Nghiên cứu đánh giá đặc điểm nông sinh học và một số chỉ tiêu chất lượng gạo của các dòng lúa chịu mặn được chọn tạo bằng phương pháp chỉ thị phân tử - Pdf 38

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
NGHỆ SINH HỌC KHOA CÔNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài: Nghiên cứu, đánh giá đặc điểm nông sinh học và một số chỉ
tiêu chất lượng gạo của các dòng lúa chịu mặn được chọn tạo bằng
phương pháp chỉ thị phân tử
Giáo viên hướng dẫn: TS. Lê Hùng Lĩnh
Sinh viên thực hiện : Trần Đình Tài
Lớp

: K19.12-03

Hà Nội – 2016


Khoa Công nghệ sinh học

Viện đại học Mở Hà Nội

LỜI CẢM ƠN.
Trước tiên tôi xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc đến TS. Lê Hùng Lĩnh (Trưởng bộ
môn Sinh học phân tử - Viện Di truyền Nông nghiêp), TS. Đinh Xuân Tú đã tận
tình hướng dẫn, giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành khóa luận này.
Tôi xin chân thành cảm ơn Tập thể cán bộ Bộ môn Sinh học phân tử (Viện Di
truyền Nông nghiệp) nơi tôi thực hiện đề tài đã tạo mọi điều kiện để tôi thực hiện
đề tài này.
Hoàn thành luận án này còn có sự động viên, khuyến khích, giúp đỡ của bạn
bè và gia đình. Tất cả sự giúp đỡ và tình cảm quý báu này là nguồn động lực
giúp tôi hoàn thành đề tài này
Tôi xin trân thành cảm ơn!


..................... 19

1.3.2.2. Chọn giống chống chịu mặn nhờ marker phân tử (MAS) ….................21
PHẦN II: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

23

2.1. Vật liệu và địa điểm nghiên cứu ...................................................................23
2.1.1. Các giống lúa nghiên cứu ..........................................................................23
2.1.2. Địa điểm nghiên cứu và thời gian tiến hành nghiên cứu ...........................23
2.2. Phương pháp nghiêm cứu .............................................................................24
2.2.1. Phương pháp thí nghiệm đồng ruộng: ......................................................24
2.2.2 phương pháp đánh giá chất lượng gạo:..........................................................26
2.2.2.1 . Phân tích nhiệt độ hóa hồ: (theo TCVN 5715-1993) ................................. 26
2.2.2.2 . Xác định hàm lượng amyloza: (theo TCVN 5716-1:2008) ........................ 27

Trần Đình Tài - K19. 1203

ii


2.2.3.3 . Xác định độ bền gel: (theo TCVN 8369:2010) ......................................... 31
2.2.3.4 . Đánh giá chất lượng cơm: (theo 10TCN590-2004)................................... 33
2.3 Phương pháp tách chiết DNA tổng số ...........................................................35
2.3.1. Kỹ thuật SSR .............................................................................................36
2.3.2. Phương pháp điện di trên gel polyacrylamide ...........................................37
2.3. Phân tích số liệu ............................................................................................38
PHẦN 3: KẾT QUẢ


: Axit Deoxyribonucleic

Bp

: Base pair – Cặp bazơ nitơ

Cs

: cộng sự

Ctv

: cộng tác viên

CTPT

: chỉ thị phân tử

SSR

: Simpel Sequence Repeat – sự lặp lại của trình tự đơn giản

dNTP

: Deoxynucleotide triphosphate

MABC

: Marker Assisted Backcrossing – chọn lọc nhờ chỉ thị phân tử kết
hợp lai trở lại



DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1. Mực nước biển dâng (cm) so với thời kỳ 1980-1999 ........................... 7
Bảng 1.2. Dự báo thiệt hại sản lượng lúa theo kịch bản về nước biển dâng 1m tại
ĐBSCL .................................................................................................................. 9
Bảng 3.2.1 Độ phân hủy kiềm của gạo xát ......................................................... 27
Bảng 2.2.2. Dãy dung dịch chuẩn ....................................................................... 30
Bảng 2.2.3 - Phân loại độ bền gel của gạo trắng theo chiều dài của gel ............ 31
Bảng 2.2.4. Tỷ lệ thích hợp giữa gạo và nước .................................................... 34
Bảng 2.3.1. Thành phần phản ứng PCR .............................................................. 36
Bảng 2.3.2. Chu trình nhiệt của phản ứng PCR .................................................. 37
Bảng 3.1.1. Danh sách các chỉ thị phân tử đa hình tại vị trí locus gen Saltol .... 40
Bảng 3.2.1. Chỉ tiêu sinh trưởng và phát triển của một số dòng BT7–Saltol Vụ
Mùa 2015 tại Giao Thủy –Nam Định ................................................................. 47
Bảng 3.2.2. Chỉ tiêu sinh trưởng và phát triển của một số dòng BT7–Saltol Vụ
Mùa 2015 tại Giao Thủy –Nam Định ................................................................. 48
Bảng 3.2.3. Năng suất DNAse-free và các yếu tố cấu thành năng suất của các
dòng Bắc Thơm 7 chịu mặn Vụ Mùa 2015 tại Giao Thủy - Nam Định ............ 49
Bảng 3.3.1 Nhiệt độ hồ hóa của các dòng tham gia thí nghiệm ......................... 52
Bảng 3.3.2. Hàm lượng amyloza của các mẫu tham gia thí nghiệm .................. 55
Bảng 3.3.3. kết quả đánh giá độ bền gel sau 60 phút của các dòng tham gia thí
nghiệm ................................................................................................................. 57
Bảng 3.3.4. Chất lượng lúa gạo của dòng Bắc Thơm 7 – Saltol......................... 58
Bảng 3.3.5. Đánh giá chất lượng cơm của các dòng Bắc Thơm 7 – Saltol ........ 59

Trần Đình Tài - K19. 1203

v


trong tổng số 248,4 triệu ha trồng lúa toàn thế giới. Ở nước ta, lúa là nguồn
lương thực chủ yếu cung cấp cho 90 triệu dân, với diện tích khoảng 7,8 triệu ha
cho sản lượng lúa 44.84 triệu tấn, vươn lên là nước xuất khẩu lúa gạo hàng đầu
thế giới (năm 2015). Nước ta có hai vùng trồng lúa chính là Đồng bằng Sông
Cửu Long (ĐBSCL) với diện tích 3,79 triệu ha chiến 50% sản lượng lúa cả nước
và Đồng bằng Sông Hồng (ĐBSH) 1,18 triệu ha chiếm 17% sản lượng (Bộ Nông
Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn, 2009; MPI 2009).
Việt Nam với đường bờ biển dài 3620 km trải dài từ Bắc vào Nam, hàng
năm những vùng trồng lúa ven biển chịu ảnh hưởng rất nhiều do sự sâm thực của
nước biển. Theo thống kê, diện tích đất ngập mặn năm 1992 là 494.000 ha, đến
năm 2000 là 606.792 ha. Theo Tổng cục thủy lợi do mùa mưa năm 2015 đến
muộn và kết thúc sớm, dòng chảy thượng nguồn sông Mê Kông bị thiếu hụt,
mực nước thấp nhất trong vòng 90 năm qua xâm nhập mặn đã xuất hiện sớm hơn
so với cùng kỳ năm hàng năm gần hai tháng, ảnh hưởng tới sản xuất nông
nghiệp. Cụ thể, tình trạng xâm nhập mặn diễn ra như sau:
− Khu vực sông Vàm Cỏ: Đôn mặn lớn nhất đạt 8,12 g/l cao hơn trung bình
nhiều năm từ 5,9 – 6,2 g/l, phạm vi xâm nhập mặn vào đất liền của độ mặn 4
g/l (bắt đầu ảnh hưởng tới cây lúa) lớn nhất 90 – 93 km, sâu hơn trung bình
nhiều năm 10 – 15 km.
− Khu vực cửa sông thuộc sông Tiền: Độ mặn lớn nhất đạt 14,6 – 31,2 g/l,
cao hơn trung bình nhiều năm từ 3,2 – 12,4 g/l, phạm vi xâm nhập mặn vào

Trần Đình Tài - K19. 1203

i


đất liền của độ mặn 4 g/l lớn nhất 45 – 65 km, sâu hơn trung bình nhiều năm
20 – 25 km.
− Khu vực cửa sông thuộc sông Hậu: Độ mặn lớn nhất đạt 16,5 – 20,5 g/l, cao

đặt chỉ tiêu chất lượng nấu nướng lên vị trí hàng đầu.
Tinh bột là thành phần chính dự trữ trong nội nhũ hạt gạo dưới dạng glucid
tồn tại ở hai dạng polysaccharide là amylose (chiếm 0-30%) và amylopectin
chiếm 70% (Martin and Smith, 1995). Mùi thơm ở lúa gạo chủ yếu do một hợp
chất dễ bay hơi là 2-acetyl-1 pyrroline (2AP) quyết định (Lorrieux, 1996). Để
chọn tạo được giống lúa lai hai dòng có chất lượng cao cần tiến hành đánh giá
một số chỉ tiêu chất lượng nấu nướng như nhiệt độ hồ hóa, độ bền gel, hàm
lượng amylose, mùi thơm và xác định sự có mặt của gen mùi thơm của các dòng
bố mẹ
Xuất phát từ những vấn đề trên được sự giụp đỡ và tạo điều kiện nghiên
cứu của phòng sinh học phân tử Viện Di Truyền Nông Nghiệp và sự đồng ý của
T.S Lê Hùng Lĩnh chúng tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu, đánh giá đặc điểm
nông sinh học và một số chỉ tiêu chất lượng gạo của các dòng lúa chịu mặn
được chọn tạo bằng phương pháp chỉ thị phân tử”
2. Mục tiêu nghên cứu của đề tài:
− Sử dụng chỉ thị phân tử để xác định dòng lúa Bắc Thơm số 7 mang gen
chịu mặn Saltol đã được cải tiến bằng phương pháp chỉ thị phân tử và lai trở
lại.
− Đánh giá các đặc điểm nông sinh học và chất lượng gạo của các dòng lúa
chịu mặn này so sánh với giống gốc Bắc Thơm số 7.
3. Nội dung nghiên cứu:
− Nội dung 1: Sử dụng chỉ thị phân tử liên kết với locus gen Saltol xác định
lại các dòng lúa Bắc Thơm số 7 chịu mặn được cải tiến bằng phương pháp
chỉ thị phân tử và lai trở lại
− Nội dung 2: Nghiên cứu đánh giá đặc tính nông sinh học các dòng lúa Bắc

Trần Đình Tài - K19. 1203

3



Trần Đình Tài - K19. 1203

5


Biến đổi khí hậu có ảnh hưởng lớn tới việc sản xuất lúa gạo vì phần lớn
diện tích trồng lúa tập chung ở những vùng thấp hoặc đồng bằng ở các quốc gia
như Việt Nam, Ấn Độ, Bangladesh... Những khu vực này lại có nguy cơ bị xâm
nhập mặn cao khi nước biển dâng. Theo các nhà khoa học, trong vòng 50 năm
trở lại đây khí hậu toàn cầu đã có những biến đổi phức tạp, trong đó phải kể đến
sự nóng lên của đại dương thế giới. Các số liệu quan trắc cho thấy, mực nước
biển trung bình toàn cầu đã dâng lên 1,8mm/năm (Intergorvemental Panel on
Climate Change - IPCC, 2007). Ở Châu Á nếu nước biển dâng lên 1m, khoảng
10.000km2 diện tích đất canh tác và nuôi trồng thủy sản trở thành đầm lầy ngập
mặn. Theo báo cáo của FAO (2010), trên 800 triệu diện tích tưới (khoảng 45
triệu ha) được ước tính bị xâm nhập mặn theo mức độ khác nhau. Vấn đề này
nghiêm trọng hơn kể từ khí các khu vực này đảm bảo khoảng một phần ba lương
thực thế giới. Do đó việc việc phát triển một giống lúa chịu mặn để ứng phó với
biến đổi khí hậu và nước biển dâng là một vấn đề vô cùng quan trọng và bức
thiết trong bối cảnh hiện nay.
1.1.2. Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam
Việt Nam có đường bờ biển dài hơn 3200km với 28 tỉnh, thành phố giáp
biển. Do đó việc biến đổi khí hậu đặc biệt là hiện tượng nước biển dâng sẽ làm
ngập mặn hầu hết những vùng đất mầu mỡ là nơi sản xuất lúa gạo chủ yếu của
Việt Nam, tập chung chủ yếu ở đồng bằng Sông Cửu Long và đồng bằng Sông
Hồng. Nước biển dâng còn làm ảnh hưởng tới lưu lượng dòng chảy của các con
sông, thậm chí ngay cả những nơi xa biển.

Trần Đình Tài - K19. 1203

17

23

28

35

42

50

57

65

Vừa

12

18

23

30

3

46


có những phần diện thích canh tác ở Đồng bằng Sông Cửu Long, Đồng bằng
Sông Hồng và các đồng bằng duyên hải khác bị ngập. Theo kịch bản nước biển
dâng của Bộ Tài Nguyên và Môi Trường thì Vào giữa thế kỷ 21 mực nước biển
có thể dâng thêm khoảng 30cm và đến cuối thế kỷ 21 mực nước biển có thể dâng
thêm khoảng 75cm so với thời kỳ 1980 - 1999. Nếu mực nước biển dâng cao như
đã nêu, sẽ có khoảng 90% diện tích trồng lúa ĐBSCL bị ngập hoàn toàn (không
sản xuất được), các tỉnh có tỷ lệ ngập cao theo thứ tự lần lượt là Bạc Liêu, Bến
Tre, Hậu Giang, Sóc Trăng, Trà Vinh và Vĩnh Long. Theo nghiên cứu của Phân
viện Khí tượng thủy văn và môi trường phía Nam, kết quả quan trắc tại các trạm
ở ĐBSCL cho thấy: từ năm 1960 - 2000, lượng mưa có sự gia tăng khoảng 200 400 mm. Trong những năm cuối của giai đoạn này tại một số địa phương ở
ĐBSCL như Cần Thơ, Phú Quốc lượng mưa đã đặc biệt tăng cao. Số cơn bão có
ảnh hưởng đến ĐBSCL cũng tăng cao. Trên thực tế trong năm 2015 tình trạng
xâm nhập mặn đã xảy ra ở nhiều địa phương vùng ĐBSCL như: Bến Tre, Cà
Mau, Sóc Trăng, Tiền Giang, Trà Vinh, An Giang... Theo Đài Khí tượng-Thủy
văn khu vực Nam Bộ, tại các địa phương trên, nhiều nơi nước mặn đã xâm nhập

Trần Đình Tài - K19. 1203

7


sâu vào nội đồng từ 50 đến 60km, độ mặn cũng cao hơn những năm trước, khiến
hàng chục nghìn ha lúa, hoa màu, cây ăn quả bị thiệt hại.
Xâm nhập mặn không chỉ tác động tiêu cực đến cuộc sống, sinh hoạt, mà
còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc canh tác, sản xuất của người dân. Theo
tính toán, khi độ mặn vượt quá 1 phần nghìn là đã không thể sử dụng được cho
sinh hoạt, nếu vượt quá 4 phần nghìn cây không sinh trưởng được và chết [4].
Thực tế, tại nhiều tỉnh ở ĐBSCL, có thời điểm độ mặn đã lên đến 8-9 phần
nghìn. Và với tác động của biến đổi khí hậu, hiện tượng này càng ngày càng có
những diễn biến khó lường, thậm chí không chỉ diễn ra ở vùng ĐBSCL mà cả

(1000ha)
(1000
đồng)*
ha)
tấn)
ha)
Bến tre

231,5

113,1

81,7

4,06

2,0

663,7

2.522,0

Long An

449,2

216,9

160,0


4,93

2,0

1.150,1

4.370,2

209,5

86,2

39,2

3,17

2,0

248,6

944,6

147,5

60,6

49,2

4,77


588,5

2.236,3

626,9

175,7

112,8

4,61

2,0

1.040,5

3.953,7

298,6

75,8

64,6

5,18

2,0

669,6


Vĩnh
Long
Bạc Liêu
Tiền
Giang
Kiên
Giang
Cần Thơ

Trần Đình Tài - K19. 1203

7.597,4 28.870,2
40,52

40,52

9


Ghi chú: (*) Giá lúa được tính là 3.800 đ/kg tại thời điểm tháng 12/2009.
Nguồn: Tính toán dựa theo nguồn số liệu của Jeremy Carew-Ried- Trung tâm
Quốc tế về quản lý môi trường (ICEM), 2007 và Bộ TN&MT, 2009.
Các vùng lúa nhiễm mặn ở vùng ĐBSH thuộc các tỉnh như Thái Bình, Hải
Phòng, Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hóa,… Một số vùng ven biển thuộc Hải
Phòng bị nhiễm mặn khoảng 20.000ha ở hai dạng nhiễm mặn tiềm tàng và nhiễm
mặn xâm nhiễm từ 0,3-0,5%, chủ yếu tập chung tại các huyện Kiến Thủy, Tiên
Lãng, Thủy Nguyên, Vĩnh bảo,… Tỉnh Thái Bình có khoảng 18.000ha nhiễm
mặn chủ yếu ở các huyện Thái Thụy, Tiền Hải, Kiến Xương,… Tỉnh Nam Định
có khoảng 10.000ha chủ yếu ở các huyện như Nghĩa Hưng, Xuân Trường, Giao
Thủy,… Tỉnh Thanh Hóa có khoảng 22.000ha đất nhiễm mặn chủ yếu ở các

nhóm gen cộng tính. Hệ số di truyền tính chống chịu thông qua các tính trạng
như vậy rất thấp (Teng 1994). Trong giai đoạn trưởng thành của cây lúa, tính
trạng chiều cao cây, năng suất trong điều kiện xử lý mặn được điều khiển bởi
nhóm gen cộng tính (Moeljopawiro và Ikehashi 1981, Akbar và ctv. 1986,
Mishra và ctv. 1990) Trong phân tích di truyền số lượng thông qua lai diallel
6x6, năng suất lúa thể hiện tính hoạt động của nhóm gen cộng tính không có ý
nghĩa trong điều kiện bình thường, nhưng trở nên có ý nghĩa trong điều kiện xử
lý mặn (Narayanan và ctv. 1990). Năng suất lúa bị giảm là do ảnh hưởng của
mặn. Một giống lúa có ưu thế hoạt động gen cộng tính đối với năng suất sẽ là
điều kiện thuận lợi cho chọn lọc giống trong môi trường mặn. Trong phân tích di
truyền số lượng thông qua lai diallel 9x9, tính trạng chống chịu mặn được xem
xét qua tỉ lệ thấp của Na / K ở trong chồi, tính trạng này được kiểm soát bởi hoạt
động của cả hai nhóm gen cộng tính và không cộng tính. Tính trạng Na / K thấp
còn thể hiện ảnh hưởng siêu trội và được điều khiển bởi ít nhất hai nhóm gen
trội. Ảnh hưởng của môi trường rất có ý nghĩa và hệ số di truyền thấp (19,18%)
(Gregorio và Senadhira 1993). Từ đó, số lượng lai phải thật lớn, và việc tuyển

Trần Đình Tài - K19. 1203

11


chọn nên được thực hiện ở các thế hệ sau cùng, dưới điều kiện mặn được kiểm
soát chặt chẽ, giảm thiểu thấp nhất ảnh hưởng biến động của môi trường.
Xác định gen chống chịu mặn là trọng tâm quan trọng trong chọn giống lúa,
nó có những khó khăn nhất định mà nhà chọn giống phải đối mặt như: nguồn
gen chịu mặn khan hiếm, tính trạng chịu mặn là tính trạng di truyền số lượng
QTL (Quantitative trait loci), cơ chế chống chịu mặn phức tạp và rất khó để đánh
giá chính xác những tính trạng sinh lý liên quan đến khả năng chịu mặn. Có một
số phương pháp chọn giống chịu mặn được các nhà chọn giống thường xuyên áp

Do ảnh hưởng lớn từ môi trường bên ngoài, sự thể hiện di truyền là rất thấp
trong các tính trạng. Phương pháp chọn giống chống chịu mặn có thể dùng
phương pháp trồng dồn có cải tiến hoặc có thể dùng phương pháp chọn lọc cá
thể (single seed descent) sẽ là thích hợp trong chọn giống chịu mặn. Bằng
phương pháp lai diallel đầy đủ Gregorio và Senadhina (1993) cho rằng, có thể
tìm ra một số cặp lai tốt phục vụ cho chương trình ưu thế lai. Nghiên cứu về di
truyền số lượng tính chống chịu mặn thông qua lai diallel 6x6, năng suất thể hiện
hoạt động nhóm gen cộng tính không có ý nghĩa trong điều kiện bình thường,
nhưng trở lên có ý nghĩa trong điều kiện xử lý mặn. Năng suất lúa bị giảm là do
ảnh hưởng của mặn. Trong một số giống lúa, ưu thế hoạt động của gen cộng tinh
đối với năng suất là điều kiện thuận lợi cho chọn chọn lọc giống trong môi
trường mặn.
Nghiên cứu về các thông số di truyền Mishra và ctv (1996) cho rằng, chiều
dài bông và khối lượng 1000 hạt chịu tác động rất ít bởi các yếu tố môi trường,
nếu như chọn giống chống chịu mặn dựa vào hai tính trạng này là không có hiệu
quả. Khối lượng bông, số hạt chắc trên bông, chiều cao cây có hệ số path rất cao
trong môi trường mặn. Chính ba tính trạng này đóng góp phần lớn trong việc
tăng năng suất lúa trong môi trường mặn, nhất là khống lượng bông và số hạt
chắc trên bông. Narayanan và ctv (1990) cho rằng, số hạt chắc trên bông, chiều

Trần Đình Tài - K19. 1203

13


dài bông là tính trạng chính đóng góp vào năng suất của các giống lúa trong
những vùng đất bị nhiễm mặn
1.2.2 Sự thể hiện gen chống chịu mặn
Trong nông nghiệp, thiệt hại do mặn, lạnh và khô hạn có ảnh hưởng nghiêm
trọng nhất đối với năng suất cây trồng (Boyer 1982). Đặc biệt thiệt hại do mặn

transcript thay đổi nhanh trong Pokkali, nhưng IR29 có một sự suy giảm trong
vòng 3 giờ đầu tiên, dẫn đến cái chết
của giống nhiễm mặn này ngay sau đó.
Hoạt động quang hợp, sự lưu thông qua khí khổng, và hô hấp được ghi nhận
sau khi xử lý 150mM NaCl. Quang hợp giảm trong vòng 20 phút và ổn định ở
phút thứ 30 (Hoạt động quang hợp được đo theo giá trị µmol photons / m2 / giây,
hoạt động này chỉ còn khoảng 1/10 so với bình thường) trong giống chuẩn kháng
Pokkali. Trong điều kiện xử lý mặn lâu hơn, Pokkali tiếp tục phát triển với tốc
độ quang hợp thấp, 7 ngày sau khi xử lý mặn, tổng lượng chất khô tăng gấp đôi.
Pokkali duy trì lượng nước trong chồi trong 6 ngày bị stress. Ngược lại, IR29 thể
hiện phản ứng chậm hơn đối với stress, và tất cả cây lúa bị chết khô trong vòng
24 giờ. Điều này cho thấy tính chống chịu của Pokkali là một cơ chế thể hiện
nhanh sau khi có tín hiệu mặn, giúp nó chống chịu thiệt hại do mặn tốt hơn giống
nhiễm IR29 (Kawasaki và ctv. 2001)
Sự biểu hiện của lúa khi gặp điều kiện bất lợi mặn là:
Triệu chứng hình thái
• Trắng đầu lá sau đó cháy (salinity)
• Lá vàng và chết (sodicity)
• Sinh trưởng còi cọc
• Đẻ nhánh kém
• Hạt lép

Trần Đình Tài - K19. 1203

15


• Chỉ số thu hoạch thấp
• Số hạt trên bông ít
• Khối lượng 1000 hạt thấp

• Đóng nhanh khí khổng khi có biểu hiện bất thuận mặn
Tiến hành các thí nghệm thanh lọc mặn ta nhanh chóng thấy được sự biểu
hiện của gen Saltol giữa các giống đối chứng nhiễm với đối chứng kháng dựa
trên cơ sở các chỉ tiêu hình thái, sinh lý và hóa sinh nêu trên.
1.3 Một số kết quả trong chọn tạo giống lúa chịu mặn
1.3.1. Kết quả nghiên cứu, chọn tạo giống lúa chịu mặn trên thế giới
Để khắc phục vấn đề đất nhiễm mặn trên Thế giới có hai cách tiếp cận chính là:
- Cải tạo môi trường đất mặn.
- Lựa chọn cây trồng phù hợp hoặc cải tiến đặc tính di truyền để chống chịu
với điều kiện mặn.
Cách tiếp cận thứ nhất liên quan đến khoa học cải tạo đất và cần nhiều nguồn
lực thường với quy mô nhỏ.
Cách tiếp cận thứ hai chọn lọc giống cây trồng có khả năng chịu mặn hoặc
thay đổi cấu trúc gen của cây trồng để có thể thích ứng với vùng trồng nhiễm
mặn. Đây là khả năng có triển vọng, ít tốn kém và là biện pháp được chấp nhận
về mặn kinh tế và xã hội. Biện pháp này nhằm vào khả năng cho cây trồng chịu
đựng áp lực mặn đến mức độ tối đa để quản lý tài nguyên một cách tối ưu. Đây
là căn cứ để phát triển những giống cây trồng hoàn toàn thích hợp và có khả
năng chịu đựng độ mặn cao, phát triển tốt trong những vùng đất chịu mặn.
Việc chọn tạo giống lúa chịu mặn là một giải pháp hợp lý nhất vì tí tốn kém.
Một số giống chịu mặn đã được chọn tạo và canh tác hiệu quả ở một số nước

Trần Đình Tài - K19. 1203

17


trên thế giới. Nhiều nguồn giống lúa địa phương như Nona Bokra, Bura Rata
chống chịu mặn tốt tương đương với giống Pokkali đã được xác định.
Các quốc gia trên thế giới đang tiến hành chọn tạo, canh tác có hiệu quả một


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status