MỤC LỤC
Trang
3
MỞ ĐẦU
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
NGUỒN NHÂN LỰC NGÀNH GIÁO DỤC BẬC TIỂU
11
HỌC Ở HUYỆN ỨNG HÒA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
1.1.
Quan niệm về nguồn nhân lực ngành Giáo dục và nâng
cao chất lượng nguồn nhân lực ngành Giáo dục bậc tiểu
1.2.
11
học ở huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội
Sự cần thiết và các nhân tố ảnh hưởng đến nâng cao
chất lượng nguồn nhân lực ngành Giáo dục bậc tiểu
22
học ở huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội
HÒA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
3.1
Quan điểm cơ bản
56
3.2
Giải pháp chủ yếu
66
81
83
88
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nguồn nhân lực là nguồn lực quan trọng nhất trong các nguồn lực phát
triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, nó được phân bố trong các ngành, các
lĩnh vực của đời sống xã hội cụ thể, trong đó có ngành giáo dục. Nguồn nhân
lực đó không tự nhiên có, nó được phát triển theo những chương trình kế
chất lượng nguồn nhân lực trực tiếp giảng dạy còn nhiều hạn chế, như: nhiều
giáo viên còn chưa thực sự dốc hết tâm lực và trí lực cho chuyên môn của
mình, giáo viên vừa giảng dạy, vừa phải tham gia phát triển kinh tế gia đình
nên ảnh hưởng nhất định đến chất lượng giáo dục. Mặt khác, điểm xuất phát
của không ít giáo viên và người quản lý giáo dục thấp; nhận thức của chính
bản thân giáo viên và người quản lý giáo dục chưa toàn diện nên chưa thực sự
quan tâm thường xuyên đến việc nâng cao chất lượng đội ngũ giảng dạy... Vì
thế, nghiên cứu để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ngành Giáo dục ở
huyện Ứng Hòa thành phố Hà Nội là vấn đề vừa có tính lý luận, vừa có tính
thực tiễn cao, góp phần giải quyết vấn đề giáo dục và đào tạo, phát triển, nâng
cao chất lượng nguồn nhân lực làm cho xã hội phát triển lành mạnh, kinh tế
của Huyện phát triển nhanh, bền vững.
Vì vậy, tác giả chọn: “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ngành
Giáo dục ở huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội” làm đề tài luận văn thạc
sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Từ những năm 70 của thế kỷ XX trở lại đây, khi thế giới thực hiện bước
chuyển từ nền kinh tế chủ yếu dựa vào nguồn tài nguyên hạn hẹp sang kinh tế
trí tuệ; cuộc cách mạng khoa học - công nghệ và quá trình toàn cầu hóa thúc
đẩy nhanh tiến trình tri thức hóa thế giới làm xuất hiện những khái niệm:
Nguồn nhân lực, kinh tế tri thức. Những khái niệm này ngay lập tức đã thu
hút được sự quan tâm của các nhà khoa học trên các lĩnh vực khác nhau; đặc
biệt là các nhà khoa học, các quốc gia, các tổ chức quốc tế chuyên nghiên cứu
3
về kinh tế. Từ đây, họ đã đưa ra những quan niệm và làm rõ những vấn đề lý
luận liên quan đến nguồn nhân lực.
Nguồn nhân lực và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là một trong
những hướng đi quan trọng nhằm hướng tới phát triển nhanh, bền vững,
trong các doanh nghiệp công nghiệp chế biến gỗ Việt Nam, Luận án Tiến sĩ
kinh tế Trường Đại học kinh tế Quốc dân, Hà Nội. Tác giả đã đưa ra khái
niệm nguồn nhân lực và chất lượng nguồn nhân lực, tiêu chí đánh giá chất
lượng nguồn nhân lực, thực trạng chất lượng nguồn nhân lực trong các doanh
nghiệp chế biến gỗ ở Việt Nam. Đồng thời, còn đưa ra những nhóm giải pháp
nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong các doanh nghiệp chế hiến gỗ ở
Việt Nam hiện nay.
* Nhóm những công trình nghiên cứu những vấn đề lý luận về nguồn
nhân lực và vai trò của nó đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, gồm một số
công trình sau
Đỗ Minh Cương và Nguyễn Thị Doan (2001), Phát triển nguồn nhân lực
giáo dục đại học Việt Nam, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội; công
trình này đã đề cập đến cơ sở lý luận về phát triển nguồn nhân lực giáo dục
đại học. Kinh nghiệm trên thế giới và quá trình hình thành, phát triển của giáo
dục đại học Việt Nam. Thực trạng và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển
nguồn nhân lực giáo dục đại học.
Lê Thị Hồng Điệp (2010), Phát triển nguồn nhân lực chất lượng để hình
thành nền kinh tế tri thức ở Việt Nam, Luận án Tiến sĩ kinh tế, Đại học Kinh
tế quốc dân, Hà Nội. Tác giả đã phân tích thực trạng phát triển nguồn nhân
lực chất lượng cao để hình thành nền kinh tế tri thức, từ đó đề xuất giải pháp
góp phần phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở nước ta.
Nguyễn Mạnh Hổ (2012), Phát triển nguồn nhân lực trong công
nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Hà Nội, Luận văn Kinh tế Chính trị, Học viện
Chính trị, Hà Nội. Tác giả đã đưa ra quan niệm về phát triển nguồn nhân
lực ở Hà Nội trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, những giải
5
pháp cơ bản nhằm phát triển nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp
hóa, hiện đại hóa ở Hà Nội.
nguồn nhân lực và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
GS, TS. Nguyễn Ngọc Phú chủ biên (2010), Nguồn nhân lực, nhân tài
của đất nước hiện nay, Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội. Công
trình đã tổng hợp nhiều bài viết có liên quan đến nguồn nhân lực của các giáo
sư, tiến sĩ, các nhà khoa học, nhà nghiên cứu tâm huyết.
Lê Nguyên Hoàn (2012), Phát triển giáo dục và đào tạo nguồn nhân
lực, nhân tài - một số kinh nghiệm thế giới, Nhà xuất bản Chính trị Hành
chính, Hà Nội. Tác giả đã nghiên cứu tổng quan về phát triển giáo dục và đào
tạo; giới thiệu một số kinh nghiệm của thế giới về phát triển giáo dục và đào
tạo nguồn nhân lực, nhân tài, danh mục một số công trình nghiên cứu về giáo
dục và đào tạo.
* Nhóm công trình nghiên cứu về nguồn nhân lực chuyên biệt trong
lực lượng vũ trang nhân dân
Đại tá, PGS, TS. Trần Thanh Chuyền chủ biên (2013) Phát triển nguồn
nhân lực cho công nghiệp quốc phòng nòng cốt thời kỳ mới, Nhà xuất bản
Quân đội nhân dân, Hà Nội. Tác giả đã khái quát một số vấn đề lý luận và
thực tiễn phát triển nguồn nhân lực cho công nghiệp quốc phòng; đồng thời,
đưa ra những dự báo về thuận lợi và khó khăn, những giải pháp phát triển
nguồn nhân lực cho công nghiệp quốc phòng nòng cốt thời kỳ mới.
Đại tá, TS. Nguyễn Văn Quang chủ biên (2013), Xây dựng đội ngũ
cán bộ đầu ngành khoa học xã hội và nhân văn trong Quân đội thời kỳ
mới, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Hà Nội. Tác giả đã đề cập một số
vấn đề lý luận về xây dựng đội ngũ cán bộ đầu ngành khoa học xã hội và
nhân văn trong Quân đội, thực trạng, những nhân tố, yêu cầu xây dựng
đội ngũ cán bộ đầu ngành khoa học xã hội và nhân văn trong Quân đội
thời kỳ mới; đồng thời, đưa ra những giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ
đầu ngành trong Quân đội.
7
8
* Nhiệm vụ
Làm rõ cơ sở lý luận về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ngành Giáo
dục của huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội.
Đánh giá thực trạng chất lượng nguồn nhân lực ngành Giáo dục của
huyện Ứng Hòa thành phố Hà Nội trong thời gian vừa qua.
Đề xuất quan điểm và giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
trong ngành Giáo dục của Huyện trong thời gian tới.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng
Chất lượng nguồn nhân lực ngành Giáo dục
* Phạm vi
Nội dung: Chỉ nghiên cứu nguồn nhân lực trong ngành Giáo dục tiểu học
(Giáo viên và người quản lý)
Không gian: Huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội.
Thời gian: Khảo sát từ năm 2010 đến 2014.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp luận
Phương pháp luận: tác giả sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác –
Lê-nin: phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để nghiên cứu.
* Phương pháp nghiên cứu
Tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu của môn kinh tế chính trị:
trừu tượng hóa khoa học, kết hợp lô-gíc với lịch sử, điều tra, thống kê, so
sánh, phân tích tổng hợp, v.v.
6. Ý nghĩa của đề tài
Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể tham khảo trong nghiên cứu, hoạch
định kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội gắn với nâng cao chất lượng nguồn
nhân lực ngành Giáo dục ở huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội. Đồng thời, là
thuật ngữ nguồn nhân lực được sử dụng khá rộng rãi để chỉ vai trò và vị trí
con người trong sự phát triển kinh tế, xã hội. Ở nước ta, thuật ngữ "nguồn
nhân lực" được nhắc đến nhiều kể từ đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX.
Đã có nhiều công trình nghiên cứu và nhiều cách tiếp cận khác nhau về
nguồn nhân lực. Song, cho đến nay, chưa có tài liệu chính thức nào đưa ra
định nghĩa "nguồn nhân lực", mặc dù có nhiều nghiên cứu và bài viết về
nguồn lực con người, về tài nguyên con người.
10
Theo Liên hợp quốc thì “Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ
năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự
phát triển của mỗi cá nhân và của cả đất nước” [55, tr.8].
Theo Tổng cục thống kê Việt Nam, nguồn nhân lực gồm những người đủ
15 tuổi trở lên có việc làm và những người trong độ tuổi lao động có khả năng
lao động nhưng đang thất nghiệp, đang đi học, đang làm nội trợ trong gia đình
không có nhu cầu làm việc, những người thuộc các tình trạng khác, như: nghỉ
hưu trước tuổi.
Theo các tác giả của cuốn "Nguồn lực và động lực phát triển trong nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam" do GS, TSKH.
Lê Du Phong (chủ biên) thì "Nguồn lực con người được hiểu là tổng hòa
trong thể thống nhất hữu cơ giữa năng lực xã hội của con người (thể lực, trí
lực, nhân cách) và tính năng động của con người. Tính thống nhất đó được thể
hiện ở quá trình biến nguồn lực con người thành vốn con người” [39, tr.14].
Một số nhà khoa học tham gia đề tài, “Con người Việt Nam - mục tiêu
và động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội” chương trình khoa học - công
nghệ cấp nhà nước mã số KX - 07 do GS, TSKH. Phạm Minh Hạc làm chủ
nhiệm, thì cho rằng: “Nguồn lực con người được hiểu là số dân và chất lượng
con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực và
tạp và đa dạng. Chính sự phức tạp và đa dạng đó trong tiến trình phát triển
lịch sử xã hội đã tạo nên tính không đồng đều trong sự phát triển kinh tế - xã
hội ở các nước, các khu vực, các châu lục khác nhau. Điều này ảnh hưởng đến
các giá trị truyền thống, đạo lý xã hội của các quốc gia dân tộc, hình thành
nên bản sắc văn hóa, phong tục, tập quán, truyền thống… của mỗi vùng lãnh
thổ, mỗi nền kinh tế khác nhau.
Ở nước ta, khi nói đến nguồn nhân lực, người ta thường quan tâm đến ba
yếu tố: (1). Tri thức trí tuệ là yếu tố tối cần thiết của mỗi con người; (2). Năng
12
lực hoạt động của con người biểu hiện ở khả năng áp dụng những thành tựu
khoa học - công nghệ, sự nhạy bén thích nghi nhanh làm chủ được những công
nghệ - kỹ thuật hiện đại và khả năng sáng tạo; (3). Sức khỏe được hiểu không
chỉ là tình trạng không có bệnh tật, mà còn là sự hoàn thiện về mặt thể chất,
tinh thần. Hoặc: Nguồn nhân lực hay nguồn lực con người bao gồm lực lượng
lao động và lao động dự trữ. Trong đó lực lượng lao động được xác định là
người lao động đang làm việc và người trong độ tuổi lao động có nhu cầu
nhưng không có việc làm (người thất nghiệp). Lao động dự trữ bao gồm học
sinh trong độ tuổi lao động, người trong độ tuổi lao động nhưng không có nhu
cầu lao động.
Tuy có nhiều cách tiếp cận, với những nội hàm khác nhau, nhưng trên
phương diện kinh tế chính trị thì nguồn nhân lực được hiểu, là tổng hòa thể
lực và trí lực tồn tại trong toàn bộ lực lượng lao động xã hội của một quốc
gia, trong đó kết tinh truyền thống và kinh nghiệm lao động sáng tạo của một
dân tộc trong lịch sử được vận dụng để sản xuất ra của cải vật chất và tinh
thần phục vụ cho nhu cầu hiện tại và tương lai của đất nước.
Tiềm năng của nguồn nhân lực bao gồm thể lực, trí lực và tâm lực (đạo
đức, lối sống). Nguồn nhân lực bao giờ cũng tồn tại dưới dạng một số lượng,
một chất lượng và một cơ cấu nhất định. Trong nguồn nhân lực nói chung, có
sản phẩm lao động của nguồn nhân lực ngành Giáo dục phải mất rất nhiều thời
gian và giá trị của quá trình lao động này có thể kéo dài theo suốt cuộc đời của
người học sinh.
Ba là, đối với nguồn nhân lực ngành Giáo dục, chữ tâm, đạo đức nghề
nghiệp là yếu tố được đặt lên hàng đầu. Trong khi với nguồn nhân lực các ngành
kinh tế khác thì yếu tố quan trọng nhất là trình độ chuyên môn. Đội ngũ các nhà
quản lý Giáo dục, các thầy cô giáo cũng như các công nhân viên trong ngành
Giáo dục phải luôn “yêu nghề, mến trẻ” thì hoạt động giáo dục của đất nước mới
có thể phát triển. Đạo đức nghề nghiệp chính là động lực để nguồn nhân lực
ngành Giáo dục không ngừng học tập nâng cao trình độ, nắm vững chuyên môn
14
hoàn thành nhiệm vụ công tác. Trước tác động của kinh tế thị trường, đạo đức
nghề nghiệp cũng chính là yếu tố giúp nguồn nhân lực ngành Giáo dục luôn kiên
định vượt qua mọi khó khăn, cám dỗ, không phụ sự kỳ vọng của xã hội.
Bốn là, nguồn nhân lực ngành Giáo dục có những yêu cầu riêng về ngoại
hình, thể lực, giọng nói... Đội ngũ nguồn nhân lực ngành giáo dục thường là
những người không bị khiếm khuyết về hình thể, dị tật. Yêu cầu nghề nghiệp
cũng không cho phép nguồn nhân lực ngành Giáo dục có những người nói
ngọng, nói lắp vì như thế sẽ gây cản trở tới hoạt động giáo dục.
Nguồn nhân lực ngành Giáo dục có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự
phát triển kinh tế - xã hội. Vai trò đặc biệt quan trọng đó bắt nguồn từ chính vai
trò của Giáo dục. Khi Giáo dục được xác định là hoạt động “nhằm tác động một
cách có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của một đối tượng nào đó,
làm cho đối tượng ấy dần dần có được những phẩm chất và năng lực như yêu
cầu đề ra” [55, tr.379]. Nguồn nhân lực ngành Giáo dục là bộ phận tiến hành các
hoạt động trên. Điều đó đã nói rõ về vai trò quan trọng đặc biệt của nguồn nhân
lực ngành Giáo dục đối với sự phát triển kinh tế - xã hội.
Vai trò của ngành Giáo dục với phát triển kinh tế - xã hội thể hiện trên ba
gồm cả những người làm công tác quản lý giáo dục (cả quản lý nhà nước
về giáo dục và quản lý giáo dục trong trường học) là nhân tố quyết định
trước tiên đối với chất lượng giáo dục và nâng cao chất lượng giáo dục tại
mỗi cơ sở giáo dục và mỗi địa bàn cụ thể - Thông qua các hoạt động sư
phạm và hoạt động quản lý.
* Chất lượng nguồn nhân lực ngành Giáo dục
Chất lượng nguồn nhân lực ngành Giáo dục, được thể hiện ở trình độ
chuyên môn (đã được đào tạo và tự đào tạo); kỹ năng, kỹ xảo nghiệp vụ; tư
tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống; sức khỏe của đội ngũ cán bộ làm
công tác giảng dạy và quản lý giáo dục.
16
1.1.2. Quan niệm, nội dung tiêu chí nâng cao chất lượng nguồn nhân
lực ngành Giáo dục tiểu học huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội
* Quan niệm về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ngành Giáo dục
tiểu học ở huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội
Thuật ngữ “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực” chỉ việc thực hiện
một số hoạt động nào đó dẫn đến sự thay đổi về chất lượng nguồn nhân lực
tăng lên so với chất lượng nguồn nhân lực hiện có. Đó là những biểu hiện
tăng lên về trí lực, thể lực và tâm lực của mỗi cá nhân. Nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực, một mặt, tạo ra nguồn nhân lực có khả năng hơn trong việc
đáp ứng nhu cầu sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao trong quá trình phát
triển kinh tế - xã hội thời kỳ hội nhập quốc tế; mặt khác, tạo ra nguồn nhân
lực tự tin hơn trong quá trình làm việc tạo ra của cải vật chất cho bản thân,
cho tổ chức và tạo ra khả năng cạnh tranh bền vững.
Từ đó tác giả cho rằng: Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ngành
Giáo dục bậc tiểu học huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội là tổng thể các
nội dung, cách thức, phương thức làm biến đổi theo chiều hướng phát
triển một cách hợp lý nguồn nhân lực ngành Giáo dục trên địa bàn nhằm
ngành Giáo dục tiểu học cả về thể chất và tinh thần của đội ngũ giáo viên và
người quản lý giáo dục của ngành Giáo dục huyện Ứng Hòa, Hà Nội.
Nâng cao tâm lực: Đó là nâng cao tinh thần trách nhiệm, thái độ, khả
năng chịu áp lực, sự tâm huyết, say mê, yêu nghề sư phạm... của đội ngũ
người lao động hoạt động trong ngành Giáo dục của huyện Ứng Hòa,
thành phố Hà Nội. Đánh giá được thái độ trong công việc của người lao
động trong ngành Giáo dục tiểu học của Huyện, để biết nguồn nhân lực có
nâng cao về tâm lực hay không là vấn đề rất khó. Cụ thể: Nguồn nhân lực
có tích cực làm việc hay không? Có khả năng kiềm chế cảm xúc hay
không? Hành vi có chuẩn mực không?... Những vấn đề đó còn chịu sự tác
18
động và ảnh hưởng của nhiều yếu tố, trước hết từ trí lực của nguồn nhân
lực đến môi trường làm việc...
Muốn biết chất lượng nguồn nhân lực ngành Giáo dục của huyện Ứng
Hòa, Hà Nội có được nâng lên hay không, nâng lên như thế nào, nhiều ít ra
sao phải dựa vào các tiêu chí về trí lực, tâm lực và thể lực để đánh giá. Cụ
thể như sau:
Về trí lực: Đánh giá trí lực của nguồn nhân lực ngành Giáo dục dựa vào
hai căn cứ: trình độ của thầy và trình độ của trò.
Trình độ của thầy: Căn cứ vào việc so sánh sự thay đổi qua các năm về
trình độ chuyên môn đã được đào tạo và tự đào tạo cùng kỹ năng, kỹ xảo
nghiệp vụ của cán bộ trực tiếp giảng dạy, cán bộ làm công tác quản lý giáo
dục để đánh giá. Cùng với đó, là dựa vào tỉ lệ giáo viên dạy giỏi các cấp của
ngành Giáo dục tăng giảm như thế nào qua các năm để đánh giá; cũng như tỉ
lệ giáo viên, cán bộ quản lý đạt chuẩn qua các năm để đánh giá.
Trình độ của trò: Căn cứ vào trình độ của học sinh qua các năm được
biểu hiện bằng tỉ lệ xếp loại ở các mức: giỏi, khá, trung bình, yếu tăng hay
giảm; cùng với đó, là số học sinh đạt thành tích cao qua các kỳ thi của huyện,
học của huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội.
Tự đào tạo, tự bồi dưỡng (tự học, tự rèn) của đội ngũ giáo viên, nhà
quản lý. Đây là một trong những nội dung quyết định nhất đến nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực ngành Giáo dục của huyện Ứng Hòa, thành phố Hà
Nội. Trình độ chuyên môn có được nâng lên hay không chính là ở sự tự học,
tự rèn của đội ngũ giáo viên và người quản lý giáo dục. Nếu trình độ đào tạo
của mỗi cá nhân làm việc trong ngành giáo dục có được khoảng 2 năm, 3 năm
hoặc 4 năm, thì trình độ chuyên môn của mỗi cá nhân ngày càng được bồi đắp
theo năm tháng, cho đến khi không còn lao động.
20
1.2. Sự cần thiết và các nhân tố ảnh hưởng đến nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực ngành Giáo dục bậc tiểu học ở huyện Ứng Hòa,
thành phố Hà Nội
1.2.1. Sự cần thiết nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ngành Giáo
dục tiểu học huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội
* Nguồn nhân lực, đặc biệt là chất lượng nguồn nhân lực giữ vai trò
quyết định trong phát triển kinh tế - xã hội
Trong bất cứ hình thái kinh tế - xã hội nào, con người đều là nhân tố
trung tâm của quá trình sản xuất. Tuy nhiên, ở mỗi giai đoạn phát triển lịch
sử nhận thức về vai trò của nhân tố con người đối với tăng trưởng và phát
triển lại không hoàn toàn giống nhau. Vào giai đoạn đầu của cuộc cách
mạng công nghiệp, người ta cho rằng, điều kiện tự nhiên thuận lợi chính là
yếu tố quan trọng nhất của sự phát triển. Hướng ưu tiên tìm kiếm các
nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội thường nhằm vào sự phong phú về
tài nguyên thiên nhiên. Vai trò nhân tố con người bị che lấp bởi các lợi thế
tuyệt đối về điều kiện tự nhiên.
Vào những năm 90 (thế kỷ XX), khi cuộc cách mạng khoa học - công
định hướng xã hội chủ nghĩa và đưa sự nghiệp cách mạng thành công ở một
nước vẫn còn tình trạng lạc hậu như nước ta, chúng ta không thể không xuất
phát từ tinh thần nhân văn sâu sắc; không thể không phát triển con người Việt
Nam, nâng đội ngũ những người lao động nước ta lên một tầm cao chất lượng
mới. Đó là động lực mạnh mẽ nhất giúp chúng ta mau chóng thoát khỏi nghèo
nàn, lạc hậu và xây dựng xã hội "công bằng, nhân ái", một xã hội "thực sự tốt
đẹp và tiến bộ", mang bản sắc dân tộc và hiện đại. Đại hội VIII của Đảng đã
khẳng định: "Nâng cao dân trí, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực to lớn con
người Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc công nghiệp
hóa, hiện đại hóa"[8, tr.21].
Với thực tiễn tiến hành công cuộc đổi mới thực hiện công nghiệp hóa,
hiện đại hóa ở nước ta, với bối cảnh quốc tế và khu vực hiện thời, để phát
23
triển con người Việt Nam, "bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người", chúng
ta "nhất thiết phải từng bước hiện thực hóa đất nước và đời sống xã hội".
Chúng ta "chỉ có thể tăng trưởng nguồn lực con người khi quá trình hiện đại
hóa các ngành giáo dục, văn hóa, văn nghệ, bảo vệ sức khỏe, dân số và kế
hoạch hóa gia đình gắn liền với kế thừa và phát huy những giá trị truyền
thống và bản sắc dân tộc"[9, tr.6]. Chính vì vậy, mọi kế hoạch xây dựng và
phát triển kinh tế - xã hội phải được đặt trong mối liên hệ không thể tách rời
với kế hoạch đầu tư cho chính sự phát triển về nhân cách, trí tuệ, tình cảm,
niềm vui và hạnh phúc của mỗi người, mỗi gia đình và cả cộng đồng dân tộc
Việt Nam, cho việc xây dựng và phát triển nguồn nhân lực nhiều về số lượng,
mạnh về chất lượng, đủ sức đáp ứng và đảm đương những đòi hỏi ngày càng
cao của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Phát triển con người là nhiệm vụ không chỉ có ý nghĩa trực tiếp, trước
mắt, mà còn là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược, lâu dài. Mọi chủ trương,
tuệ cao đã góp phần tăng trưởng kinh tế nước ta ở mức cao và ổn định, nhiều
sản phẩm có sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và xuất khẩu.
Tranh thủ cơ hội thuận lợi do bối cảnh quốc tế tạo ra và tiềm năng, lợi
thế của nước ta để rút ngắn quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
theo định hướng xã hội chủ nghĩa gắn với phát triển kinh tế tri thức, coi kinh
tế tri thức là yếu tố quan trọng của nền kinh tế và công nghiệp hóa, hiện đại
hóa. Phát triển mạnh các ngành và sản phẩm kinh tế có giá trị gia tăng cao
dựa nhiều vào tri thức; kết hợp việc sử dụng nguồn vốn tri thức của con người
Việt Nam với tri thức mới nhất của nhân loại[10, tr.87 - 88].
Do vậy, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ở Việt Nam đặc biệt quan
trọng cho sự thành công của công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc
tế. Cho nên, cần tạo ra và cải thiện tất cả các điều kiện cần thiết để phát triển
nguồn nhân lực nhanh, có chất lượng, đáp ứng nhu cầu cấp bách của công
cuộc đổi mới, của công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh quốc tế.
* Từ yêu cầu đổi mới toàn diện giáo dục và đào tạo hiện nay
25