. Ý thức chấp hành pháp luật, kỷ cương, phẩm chất,
trình độ cán bộ, công tác chỉ đạo, điều hành, quản lý dự án đầu tư xây dựng còn
kém. Lãnh đạo không ít bộ, ngành, địa phương chưa ý thức đầy đủ về những hạn
chế, yếu kém của mình trong công tác đầu tư xây dựng. Báo cáo của các bộ, địa
phương về đầu tư vẫn nặng về thành tích, chưa thẳng thắn nhìn nhận hết mức độ
nghiêm trọng về các sai phạm, thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng cũng như
chưa làm rõ trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân.
Thứ bảy, công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm toán chưa thường xuyên, liên tục,
công tác giám sát, đánh giá đầu tư chưa được coi trọng. Công tác giám sát nội bộ


Việt Nam phát triển không bền vững là do thiếu tư duy kinh tế và quyết tâm chính
trị đủ mạnh. Rất nhiều chính sách của Việt Nam thuộc dạng lỗi thời so với các nước
Đông Nam Á, không chỉ riêng những chính sách về kinh tế, giáo dục hay khoa học
công nghệ. Theo East Asian Bureau of Economic Research, bất ổn trong nền kinh
tế vĩ mô của Việt Nam đã làm suy yếu tính cạnh tranh và hiệu quả kinh tế của quốc
gia này. Và sự bất ổn trong nền kinh tế vĩ mô của Việt Nam không chỉ là một xáo
động ngắn hạn mà thực sự là một vấn đề nghiêm trọng có hệ thống, bắt nguồn từ sự
thiếu hiểu biết về các khái niệm về nguyên tắc phát triển cũng như sự thiếu hụt về
nỗ lực mang tính chiến lược nhằm xây dựng một nền quản lý hiệu quả.
Về kinh doanh, hàng loạt các đại doanh nghiệp nhà nước như Tập đoàn Sông
Đà, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (Petro Vietnam), Tập đoàn Điện lực Việt
Nam (EVN), Tập đoàn Viễn thông Quân Đội, Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển
Nông thôn bị chính thanh tra của chính phủ phát hiện sai phạm gây tổn thất nặng
nề. Việc đầu tư thua lỗ của các doanh nghiệp nhà nước độc quyền dẫn đến chính
người dân và những người đóng thuế sẽ phải bỏ tiền của mình ra để trả nợ vì những
sai phạm kinh tế làm lỗ tới hàng tỷ đôla gây ra bởi các tập đoàn, tổng công ty của
Nhà nước.
Năm 2012, theo nghiên cứu của tổ chức nghiên cứu Brookings của Mỹ, người Việt
Nam có gánh nặng thuế và chi phí cao bậc nhất khu vực. Việt Nam có tỷ lệ dân
nghèo (người có thu nhập dưới 2 USD/ngày) chiếm 18,2% dân số; tầng lớp trung
lưu (thu nhập trên 5.600 USD/năm) chỉ chiếm 5,6% dân số. Các tập đoàn nhà
nước cốt lõi của nền kinh tế Việt Nam kinh doanh theo kiểu "lời ăn, lỗ dân chịu",
nhiều doanh nghiệp bị thua lỗ nặng như Vinashin (nợ từ 80.000 đến 120.000 tỷ
đồng), Vinalines (nợ hơn 43.000tỉ), VINACONEX (nợ nghìn tỷ), EVN, Petro
Vietnam... Tổng số nợ của các doanh nghiệp nhà nước hiện nay là trên 50 tỷ USD.
Tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu của các Doanh Nghiệp Nhà nước là 1,36 lần, chưa
bằng 1 nửa so với quy định là 3 lần, nhưng trong số này có 30/85 Tập đoàn có chỉ



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status