Sáng kiến kinh nghiệm dạy học sinh lớp 5 một số mẹo chính tả - Pdf 38

Sáng kiến kinh nghiệm

Dạy học sinh lớp 5
một số mẹo chính tả

1


Phần thứ nhất
Đặt vấn đề
i. Lý do chọn đề tài
Phân môn chính tả trong bậc Tiểu học nói chung và ở lớp 5 nói riêng giúp
học sinh hình thành năng lực và thói quen viết đúng chính tả theo quy tắc hiện
hành, nói rộng hơn là năng lực và thói quen viết đúng chính tả văn hóa Tiếng Việt
chuẩn mực. Vì vậy, phân môn Chính tả có vị trí quan trọng như các môn khác trong
cơ cấu chương trình môn Tiếng Việt.
Giống như môn Chính tả từ lớp 2 đến lớp 4, tính chất nổi bật nhất của phân
môn Chính tả lớp 5 là thực hành. Bởi lẽ chỉ có thể hình thành các kĩ năng, kĩ xảo
chính tả cho học sinh thông qua việc thực hành, luyện tập. Do đó trong phân môn
này, các quy tắc chính tả, các đơn vị kiến thức mang tính chất lý thuyết không được
bố trí trong tiết dạy riêng mà dạy lồng ghép trong hệ thống bài tập chính tả. Điều
này thoạt nghe thì có vẻ rất phù hợp với học sinh, nếu nhìn từ góc độ tâm sinh lý
lứa tuổi và khả năng tiếp thu của học sinh. Nhưng cũng chính đó, học sinh rất dễ
quên vì khả năng tổng hợp thành hệ thống còn hạn chế. Do đó, giúp học sinh khắc
phục tình trạng này là một yêu cầu cần thiết.
Một trong các mục tiêu cơ bản của phân môn Chính tả lớp 5 là dạy thế nào
để học sinh viết đúng chuẩn mực tiếng Việt văn hóa để góp phần giữ gìn sự trong
sáng của Tiếng Việt - tiếng mẹ đẻ. Về mặt hình thức chữ viết, học sinh lớp 5 hiện
đang có xu hướng tiến bộ, chữ viết xấu đang được dần khắc phục bằng phong trào
và hội thi. Nhưng bên cạnh đó, không ít học sinh (kể cả học sinh viết chữ đẹp cấp
huyện) cũng rất lúng túng khi viết chính tả phân biệt và thường xuyên viết sai chính

học về ngữ âm, chính tả từ đó giúp tôi có góc nhìn tổng quát và quan niệm đúng
đắn về quy tắc chính tả hiện hành.
2, Phương pháp điều tra, phỏng vấn: Qua điều tra bằng văn bản (phiếu) và
các cuộc phỏng vấn chính thống hoặc trao đổi ngẫu nhiên trong giao tiếp, phương
3


pháp này giúp chúng tôi có cơ sở thực tiễn về thực trạng học sinh viết (nói) sai
chính tả.
3, Phương pháp tích lũy và thống kê: trong hơn 10 năm dạy học phương
pháp này đã cung cấp cho tôi khá nhiều vốn kinh nghiệm liên quan đến đề tài. Đó
là thuận lợi đáng kể.
4, Phương pháp phân loại: phương pháp này giúp tôi phân loại được nhóm
lỗi chính tả hoặc một số lỗi chính tả có nét tương đồng về mặt ngữ âm hoặc cánh
chữa lỗi.
5, Phương pháp phân tích, tổng hợp: Phương pháp này hỗ trợ đắc lực trong
việc cắt nghĩa cơ sở lí luận.
6, Phương pháp miêu tả: Phương pháp có tác dụng trong việc giải thích,
thuyết trình cách khắc phục lỗi chính tả.
7, Phương pháp khảo sát: Trong quá trình thực hiện đề tài, vận dụng phương
pháp này để tìm hiểu và rà soát toàn bộ các bài chính tả phân biệt ở lớp 5
8, Phương pháp so sánh đối chiếu: Vận dụng phương pháp này để tránh được
sự lặp lỗi hoặc trùng hợp không cần thiết khi xây dựng mẹo chính tả.
Ngoài những phương pháp trên đây được sử dụng trong quá trình thực hiện
đề tài, tôi còn vận dụng một số phương pháp khác: phương pháp trắc nghiệm,
phương pháp thực hành, phương pháp trò chơi.
vi. Phạm vi nghiên cứu
Vấn đề mẹo chính tả ở bậc Tiểu học là rất rộng. Vì vậy để tránh lan man, dàn
trải, tôi chỉ tập trung nghiên cứu về mẹo chính tả ở một số trường hợp mà học sinh
lớp 5 ở địa phương thường mắc phải như t / n ; ch / tr ; s/ x ; d / gi / r ; iêu / iu / ưu,

Phần thứ hai
Giải quyết vấn đề

Chương I
CƠ Sở Lí LUậN Và THựC TIễN
I. Về Tiếng Việt chữ mẹ đẻ
1. Chữ cái chữ Việt
Chữ cái chữ Việt được xây dựng theo hệ thống chữ cái La tinh. Chữ cái tiếng
Việt gồm các chữ cái sau đây:
1.1.

Có 11 nguyên âm đơn: (a, ă, â, e, ê, i (y), o, ô, u , ư và 3 nguyên âm

đôi: iê (yê, ia, ya) ; ươ (ưa) ; uô (ua).
1.2.

Có 23 phụ âm: a, b (k, q), ch, d, đ, g (gh), h, kh, l,, m, n, nh, ng (ngh),

p, ph, r, s, t, th, tr, v, x .
Ngoài các chữ cái do tiếng Việt là ngôn ngữ có thanh điệu nên chữ viết tiếng
Việt còn sử dụng thêm 5 dấu để ghi 6 thanh điệu:

\ (ghi thanh huyền), ~ (ghi

thanh ngã), ? (ghi thanh hỏi), / (ghi thanh sắc), . (ghi thanh nặng) và không dùng
dấu để ghi thanh ngang ( thanh không).
2. Nguyên tắc xây dựng chữ Việt
So với chữ viếtc của nhiều ngôn ngữ trên thế giới, chữ Việt có phần thuận lợi
hơn. Do đó, chính tả của nó cũng giản tiện hơn nhiều. Nguyên nhân sâu xa nhất của
điều này là ở chỗ chữ Việt được xây dựng theo nguyên tắc âm vị học ( còn gọi là

- Âm /ie/ được biểu thị bằng bốn kí hiệu: iê, yê, ia, ya
- Âm /u  / được biểu thị bằng hai kí hiệu: ươ, ưa.
- Âm /uo/ được biểu thị bằng hai kí hiệu uô, ua.
3.2.

Vi phạm tính đơn trị của kí hiệu. Điều này thể hiện cụ thể ở một kí

hiệu biểu thị nhiều âm khác nhau tùy thuộc vào vị trí của nó trong quan hệ với
những âm trước và sau nó. Thí dụ như sau:
Thí dụ 1: chữ g khi đứng trước các chữ không phải là i, e, ê thì biểu thị là
âm /  /, nhưng khi đứng trước i mà sau i là các chữ không phải là i, e, ê thì biểu thị
là âm /z/ (gia, giữ, giục, ... ) ; Khi g đi cùng với h thì biểu thị là âm /  / (ghi, ghét,
ghế, ... ) ; khi đứng trước i hoặc iê thì một mình g lại biểu thị âm /z/ (gì, gìn, giết ..)
Thí dụ 2: Chữ O chủ yếu dùng để biểu thị nguyên âm / /; nhưng khi đứng
ngay sau a hoặc e, với tư cách là một âm cuối, thì biểu thị bán nguyên âm /u/ (gạo,
7


kẹo, ... ) ; còn khi đứng trước a hoặc e, thì lại biểu thị một giới hạn âm ( âm đệm),
đó là /u/ (hoa, hoe, ... )
* Tiếng Việt - chữ Quốc ngữ - do các giáo sĩ người Âu sáng tạo ra hồi thế kỷ XVI - XVIII
theo chữ La - tinh để tiện cho việc truyền giáo ở nước ta

Trên đây la hai trường hợp chính tả thể hiện các bất hợp lý trong chữ Quốc
ngữ. Nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ còn phân vân về tình trạng dùng nhiều dấu
phụ, như các trường hợp: ă, â, ô, ơ, ư; hoặc ghép nhiều con chữ để biểu thị một âm,
như các trường hợp: ch, gh, kh, nh, ng, ngh, ph, tr, th.
Điều đó quả không thuận tiên lắm song cũng là giải pháp riêng. Đó không là
những bất hợp lý việc vi phạm nguyên tắc cơ bản của chính tả ngữ âm học, và
không gây cản trở hay sự lộn xộn nào do chính tả Quốc ngữ, thậm chí ngay cả khi

* Thí dụ tiếng Anh: baby (hai âm tiết) ;banana (ba âm tiết) ;television (4 âm tiết) ; ....

Trong chữ “toán”, ta phân biệt hai ,phần: phần thứ nhất (t) gọi là âm đầu hay phụ
âm đầu và phần thứ hai (oán) gọi là vần: trong phần vần (oán), ta có “án” là vần
đơn và “o” đệm vào “án” làm nên âm đệm; trong vần đơn “án”, ta có hai bộ phận là
“a” gọi là nguyên âm chính và “n” gọi là âm cuối. Người ta gọi âm đầu hay âm
cuối là vì lí do trước âm đâu hoặc âm sau âm cuối không thể có một âm gì nữa.
Trong vần “oán” còn một bộ phận nữa mà ta không thể bỏ quên, đó là dấu thanh.
Tóm lại, một âm tiết - chữ - tiếng Việt bao gồm có năm phần: âm đầu, âm
đệm, âm chính, âm cuối và dấu thanh (nếu ở dạng đầy đủ) . Trong năm phần này,
có thể có những phần vắng mặt. Chẳng hạn, âm đầu có thể vắng như “oán” ; âm
cuối có thể vắng như “ào” ; âm đệm có thể vắng như “á”. Tuy nhiên, tuyệt đối có
hai phần bao giờ cũng có mặt là nguyên âm chính và dấu thanh*. Khi trong chính tả
không ghi dấu gì thì có nghĩa đó là “dấu không” chứ không phải là không có dấu.
Một âm tiết mất nguyên âm, hoặc dấu của nó thì tan rã, không được coi là một âm
tiết Việt.
2.

Một số quy định về chữ viết tiếng Việt.

2.1. Viết theo nguyên tắc ghi âm
Về nguyên tắc, chữ viết ghi âm phải căn cứ trên một cách phát âm. Mà tiếng
Việt thì tồn tại nhiều phương ngữ. Các cách phát âm địa phương có tính bảo thủ
cao và thực tế là chúng đều được tôn trọng. Người Hà Nội vẫn có niềm tự hào với
phát âm “con châu” thay vì “con trâu”. Cũng như vậy, người Sài gòn chẳng bao giờ
mặc cảm khi hỏi “tai đâu?” mà người nghe không biết chỉ vào tai hay đưa tay ra
thay cho câu trả lời. Đặc biệt Đài tiếng nói Việt Nam - cơ quan ngôn luận của Quốc
gia cũng mặc nhiên phát đi bằng cả ba thứ giọng: Hà Nội, Huế và Sài gòn đại diện
9


10




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status