TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
BÙI THỊ HÀ
BẢO TỒN DI SẢN VĂN HÓA CỦA TỈNH
NINH BÌNH HIỆN NAY
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Chủ nghĩa Xã hội khoa học
Người hướng dẫn khoa học:
ThS. LÊ THỊ MINH THẢO
HÀ NỘI - 2016
LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới giảng viên Ths. Lê Thị
Minh Thảo người đã định hướng đề tài và tận tình hướng dẫn chỉ bảo em
trong suốt quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp này.
Em cũng xin trân trọng cảm ơn quý thầy cô trong Khoa Giáo Dục
Chính Trị trường Đại học sư phạm Hà Nội 2 đã tận tình giảng dạy, truyền đạt
những kiến thức quý báu trong suốt bốn năm học vừa qua. Với vốn kiến thức
được tiếp thu trong quá trình học không chỉ là nền tảng cho quá trình nghiên
cứu khóa luận mà còn là hành trang quí báu để em bước vào đời một cách
vững chắc và tự tin.
Cám ơn các bạn sinh viên khoa Giáo Dục Chính Trị khóa 2012-2016.
Các bạn đã giúp đỡ ủng hộ, cũng như đóng góp nhiều ý kiến quý báu, qua đó
giúp mình hoàn thiện khóa luận tốt hơn.
Mặc dù đã rất nỗ lực, cố gắng nhưng chắc hẳn khóa luận của em vẫn
MỞ BÀI ............................................................................................................ 1
1. Lý do chọn đề tài. .......................................................................................... 1
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài .................................................................... 2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................ 5
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu .................................................................... 6
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu ................................................... 6
6. Đóng góp của đề tài....................................................................................... 6
7. Kết cấu của khóa luận ................................................................................... 7
Chương 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ DI SẢN VĂN HÓA ............................. 8
1.1. Lý luận chung về di sản văn hóa. ............................................................... 8
1.2. Quan điểm, đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước về bảo tồn
và phát huy di sản văn hóa. ............................................................................. 20
Chương 2. THỰC TRẠNG BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY DI SẢN VĂN
HÓA Ở TỈNH NINH BÌNH TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY .............. 29
2.1. Khái quát chung về tỉnh Ninh Bình. ........................................................ 29
2.2. Thực trạng về việc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa tỉnh Ninh Bình. . 34
Chương 3. NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP
TRONG VIỆC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY DI SẢN VĂN HÓA Ở TỈNH
NINH BÌNH ................................................................................................... 51
3.1 Những vấn đề đặt ra trong quá trình bảo tồn và phát huy DSVH ở tỉnh
Ninh Bình ........................................................................................................ 51
3.2. Một số giải pháp bảo tồn và phát huy DSVH tỉnh Ninh Bình ................. 54
KẾT LUẬN .................................................................................................... 62
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 64
MỞ BÀI
1. Lý do chọn đề tài.
Bước sang thế kỷ XXI, xu thế tất yếu của nhiều quốc gia trên thế giới là
bằng mọi cách khơi dậy sức sống mãnh liệt của dân tộc để hội nhập quốc tế
hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Đảng ta tiếp tục nhấn mạnh vấn đề bảo tồn
phát huy DSVH dân tộc trong sự nghiệp phát triển văn hoá, nền tảng tinh thần
của xã hội: “Tiếp tục đầu tư cho việc bảo tồn, tôn tạo các di tích lịch sử cách
mạng, kháng chiến, các di sản văn hoá vật thể và phi vật thể của dân tộc, các
giá trị văn hoá nghệ thuật, ngôn ngữ, thuần phong mỹ tục của cộng đồng các
dân tộc. Bảo tồn và phát huy văn hoá, văn nghệ dân gian. Kết hợp hài hoà
việc bảo phát huy các di sản văn hoá với các hoạt động phát triển kinh tế du
lịch”.
Ninh Bình cũng là một tỉnh có một nền văn hóa truyền thống tốt đẹp,
đồng thời cũng là một tỉnh có những di sản văn hóa lớn của đất nước nói riêng
và của thế giới nói chung. Xuất phát từ những vấn đề của xã hội hiện nay mà
em đã chọn đề tài: “Bảo tồn di sản văn hóa của tỉnh Ninh Bình hiện nay”
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Nói tới văn hóa người ta thường đề cập ngay tới di sản văn hoá
(Cultural heritage). Diện mạo văn hoá dân tộc trước tiên dễ nhận ra chính là
những tài sản văn hoá đời trước để lại cho đời sau. Vẻ đẹp giá trị của DSVH
giống như những lớp vàng ròng trầm tích kết đọng thành đồng bằng châu thổ
đôi bờ con sông văn hoá miệt mài uốn lượn qua những bến bờ thời gian. Có lẽ
vì thế mà khi nghiên cứu văn hoá, DSVH là một lĩnh vực được giới nghiên
cứu trong và ngoài nước đặc biệt quan tâm tìm hiểu trước tiên và khảo sát ở
nhiều cấp độ khác nhau trên các phương diện lý thuyết cũng như thực tiễn.
2
* Những công trình nghiên cứu về văn hoá và di sản văn hoá:
Vào thời gian nửa sau thế kỷ XX, các tổ chức quốc tế như UNESCO,
UNDP đều nỗ lực nghiên cứu đánh giá tiềm năng quá khứ của nhân loại, đặc
biệt là về di sản văn hoá. UNESCO chia di sản văn hoá thành hai loại: di sản
“văn hóa vật thể” (tangible culture) và di sản “văn hoá phi vật thể”
quy về DSVH.
- Công trình Một con đường tiếp cận di sản văn hoá do Bộ Văn hoá Thông tin ấn hành, Hà Nội năm 2006 đã tập hợp nhiều bài nghiên cứu về lý
luận DSVH cũng như thực tiễn, có thể làm tư liệu nghiên cứu tốt cho đề tài.
Trong đó tiêu biểu nhất là các bài: “Khảo cổ học với công tác bảo vệ và phát
huy di sản văn hoá” (Vũ Quốc Hiền), “Bảo tồn di tích, nhân tố quan trọng
của phát triển bền vững” (Lê Thành Vinh); “Di tích lịch sử và văn hoá đồng
bằng sông Hồng” (Đặng văn Bài); “Bảo tồn, tôn tạo và xây dựng khu di tích
lịch sử - văn hoá Đường Lâm” (Phan Huy Lê).
- Sách Giữ gìn, phát huy di sản văn hoá các dân tộc Tây Bắc do NXB
Văn hoá Dân tộc - Tạp chí Văn hoá nghệ thuật phát hành có thể giúp người
đọc có thể nhận diện một số vấn đề lý luận về DSVH.
- Trên Tạp chí Cộng sản số 20, năm 2003, PGS, TS. Nguyễn Văn Huy
đã có nhiều cố gắng nghiên cứu Một số vấn đề bảo tồn và phát huy những di
sản văn hoá các dân tộc hiện nay. Tác giả bài báo đã đề cập đến những vấn đề
lý luận và thực tiễn của công tác bảo tồn phát huy DSVH trên phạm vi cả
nước.
- Cùng hướng nghiên cứu này, Ngô Phương Thảo viết bài Bảo vệ di
sản, cuộc chiến từ những góc nhìn đăng ở Tạp chí Văn hoá nghệ thuật số 289
tháng 07/2008. Bài viết đã đề cập trực tiếp đến vấn đề bảo vệ DSVH hiện nay.
Theo tác giả thì “Mỗi ngày, di sản văn hoá càng đối mặt với nhiều nguy cơ,
xuất phát từ những hệ lụy của cuộc sống hiện đại. Cũng mỗi ngày, ý thức về
4
trách nhiệm phải gìn giữ các giá trị văn hoá đã tồn tại với thời gian càng lan
toả sâu rộng trong toàn xã hội, trong mỗi cộng đồng để dẫn tới những chương
trình dự án ngày càng có hiệu quả hơn trong việc gìn giữ các giá trị văn hoá
vật thể và phi vật thể”.
Một số những công trình nghiên cứu về di sản văn hóa ở tỉnh Ninh Bình
- Không gian :Đề tài nghiên cứu việc bảo tồn và phát huy di sản văn
hóa tỉnh Ninh Bình. Đặc biệt là việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá
của vùng đất thiêng Cố Đô Hoa Lư
- Thời gian: Từ khi có luật di sản văn hóa năm 2002 đến nay
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1.Cơ sở lý luận
Khóa luận vận dụng các quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, Đường lối văn hoá của Đảng Cộng sản Việt Nam về di
sản văn hoá để nghiên cứu.
5.2. Phương pháp nghiên cứu.
+ Phương pháp logic và lịch sử
+ Phương pháp điều tra xã hội học.
+ Phương pháp tổng hợp và phân tích các tài liệu sẵn có
6. Đóng góp của đề tài
- Về mặt lý luận
Khóa luận góp phần đi sâu vào tìm hiểu những nét đặc trưng về di sản
văn hóa của tỉnh Ninh Bình, đặc biệt là của vùng đất Cố đô
Thông qua đó giúp chúng ta hiểu rõ hơn được phần nào thực trạng về di
sản văn hóa của tỉnh Ninh Bình để có thể có biện pháp bảo tồn và phát huy
6
giá trị di sản văn hóa truyền thống của Cố Đô nói riêng và của Tỉnh nói chung
theo đường lối, chủ trương của Đảng.
- Về mặt thực tiễn
Khóa luận có thể dùng làm tư liệu cho những người quan tâm đến tỉnh
Ninh Bình. Ngoài ra, góp phần tìm hiểu khái quát về các mặt, các lĩnh vực
trong tỉnh Ninh Bình.
7. Kết cấu của khóa luận
Văn hóa – Thông tin, xuất bản năm 1998, thì: "Văn hóa là những giá trị vật
chất, tinh thần do con người sáng tạo ra trong lịch sử".[25, tr.8]
8
Trong Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, do Nhà xuất bản Đà
Nẵng và Trung tâm Từ điển học xuất bản năm 2004 thì đưa ra một loạt quan
niệm về văn hóa: “Văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và
tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử. -văn hóa là một hệ
thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sng1 tạo và tích
lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn,trong sự tương tác giữa con người với
môi trường tự nhiên xã hội”. [22, tr.9]
Năm 2002, UNESCO đã đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau: Văn
hóa nên được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm
hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong
xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương
thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin.
Tiếp thu những tinh thần chung của văn hóa chúng ta có thể hiểu: “Văn
hóa là tổng thể những giá trị vật chất và giá trị tinh thần do con người sáng tạo
ra và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con
người với môi trường tự nhiên và xã hội” [3, tr.102].
Khái niệm “di sản văn hoá”
Theo cách hiểu thông thường thì di sản là tài sản của thế hệ trước hoặc
thời đại trước truyền lại cho thế hệ sau hoặc thời đại sau theo hướng tích lũy
ngày càng nhiều, da dạng và phong phú hơn.
Ai cũng biết rằng, dù là bất cứ loài dộng vật gì cũng chỉ sống có một
thì, nghĩa là toàn bộ hành vi bản năng của nó chỉ hướng vào thực tại nhằm để
tồn tại và phát triển. Khác với động vật, con người sống theo ba thì: quá khứ,
hiện tại và tương lai. Trong hoạt động thực tiễn, con người thường xuyên hồi
quá trình hình thành khá lâu dài. Điều mà ít ai ngờ tới nhất, chính là thuật ngữ
này lại được hình thành và được biết đến từ cuộc cách mạng tư sản Pháp
1789. Quá trình tịch thu được tài sản của tầng lớp quý tộc, tăng lữ, nhà thờ
10
giáo hội để tập trung tất cả lại thành tài sản quốc gia sau cách mạng tư sản
Pháp đã dần dần hình thành khái niệm di sản. Để tránh sự thất thoát và phá
hoại loại tài sản này, nhà nước Pháp lúc bấy giờ đã tiến hành kiểm kê, mô tả
sắp xếp, phân loại các công trình lịch sử để xác định thứ tự ưu tiên nhằm khôi
phục và bảo tồn di sản quốc gia. Di sản lúc đó được hiểu như “ý niệm về một
tài sản chung, tài sản của mọi công dân, chứ không phải của riêng một ai, đó
là ý niệm đã tạo thành cái ý thức về di sản quốc gia”. [11, tr.32]
Năm 1983, Hội nghị Di sản toàn quốc của Vương quốc Anh đã định
nghĩa: “di sản là những gì thuộc về thế hệ trước giữ gìn và chuyển giao cho
thế hệ hiện nay và những gì mà một nhóm người quan trọng trong xã hội hiện
nay mong muốn chuyển giao cho thế hệ tương lai”. [17, tr.20]
Như vậy, DSVH được hiểu như là tài sản, là báu vật của thế hệ trước
để lại cho thế hệ sau. DSVH là các tài sản văn hóa như các tác phẩm nghệ
thuật dân gian, các công trình kiến trúc, các tác phẩm điêu khắc, các tác phẩm
văn học... mà các thế hệ trước để lại cho hậu thế mai sau.
Đại hội đồng Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp
quốc, gọi tắt là UNESCO họp phiên thứ 32 tại Paris từ 29-9 đến 17-10-2003
đã bàn thảo và ra Công ước về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể. Công ước đã
ghi nhận: Các quá trình toàn cầu hóa và chuyển đổi cơ cấu xã hội cùng với
các điều kiện khác đã tạo nhiều cơ hội đối thoại mới giữa các cộng đồng,
đồng thời cũng làm nảy sinh những mối đe dọa về sự suy thoái biến mất và
hủy hoại các di sản văn hóa phi vật thể.
Luật Di sản văn hoá của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
thông tin. Đặc trưng này xuất phát từ chỗ, như người ta thường nói: con người
là một động vật tò mò. Con người vừa hoạt động, vùa kiếm sống, vừa cần cù
quan sát, ghi nhớ, suy ngẫm về cái thế giới mà nó đang tác động và thích ứng
để tồn tại. Nhờ đó, mà có sự nhận biết về sự tồn tại của thế giới khách quan,
rồi đúc kết thành tri thức,kinh nghiệm, khái quát lên thành các quy tắc hành
12
xử, thành khoa học. Dù cho là động vật có hiểu biết thì sự hiểu biết của nó chỉ
đủ thích ứng thụ động với thiên nhiên để tồn tại như hiện hữu. Còn hiểu biết
của con người là nhằm thích ứng tích cực với thế giới khách quan, rồi cải tạo
nó phù hợp với hoàn cảnh để không ngừng hoàn thiện cuộc sống theo hướng
nhân bản hóa. Đó là đặc trưng quan trọng hàng đầu để phân biệt giữa hoạt
động hữu thức của con người với hành vi tự nhiên của động vật.
Như vậy là trong di sản văn hóa có chứa đựng vốn kinh nghiệm và tri
thức sống của con người. Ví dụ trống đồng Ngọc Lũ chứa đựng biết bao nhiêu
kiến thức sống mà chủ nhân của nó đương thời đã tích lũy và thu gom được.
Chưa kể những hình khắc và hoa văn phủ đầy trên mặt và tang trống, phản
ánh các hình thái sinh hoạt vật chất và tinh thần của các cư dân thời đó, việc
đúc trống đã hé mở cho chúng ta về vốn tri thức công nghệ luyện kim thời ấy
đã phong phú và kĩ thuật đến chừng nào.
Đặc trưng thứ hai của văn hóa là tính giá trị. Văn hóa khởi đầu là từ
thông tin, hiểu biết những cái thông tin và hiểu biết ấy phải hướng về giá trị
mới thành. Giá trị là cái được mọi người coi là cái cao quý, đáng ước ao và
khi đạt được thì cảm thấy dễ chịu như rơi vào trạng thái thăng hoa. Những giá
trị phổ thông được mọi nền văn hóa chấp nhận là cái đúng (chân), cái tốt
(thiện), cái đẹp (mỹ) cái có ích (ích).Một đồ vật được coi là di sản văn hóa
không nhất thiết phải hội tụ bốn phẩm chất: đúng, tốt, đẹp và có ích, nhưng
chí ít nó phải có một trong bốn phẩm chất ấy.
phát huy các giá trị DSVH là hoạt động thiết thực nhằm hướng tới xây dựng
nền văn hóa Việt Nam tiến tiến đậm đà bản sắc dân tộc và đóng góp vào việc
giữ gìn và làm phong phú cho kho tàng DSVH nhân loại.
Khái niệm bảo tồn và phát huy di sản văn hóa
Trước hết là quan điểm bảo tồn DSVH. Từ điển Tiếng Việt cắt nghĩa:
“bảo tồn là giữ lại không để cho mất đi”, còn “phát huy là làm cho cái hay, cái
tốt tỏa sáng tác dụng và tiếp tục nảy nở thêm”.
14
Bảo tồn là bảo vệ và giữ gìn sự tồn tại của sự vật hiện tượng theo dạng
thức vốn có của nó. Bảo tồn là không để mai một, “không để bị thay đổi, biến
hóa hay biến thái”. Như vậy, trong nội hàm của thuật ngữ này, không có khái
niệm “cải biến”, “nâng cao” hoặc “phát triển”. Hơn nữa, khi nói đối tượng
bảo tồn “phải được nhìn là tinh hoa”, chúng ta đã khẳng định giá trị đích thực
và khả năng tồn tại theo thời gian, dưới nhiều thể trạng và hình thức khác
nhau của đối tượng được bảo tồn.
Đối tượng bảo tồn (tức là các giá trị DSVH vật thể và phi vật thể) cần
thỏa mãn hai điều kiện:
- Một là, nó phải được nhìn là tinh hoa, là một “giá trị” đích thực được
thừa nhận minh bạch, không có gì phải hồ nghi hay bàn cãi.
- Hai là, nó phải hàm chứa khả năng, chí ít là tiềm năng, đứng vững lâu
dài (tức là có giá trị lâu dài, có thể “trơ gan cùng tuế nguyệt”) trước những
biến đổi tất yếu về đời sống vật chất và tinh thần của con người, nhất là trong
thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH hiện nay với chính sách mở cửa và bối cảnh
nền kinh tế thị trường và quá trình toàn cầu hóa đang diễn ra cực kỳ sôi động.
Bảo tồn nguyên vẹn (bảo tồn trong dạng “tĩnh”)
Bảo tồn nguyên vẹn văn hóa vật thể ở dang “tĩnh” là vận dụng thành
quả khoa học kỹ thuật công nghệ cao, hiện đại đảm bảo giữ nguyên trạng hiện
Báu vật nhân văn sống. Do đó bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa phi vật
thể còn đồng nghĩa với việc bảo vệ những Báu vật nhân văn sống. Đó là việc
xã hội thừa nhận các tài năng dân gian, tôn vinh họ trong cộng đồng, tạo điều
kiện tốt nhất để trong hoàn cảnh có thể, để họ sống lâu, sống khỏe mạnh, phát
huy được khả năng của họ trong quá trình bảo tồn và phát huy các giá trị văn
hóa truyền thống. Cần phải phục hồi các giá trị văn hóa phi vật thể một cách
khách quan, sáng suốt, tin cậy, chứ không thể chủ quan tùy tiện. Tất cả những
giá trị văn hóa phi vật thể phải được kiểm chứng qua nhiều phương pháp
16
nghiên cứu có tính chất chuyên môn cao, có giá trị thực chứng, thuyết phục
thông qua các dự án điều tra, sưu tầm bảo quản, biên dịch và xuất bản các dấu
tích DSVH phi vật thể.
Bảo tồn theo quan điểm phục hồi nguyên dạng DSVH phi vật thể chính
là mong muốn “lý tưởng” nhất, hoàn hảo nhất. Nếu không thể bảo tồn nguyên
dạng thì phải bảo tồn theo hiện dạng đang có. Bởi theo quy luật của thời gian
thì các DSVH phi vật thể ngày càng có xu hướng xa dần nguyên gốc. Do vậy,
nếu không thể khôi phục được nguyên gốc thì bảo tồn hiện dạng là điều cần
phải thực hiện và có ý nghĩa khả thi nhất.
Tuy nhiên, hiện dạng phải có mối liên hệ chặt chẽ với nguyên dạng.
Theo đó, cần xác định rõ thời điểm bảo tồn để sau này khi có thêm tư liệu tin
cậy thì sẽ tiếp tục phục nguyên ở dạng gốc DSVH.
1.1.2. Phân loại di sản văn hoá
Phân loại (classification) sự vật và hiện tượng là một trong những cách
nhận thức và thâu tóm bản chất của sự vật và hiện tượng tự nhiên, xã hội đa
dạng phong phú. Phân loại DSVH là một nhu cầu chính đáng trong nghiên
cứu. Theo quan niệm của UNESCO, DSVH bao gồm hai loại:
“Di sản văn hóa vật thể” (tangible culture) được hiểu là những sản
di sản văn hóa phi vật thể được các cộng đồng và nhóm không ngừng tái tạo
để thích nghi với môi trường và mối quan hệ qua lại giữa cộng đồng với tự
nhiên và lịch sử của họ, đồng thời hình thành trong họ một ý thức về bản sắc
và sự kế tục, qua đó khích lệ thêm sự tôn trọng đối với sự đa dạng văn hóa và
tính sáng tạo của con người” [23, tr.142].
Cũng giống như DSVH vật thể, các hiện tượng văn hóa phi vật thể
cũng có thể bị mai một, biến dạng, hoặc mất đi vĩnh viễn bởi thử thách của
thời gian, bởi sự vô ý thức của con người. Trong thực tế, người ta thường có
xu hướng thêm bớt hoặc lãng quên trong quá trình lưu giữ những giá trị phi
18
vật thể. Cho nên, văn hóa phi vật thể vừa có tính bền vững (trong ký ức của
cộng đồng) lại vừa mang tính mong manh, dễ bị tổn thương (phụ thuộc vào
cuộc sống của một cá nhân - nghệ nhân với những may rủi bất ngờ). Hơn nữa,
văn hóa phi vật thể còn có nguy cơ biến dạng rất cao bởi tính dị bản của nó do
sự can thiệp của các nhóm xã hội qua các thời đại. Trên cơ sở đồng thuận với
quan niệm của UNESCO, Luật Di sản văn hoá của Việt Nam phân loại di sản
văn hóa như sau:
Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn
hóa, khoa học, được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng
truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền
khác, bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học,
ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí
quyết về nghề thủ công truyền thống, tri thức về y, dược học cổ truyền, về văn
hóa ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và các tri thức dân gian khác.
Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa,
khoa học, bao gồm các di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật,
cổ vật, bảo vật quốc gia (...) Giá trị đặc biệt quý hiếm của bảo vật quốc gia
tương lai cũng từ văn hóa. Giá trị văn hóa của một dân tộc thể hiện bản sắc
của dân tộc ấy. Những giá trị văn hóa của con người là thước đo trình độ phát
triển và thể hiện đặc tính riêng của mỗi dân tộc.
Xác định tầm quan trọng của di sản văn hóa dân tộc. Sau ngày đọc bản
Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa 02/9/1945
chưa đầy 3 tháng, ngày 23/11/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số
65/SL “Ấn định nhiệm vụ của Đông Phương Bác cổ Học viện” - Sắc lệnh đầu
tiên của Nhà nước ta về việc bảo tồn di sản văn hóa dân tộc. Sắc lệnh ra đời
trong hoàn cảnh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ đang gặp vô vàn
20