VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN THỊ VÂN ANH
CÁC GIẢI PHÁP QUẢN LÝ, HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN HOẠT
ĐỘNG ƢƠM TẠO DOANH NGHIỆP KHOA HỌC VÀ
CÔNG NGHỆ TẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Hà Nội, 2016
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN THỊ VÂN ANH
CÁC GIẢI PHÁP QUẢN LÝ, HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN HOẠT
ĐỘNG ƢƠM TẠO DOANH NGHIỆP KHOA HỌC VÀ
CÔNG NGHỆ TẠI VIỆT NAM
Ngành: QUẢN TRỊ KINH DOANH
Mã số:
60340102
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
DNKHCN TẠI VIỆT NAM.................................................................................................................................... 45
2.1 Một số điều kiện cơ bản cho hoạt động ươm tạo DNKHCN tại Việt Nam ...45
2.2 Nhu cầu ươm tạo DNKHCN ở Việt Nam ......................................................48
2.3 Các nhân tố tham gia vào hoạt động ươm tạo DN và ươm tạo DNKHCN ở
Việt Nam ................................................................................................................50
2.4 Hiện trạng hoạt động ươm tạo DNKHCN tại Việt Nam................................55
2.5 Một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam ...................................................66
Chƣơng 3 ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG ƢƠM TẠO
DNKHCN ............................................................................................................................................................................ 67
3.1 Định hướng phát triển, mục tiêu ....................................................................67
3.2 Giải pháp phát triển hoạt động ươm tạo DNKHCN ......................................70
3.3 Khuyến nghị với Nhà nước ............................................................................77
KẾT LUẬN......................................................................................................................................................................... 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................................................................................................ 79
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BPDN:
Bệ phóng doanh nghiệp
CSƯT:
Cơ sở ươm tạo (trong báo cáo này sử dụng có ý nghĩa tương
tự như vườn ươm)
CSƯTDNKHCN
Cơ sở ươm tạo doanh nghiệp khoa học và công nghệ
Vườn ươm doanh nghiệp
VƯDNKHCN:
Vườn ươm doanh nghiệp khoa học và công nghệ
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ (DNKHCN) về cả số lượng
và chất lượng là một trong những nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu trong hoạt động quản
lý nhà nước về DNKHCN tại Cục Phát triển thị trường và doanh nghiệp khoa học
và công nghệ (NATEC) – Bộ Khoa học và Công nghệ. Quyết định số
418/2012/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển
KH&CN giai đoạn 2011 – 2020 đã chỉ rõ mục tiêu phấn đấu phát triển 3.000
DNKHCN đến năm 2015 và 5.000 DNKHCN đến năm 2020.
Hoạt động "ươm tạo doanh nghiệp KH&CN" là một trong số các công cụ
quan trọng để hỗ trợ phát triển các DNKHCN, đặc biệt là khuyến khích các doanh
nghiệp mới khởi sự. Áp lực cạnh tranh của quá trình hội nhập kinh tế thế giới và xu
thế phát triển KH&CN của đất nước là một trong những động lực quan trọng đối
với sự hình thành và phát triển Vườn ươm doanh nghiệp công nghệ. Đây là một đòi
hỏi của thực tế khách quan.
Để áp dụng các công nghệ mới, những kết quả nghiên cứu cần phải được
nuôi dưỡng một cách thích hợp trong một môi trường, hoàn cảnh thuận lợi. Để tạo
điều kiện tốt cho hoạt động nghiên cứu cơ bản ở những lĩnh vực rộng, cần hội tụ
các phòng thí nghiệm thuộc các chuyên ngành kỹ thuật khác nhau vào một công
viên nghiên cứu là nơi mà họ có thể chia sẻ kinh nghiệm và liên kết với nhau. Tuy
nhiên, hoạt động nghiên cứu cơ bản thường chỉ chú trọng vào công tác phát minh
những vấn đề/lĩnh vực chưa biết, nên không thể tự động đưa lại các ngành công
nghiệp mới. Do vậy, cần phải tiến hành một bước tiếp theo là khâu “ươm tạo” để
hoạt động của tổ chức ƯTDN khoa học công nghệ. Báo cáo khoa học đề tài cấp bộ
- Bộ Khoa học và Công nghệ, 2005.
Mặc dù những nghiên cứu trong nước về ƯTDNKHCN chưa nhiều nhưng
có thể học hỏi từ kinh nghiệm quốc tế do đây là công tác được nhiều quốc gia phát
triển quan tâm nghiên cứu từ lâu. Có thể để đến một số công tr nh như:
2
(i) “A review of research on the role and effectiveness of business incubation
for high-growth start-ups” của các tác giả Nicola Dee, David Gill, Robert Lacher,
Finbarr Livesey và Tim Minshall do University of Cambridge xuất bản. Nghiên cứu
này đã tr nh bày tổng quan về vai trò và hiệu quả của công tác ƯTDN trong hỗ trợ sự
phát triển của các DN khởi nghiệp có khả năng tăng trưởng cao.
(ii) “Business incubators in developing countries: characteristics and
performance” của tác giả Rustam Lalkaka đăng trên tạp chí International Journal
of Entrepreneurship and Innovation Management, tập 3 (số 1-2). Nghiên cứu trình
bày các đặc trưng của vườn ươm ở các nước đang phát triển như Trung Quốc,
Brazil,… Dựa trên kinh nghiệm gần đây của các quốc gia được nghiên cứu, tác giả
đã đề xuất những bài học thực tiễn có giá trị.
(iii) “A Real Options-Driven Theory of Business Incubation” của các tác giả
Sean M. Hackett và David M. Dilts đăng tải trên tạp chí Journal of Technology
Transfer (số 29), pg.41-54. Bài báo đã tr nh bày về các bước trong quy tr nh ươm
tạo DN.
Có thể nói, các nghiên cứu trong nước tuy hạn chế về số lượng nhưng phần
nào cho thấy được thực trạng công tác ƯTDN nói chung, ƯTDNKHCN nói riêng
tại Việt Nam. Trong khi đó, các tài liệu của nước ngoài đa phần do các nhà nghiên
cứu đến từ các quốc gia phát triển, có thể đưa ra nhiều kinh nghiệm phong phú để
học hỏi (mặc dù cần chọn lọc do các nghiên cứu dựa trên thực tiễn các nước nói
chung có tr nh độ phát triển kinh tế cao hơn Việt Nam).
Nam và trên thế giới.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phƣơng pháp nghiên cứu tài liệu
Các tài liệu trong và ngoài nước về thực tiễn, chính sách pháp luật trong cơ
chế quản lý, hỗ trợ phát triển hoạt động ươm tạo doanh nghiệp khoa học và công
nghệ. Nghiên cứu tài liệu về thực tiễn, chính sách, pháp luật của nước ngoài; phân
tích những nét tương đồng và khác biệt trong cơ chế quản lý, hỗ trợ phát triển hoạt
động ươm tạo doanh nghiệp khoa học và công nghệ trong nước và trên thế giới là
một nguồn tài liệu thứ cấp quan trọng trong phần này. Các văn bản pháp quy của
4
Đảng, Chính phủ, các cơ quan chính quyền cũng được xem xét để giúp tác giả hình
dung được bức tranh toàn cảnh về các giải pháp đã được thực thi, những vướng
mắc trong quá trình thực hiễn và hướng xử lý.
5.2. Phƣơng pháp điều tra, khảo sát
Phương pháp phỏng vấn trực tiếp, trao đổi, thảo luận, thống kê tổng hợp kết
hợp với phương pháp thống kê định tính. Phân tích thông tin thu nhận được để
phân tích sự kiện, t m ra nguyên nhân và đề xuất giải pháp.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Những kết quả mới về mặt khoa học của Đề tài
- Tổng quan về lý luận DNKHCN và ươm tạo DNKHCN, phân tích kinh
nghiệm của một số nước phát triển ươm tạo DNKHCN.
- Phân tích đánh giá thực trạng hoạt động phát triển hoạt động ươm tạo
DNKHCN .
- Đề xuất các giải pháp quản lý và hỗ trợ phát triển hoạt động ươm tạo
DNKHCN.
Những giá trị của Đề tài
Đối với việc xây dựng cơ chế chính sách phục vụ công tác quản lý nhà
nước: Kết quả nghiên cứu của Đề tài sẽ là tài liệu tham khảo, có tính chất tư vấn
1.1
Khái niệm và đặc điểm của doanh nghiệp khoa học và công nghệ
1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp khoa học và công nghệ (DNKHCN)
DNKHCN, hiểu theo theo thông lệ chung, là DN mà hoạt động sản xuất,
kinh doanh được bắt đầu từ việc ứng dụng hoặc sử dụng công nghệ hay bí quyết
công nghệ được tạo ra từ kết quả nghiên cứu của các viện nghiên cứu, các trường
đại học hoặc các tổ chức và cá nhân có hoạt động nghiên cứu khoa học và phát
triển công nghệ. Hiện nay cũng có nhiều thuật ngữ khác nhau khi nói đến đối tượng
DNKHCN như DN dựa trên nền tảng công nghệ (technology-based enterprises);
DN dựa trên nền tảng tri thức (knowledge-based enterprises); DN dựa trên nền tảng
công nghệ mới/cao (new/high technology-based enterprises); DN dựa trên nền tảng
khoa học (science-based enterprises),…
Tại Việt Nam, theo quy định tại Nghị định 80/2007/NĐ-CP ngày 19 tháng 5
năm 2007 (điều 1 và điều 2), DNKHCN là DN do cá nhân, tổ chức có quyền sở
hữu hoặc sử dụng hợp pháp các kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công
nghệ thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động theo quy định của Luật doanh nghiệp
và Luật khoa học và công nghệ.
Nghị định 80 cũng quy định rằng hoạt động chính của DNKHCN là thực
hiện sản xuất, kinh doanh các loại sản phẩm hàng hoá hình thành từ kết quả nghiên
cứu khoa học và phát triển công nghệ và thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công
nghệ. Ngoài các hoạt động này, DNKHCN có thể thực hiện sản xuất, kinh doanh
các loại sản phẩm hàng hoá khác và thực hiện các dịch vụ khác theo quy định của
pháp luật.
7
1.1.2 Đặc điểm của DNKHCN
học và công nghệ (ƢTDNKHCN)
Nói một cách tổng quát, ƯTDN là sự hỗ trợ việc khởi nghiệp từ giai đoạn
h nh thành ý tưởng, phát triển sản phẩm cho đến khi thành lập và phát triển DN
thành công. Ở cách nhìn này, các hoạt động được tính là hoạt động ƯTDN rất đa
dạng và được thực hiện bởi rất nhiều chủ thể. Về mặt logic, ƯTDNKHCN là một
bộ phận của ƯTDN nói chung. Điểm khác biệt cơ bản chính là sản phẩm của hoạt
động này là cho ra đời các DNKHCN.
ƯTDNKHCN là một khái niệm tương đối mới mẻ ở nước ta cho dù đã được
phát triển tương đối đa dạng và sâu sắc ở các nước có nền kinh tế phát triển trên thế
giới. Nó liên quan chặt chẽ đến những quan điểm về ươm tạo công nghệ (ƯTCN),
ƯTDN, ƯTDN công nghệ, vườn ươm DN (VƯDN) hay vườn ươm DNKHCN. Để
có thể đi sâu phân tích làm rõ nội hàm hoạt động ƯTDNKHCN, chúng ta cần thống
nhất cách hiểu các khái niệm nói trên. Sau đây tr nh bày những định nghĩa được
dùng tương đối rộng rãi trên thế giới [4, tr.2].
Ươm tạo công nghệ (technology incubation) là quá trình nghiên cứu khoa
học nhằm (i) thích nghi và làm chủ công nghệ tiên tiến ngoại nhập; (ii) đổi mới, cải
tiến công nghệ theo hướng hiện đại hoá (technology innovation) làm tăng năng suất,
giảm giá thành, tăng cường năng lực cạnh tranh của sản phẩm; (iii) sáng tạo công
nghệ (new and advanced technologies/ inventions).
ƯTDN (business incubation) là quá trình hỗ trợ cho các DN trong giai đoạn
khởi nghiệp nhằm giảm thiểu chi phí ban đầu, hạn chế rủi ro, khắc phục những
thiếu hụt kiến thức và kinh nghiệm về tổ chức, quản lý, mạng lưới liên kết, tiếp cận
thị trường..., nâng cao khả năng tồn tại (survival rate) và sự phát triển ổn định của
DN sau khi kết thúc giai đoạn ươm tạo.
ƯTDN công nghệ (technology business incubation) là quá trình hỗ trợ cho
các DN dựa trên một hoặc nhiều loại hình công nghệ xác định hoặc nhóm các nhà
khoa học, các nhà nghiên cứu có mục đích thành lập DN khi đã có ý tưởng công
9
trợ sự phát triển thành công của các DN khởi sự thông qua việc cung cấp các nguồn
10
tài nguyên, dịch vụ hỗ trợ hoạt động kinh doanh, tư vấn phát triển DN trực tiếp hay
gián tiếp. Có nhiều hình thức phân loại VƯDN, bằng cách thức cung cấp dịch vụ,
cơ cấu tổ chức hay đối tượng khách hàng mà nó phụ vụ. Thông qua hỗ trợ của
VƯDN, tỉ lệ rủi ro của khởi sự DN giảm đi.
VƯDN đã tồn tại trên thế giới khoảng 50 năm nay, với rất nhiều loại hình và
mục đích hoạt động đa dạng: VƯDN truyền thống (phát triển DN, tạo việc làm,
giải quyết các vấn đề xã hội), VƯDN công nghệ (ươm tạo và phát triển công nghệ
mới), VƯDN công nghệ cao (ƯTDN trong lĩnh vực công nghệ cao); vườn ươm v
lợi nhuận; vườn ươm phi lợi nhuận v.v…
Dưới đây tr nh bày lại một số các khái niệm cụ thể về vườn ươm được nhiều
nghiên cứu trong và ngoài nước sử dụng bao gồm VƯDN, VƯDN công nghệ
(VƯDNCN), vườn ươm công nghệ (VƯCN), và VƯDN công nghệ cao
(VƯDNCNC).
VƯDN (business incubator) là nơi cung cấp cơ sở vật chất, diện tích làm việc đa
dạng và cung cấp các hình thức tư vấn, dịch vụ hỗ trợ nhằm nuôi dưỡng sự phát triển
các DN khởi sự với mục đích tạo công ăn việc làm và phát triển kinh tế địa phương.
VƯDNCN (technology business incubator) là một dạng của VƯDN tập trung
vào ươm tạo các DN dựa trên công nghệ (technology based enterprise).
VƯCN (technology incubator) là một dạng đặc biệt của VƯDN tập trung vào
ươm tạo các DN dựa trên một lĩnh vực công nghệ.
VƯDNCNC (high technology business incubator) là một dạng đặc biệt của
VƯDN tập trung vào ươm tạo các DN dựa trên lĩnh vực công nghệ cao (hi-tech or
new and advanced technology).
Các khái niệm về ba loại vườn ươm phát biểu sau đều là dạng đặc biệt của
VƯDN và có điểm chung là đều dựa vào công nghệ. Vì thế có cơ sở để gộp chung
chúng dưới tên chung là VƯDNCN hay vườn ươm DNKHCN.
cách làm việc với và thông qua con người và các nguồn lực tổ chức khác”.
Vậy đâu là những yếu tố tạo thành nên hoạt động quản lý? Theo nhận thức
chung của giới nghiên cứu, mọi hoạt động quản lý đều phải do 4 yếu tố cơ bản sau
cấu thành:
-
Chủ thể quản lý, trả lời câu hỏi: do ai quản lý?
12
-
Khách thể quản lý, trả lời câu hỏi: quản lý cái gì?
-
Mục đích quản lý, trả lời câu hỏi: quản lý vì cái gì?
-
Môi trường và điều kiện tổ chức, trả lời câu hỏi: quản lý trong hoàn cảnh
nào?
Mặt khác, mặc dù có sự khác nhau trong cách định nghĩa nhưng nhiều nhà
nghiên cứu cũng có chung nhận định về 04 chức năng cơ bản của quản lý (giúp cho
quá trình quản lý có thể thực hiện được) như sau:
Lập kế hoạch (Planning)
Lập kế hoạch là việc lựa chọn các nhiệm vụ phải tiến hành nhằm đạt được
các mục đích của tổ chức, dự kiến cách thức mà các nhiệm vụ phải được thực thi, và
chỉ ra khi nào chúng phải được thực hiện.
-
So sánh hiệu suất công việc hiện tại với các chuẩn hiệu suất đã
thiết lập trước đây
-
Quyết đinh các kế hoạch hành động tiếp theo và những điều chỉnh
để đạt được các chỉ số hiệu suất mong muốn.
Kiểm soát là một quá trình phát triển liên tục.
Quản lý hoạt động ƯTDNKHCN là một loại hình quản lý mà ở đây khách
thể quản lý chính là hoạt động ƯTDNKHCN. Do đó, khi xác định được chủ thể
quản lý là ai thì hành vi quản lý sẽ khác nhau. Chẳng hạn nếu chủ thể quản lý ở đây
là Nhà nước sẽ khác với chủ thể quản lý là DN. Cũng là DN nhưng nếu là DN làm
chức năng ươm tạo sẽ khác với DN tham gia ươm tạo.
1.4.1 Khung tiêu chí tuyển chọn đối tượng ƯTDNKHCN
Phương thức quản lý bằng cách đưa ra các bộ tiêu chuẩn đầu vào rất phổ biến
nếu trong điều kiện chủ thể quản lý cần tiến hành sàng lọc để lựa chọn đối tượng
tham gia vào loại dịch vụ được cung cấp.
Khung tiêu chí tuyển chọn đối tượng ƯTDNKHCN (sau đây gọi tắt là Khung
tiêu chí tuyển chọn) là một biện pháp nhằm quản lý hoạt động ƯTDNKHCN (sau
đây gọi tắt là hoạt động ươm tạo) ở dạng này. Theo đó, chủ thể quản lý hoạt động
ươm tạo (ở đây thường là các CSƯT) đưa ra các tiêu chuẩn (tiêu chí) bắt buộc các
tổ chức, cá nhân muốn tham gia vào hoạt động ươm tạo phải đáp ứng trước khi
được xem xét. Tập hợp các tiêu chí này theo một trật tự logic nhất định sẽ hình
thành nên khung tiêu chí tuyển chọn.
14
California, được hình thành từ những năm 1971 thế kỷ trước. Nơi đây đã tập hợp
15
những nhà phát minh và sáng chế các sản phẩm ngành công nghệ bán dẫn và công
nghệ vi tính thuộc hàng bậc nhất thế giới.
Thung lũng Silicon đã trở thành một thị trường, nơi mà các công nghệ mới
gặp gỡ được với các nhà đầu tư mạo hiểm để rồi kết hợp lại với nhau và trở thành
những DNKN với mức tăng trưởng phi mã. Nó là một chu trình bất tận, thế hệ này
tự tạo ra những thế hệ kế tiếp, thành công tiếp nối thành công và các đổi mới dẫn
đường đến những công nghệ cao cấp hơn.
Có hai nhóm người để tạo ra một trung tâm công nghệ: những người giàu có
và những người đam mê nghiên cứu. Họ là những chất hóa học cần thiết trong phản
ứng tạo ra các DNKN, vì họ là những người duy nhất hiện diện khi các DNKN bắt
đầu. Những người khác sẽ di chuyển tới sau.
Theo thống kê, phần lớn tiền đầu tư được đổ vào 4 bang của nước Mỹ, gồm
California, Massachusetts, New York và Texas. Các số liệu được Hiệp hội Đầu tư
mạo hiểm Quốc gia (National Venture Capital Association viết tắt là NVCA) [1,
tr.17] công bố đã chỉ ra rằng California là bang được đầu tư vào nhiều nhất (chiếm
tới 51% trong năm 2011), kế đến là Massachusetts, New York và Texas, bốn bang
này chiếm tới 74% nguồn đầu tư mạo hiểm của Hoa Kỳ.
Tại California, sự phát triển của Thung lũng Silicon được củng cố bởi sự mở
rộng của một mạng lưới phức tạp các dịch vụ hỗ trợ. Đa phần các công ty dịch vụ
này đều là các công ty luật, được thành lập với mục đích xây dựng cơ sở pháp lý,
đẩy nhanh sự thành lập cho các công ty khởi nghiệp, hỗ trợ hoạt động tài trợ và mở
rộng các công ty công nghệ.
Quan trọng nhất là hoạt động của các công ty đầu tư mạo hiểm trong khu
vực. Số lượng các công ty này bùng nổ sau sự thành công của việc lên sàn chứng
khoán (IPO) của công ty máy tính Apple trong năm 1980. Hai năm sau, chỉ số
chứng khoán trung bình ngành công nghiệp (Dow Jones Industrial Average) của
trong giai đoạn hoạt động và mở rộng. Các khoản đầu tư cho giai đoạn sau chiếm
khoảng 2/3 các đầu tư mạo hiểm trong năm 2011.
Theo khảo sát của AEA (trước đây là American Electronics Association,
hiện nay là TechAmerica), nhờ ngành công nghiệp công nghệ, khu vực vịnh San
Francisco, bao gồm Thung lũng Silicon là nơi đem lại nhiều công việc công nghệ
nhất tại Mỹ. Nơi đây cung cấp khoảng 387.000 công việc trong năm 2006. Trong
đó, Thung lũng Silicon là nơi tập trung nhiều nhất lao động công nghệ, và có mức
lương trung b nh cao nhất.
Điều thú vị nhất, cũng là nguồn của cải có giá trị nhất của Thung lũng
Silicon đó là con người. “Nếu bạn có thể thu hút một lượng đủ lớn những người
say mê nghiên cứu và các nhà đầu tư sinh sống ở một nơi nào đó, bạn có thể sao
chép lại thung lũng Silicon”. Những người sáng lập ra Thung lũng Silicon nắm bắt
được chiếc chìa khóa bí mật ấy: Những thứ một người say mê tìm hiểu thích thú
chính là những kẻ đam mê khác. Những người thông minh sẽ đến bất cứ nơi nào có
những người thông minh ở đó. Và nói một cách cụ thể, đó là các trường đại học tại
nơi này. Theo lý thuyết có thể có các cách khác để thu hút họ, nhưng trong chừng
mực nào đó th các trường đại học dường như là không thể thiếu. Ở nước Mỹ,
không có trung tâm công nghệ nào mà ở đó không có các trường đại học hàng đầu
– hoặc ít nhất, là các khoa khoa học máy tính hàng đầu.
Tại thung lũng Silicon, không chỉ có một trường đại học, mà còn có một
nhóm người thuộc hàng đầu của thế giới. Thung lũng Silicon với MIT hay
Standford đủ hoàn hảo để hoạt động như một cái nam châm, lôi kéo những con
người tốt nhất từ cách xa hàng ngàn dặm.
18
Hình 1.2 : Tỷ lệ phần trăm ngƣời nói ngôn ngữ không phải tiếng Anh tại nhà
(khảo sát tại Santa Clara & San Mateo Cointies, CA, USA)
Nguồn: Khảo sát của Cục Điều tra dân số Hoa Kỳ
Như biểu đồ ở phía trên cho thấy, những người đang sống và làm việc tại
nghiên cứu ban đầu), các nhà nghiên cứu phải được học cách để phát triển sản
phẩm của họ, không chỉ tập trung vào nghiên cứu chuyên môn. Mục đích của việc
làm này là nhằm giúp cho các nhà nghiên cứu có cái nhìn tổng quát, từ nhiều góc
cạnh cho sản phẩm của mình, có thể độc lập xây dựng được một kế hoạch kinh
doanh cụ thể cho sản phẩm của họ, hoặc thậm chí là cho DN công nghệ mà họ sắp
làm chủ.
Trong mô h nh Thung lũng Silicon, các kế hoạch kinh doanh công nghệ
được xây dựng không chỉ để vạch ra phương hướng cụ thể cho các nhà khoa học,
mà còn là công cụ hữu hiệu giúp họ tìm kiếm được nguồn tài trợ cho sự phát triển
và khởi nghiệp trong tương lai gần.
Sự tham gia của quỹ đầu tư rủi ro:
Thời gian mà các nhà nghiên cứu tiếp tục công việc của họ cũng là thời gian
mà các quỹ đầu tư rủi ro bắt đầu tham gia vào công việc của mình. Các quỹ này thu
thập thông tin về công nghệ mới từ rất nhiều nguồn khác nhau, khi phát hiện một
công nghệ mới (ngay cả khi còn là ý tưởng), các quỹ đầu tư sẽ cùng các chuyên gia
20