TRƯỜNG ĐẠI HỌC s ư PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
BÙI THỊ HÀ
BẢO TỒN DI SẢN VĂN HÓA CỦA TỈNH
NINH BÌNH HIỆN NAY
KHÓA LUÂN TỐT NGHIÊP ĐAI HOC
•
•
•
•
Chuyên ngành: Chủ nghĩa Xã hội khoa học
Ngưòi hướng dẫn khoa học:
ThS. LÊ THỊ MINH THẢO
HÀ NỘI - 2016
LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên em xin gửi lòi cảm ơn sâu sắc tới giảng viên Ths. Lê Thị
Minh Thảo người đã định hướng đề tài và tận tình hướng dẫn chỉ bảo em
trong suốt quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp này.
Sinh viên thưc
• hiên
•
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa : CNH, HĐH
Di sản văn hóa
: DSVH
Sở Văn hóa, thể thao và du lịch : VH, TT & DL
MỤC LỤC
MỞ BÀI............................................................................................................ 1
1. Lý do chọn đề tài........................................................................................... 1
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài....................................................................2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu............................................................... 5
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứ u ................................................................... 6
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứ u.................................................. 6
6. Đóng góp của đề tài.......................................................................................6
7. Kết cấu của khóa luận...................................................................................7
Chương 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ DI SẢN VĂN HÓA............................ 8
1.1. Lý luận chung về di sản văn hóa................................................................8
1.2. Quan điểm, đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước về bảo tồn
và phát huy di sản văn hóa............................................................................... 20
Chương 2. THựC TRẠNG BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY DI SẢN VĂN
HÓA Ở TỈNH NINH BÌNH TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY............. 29
đúng đắn để tiến hành xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến
đậm đà bản sắc dân tộc. “Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VUI”
của Đảng đã khẳng định: “Mọi hoạt động văn hoá, văn nghệ phải nhằm xây
dựng nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng con người Việt
Nam về tư tưởng, đạo đức, tâm hồn, tình cảm lối sống, xây dựng môi trường
văn hoá lành mạnh cho sự phát triển xã hội. Ke thừa và phát huy các giá trị
tinh thần, đạo đức và thẩm mỹ, các di sản văn hoá, nghệ thuật của dân tộc.
Bảo tồn và tôn tạo các di tích lịch sử, văn hoá danh thắng của đất nước. Trong
điều kiện kinh tế thị trường và mở rộng giao lưu quốc tế, phải đặc biệt quan
1
tâm giữ gìn và nâng cao bản sắc văn hoá dân tộc, kế thừa và phát huy truyền
thống đạo đức, tập quán tốt đẹp và lòng tự hào dân tộc. Tiếp thu tinh hoa của
các dân tộc trên thế giới, làm giàu đẹp cho nền văn hoá Việt Nam”. Tại Đại
hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Đảng ta tiếp tục nhấn mạnh vấn đề bảo tồn
phát huy DSVH dân tộc trong sự nghiệp phát triển văn hoá, nền tảng tinh thần
của xã hội: “Tiếp tục đầu tư cho việc bảo tồn, tôn tạo các di tích lịch sử cách
mạng, kháng chiến, các di sản văn hoá vật thể và phi vật thể của dân tộc, các
giá trị văn hoá nghệ thuật, ngôn ngữ, thuần phong mỹ tục của cộng đồng các
dân tộc. Bảo tồn và phát huy văn hoá, văn nghệ dân gian. Ket hợp hài hoà
việc bảo phát huy các di sản văn hoá vói các hoạt động phát triển kinh tế du
lịch”.
Ninh Bình cũng là một tỉnh có một nền văn hóa truyền thống tốt đẹp,
đồng thời cũng là một tỉnh có những di sản văn hóa lớn của đất nước nói riêng
và của thế giói nói chung. Xuất phát từ những vấn đề của xã hội hiện nay mà
em đã chọn đề tài: “Bảo tồn dì sản văn hóa của tỉnh Ninh Bình hiện nay ”
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Nói tới văn hóa người ta thường đề cập ngay tới di sản văn hoá
đúng đắn khoa học về DSVH vật thể và phi vật thể trên thế giới.
Ở nước ta, nghiên cứu về DSVH trước tiên phải kể đến công trình Việt
Nam Văn hoá sử cương của học giả Đào Duy Anh từ năm 1938 với quan
điểm: “Ta muốn trở thành một nước cường thịnh về vật chất, vừa về tinh thần
thì phải giữ văn hoá cũ (di sản) làm thể (gốc, nền tảng); mà lấy văn hoá mới
làm dụng nghĩa là phải khéo điều hoà tinh tuý của văn hoá phương Đông với
những điều sở trường về khoa học của văn hoá phương Tây”.
3
- Năm 1997, GS.TS Hoàng Vinh hoàn thành cuốn sách Một sổ vẩn đề
về bảo tồn và phát triển di sản văn hoá dân tộc. Trên cơ sở những quan niệm
DSVH của quốc tế và Việt Nam, tác giả đã đưa ra một hệ thống lý luận về
DSVH, đồng thời bước đầu vận dụng nghiên cứu DSVH nước ta. Năm 2002,
Luật di sản văn hoá và văn bản hướng dẫn thi hành được coi là văn bản pháp
quy về DSVH.
- Công trình Một con đường tiếp cận di sản văn hoá do Bộ Văn hoá Thông tin ấn hành, Hà Nội năm 2006 đã tập hợp nhiều bài nghiên cứu về lý
luận DSVH cũng như thực tiễn, có thể làm tư liệu nghiên cứu tốt cho đề tài.
Trong đó tiêu biếu nhất là các bài: “Khảo cố học với công tác bảo vệ và phát
huy di sản văn hoá” (Vũ Quốc Hiền), “Bảo tồn di tích, nhân tố quan trọng
của phát triển bền vững” (Lê Thành Vinh); “Di tích lịch sử và văn hoá đồng
bằng sông Hồng” (Đặng văn Bài); “Bảo tồn, tôn tạo và xây dựng khu di tích
lịch sử - văn hoá Đường Lâm ” (Phan Huy Lê).
- Sách Giữ gìn, phát huy di sản văn hoá các dân tộc Tây Bac do NXB
Văn hoá Dân tộc - Tạp chí Văn hoá nghệ thuật phát hành có thể giúp người
đọc có thể nhận diện một số vấn đề lý luận về DSVH.
- Trên Tạp chí Cộng sản sổ 20, năm 2003, PGS, TS. Nguyễn Văn Huy
đã có nhiều cố gắng nghiên cứu Một số vấn đề bảo tồn và phát huy những di
sản văn hoá các dân tộc hiện nay. Tác giả bài báo đã đề cập đến những vẩn đề
tổng thể về việc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa ở tỉnh Ninh Bình.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Những vấn đề lý luận chung về di sản văn hóa.
- Thực trạng về việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa của tỉnh
Ninh Bình.
- Những vấn đề đặt ra và một số giải pháp góp phần bảo tồn và phát
huy di sản văn hoá của tỉnh Ninh Bình trong giai đoạn hiện nay.
5
4. Đổi tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu:
Nghiên cứu việc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa của tỉnh Ninh Bình
hiện nay.
4.2. Phạm vỉ nghiên cứu
- Không gian :Đề tài nghiên cứu việc bảo tồn và phát huy di sản văn
hóa tỉnh Ninh Bình. Đặc biệt là việc bảo tồn và phát huy giá ttị di sản văn hoá
của vùng đất thiêng c ố Đô Hoa Lư
- Thời gian: Từ khi có luật di sản văn hóa năm 2002 đến nay
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơsởlý luận
Khóa luận vận dụng các quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, Đường lối văn hoá của Đảng Cộng sản Việt Nam về di
sản văn hoá để nghiên cứu.
5.2. Phương pháp nghiên cứu.
+ Phương pháp logic và lịch sử
+ Phương pháp điều tra xã hội học.
+ Phương pháp tổng họp và phân tích các tài liệu sẵn có
6. Đóng góp của đề tài
1.1. Lý luận chung về di sản văn hóa.
1.1.1. Một số khái niệm cơ bản
♦♦♦ Khái niệm “Văn hóa”
Văn hóa là bao gồm tất cả những sản phẩm của con người, và như vậy,
văn hóa bao gồm cả hai khía cạnh: khía cạnh phi vật chất của xã hội như ngôn
ngữ, tư tưởng, giá tri và các khía cạnh vật chất như nhà cửa, quần áo, các
phương tiện, v.v... Cả hai khía cạnh cần thiết để làm ra sản phẩm và đó là một
phần của văn hóa.
Tùy theo cách tiếp cận mà các nhà khoa học đưa ra các định nghĩa khác
nhau về văn hóa.
• Một trong những định nghĩa đó là Edward Sapir(1884 - 1939), nhà
nhân loại học,ngôn ngữ học người Mỹ: “văn hóa chính là bản thân con người,
cho dù là những người hoang dã nhất sống trong một xã hội tiêu biểu cho một
hệ thống phức họp của tập quán, cách ứng xử và quan điểm được bảo tồn theo
truyền thống”.
• Định nghĩa của Pitirim Alexandrovich Sorokin (1889 - 1968), nhà xã
hội học người Mỹ gốc Nga, người sáng lập khoa Xã hội học của Đại học
Harvard: “Với nghĩa rộng nhất, văn hóa chỉ tổng thể những gì được tạo ra,
hay được cải biến bỏi hoạt động có ý thức hay vô thức của hai hay nhiều cá
nhân tương tác với nhau và tác động đến lối ứng xử của nhau”. [24, tr.12]
• Theo Đại từ điển tiếng Việt của Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa Việt
Nam - Bộ Giáo dục và đào tạo, do Nguyễn Như Ý chủ biên, Nhà xuất bản
Văn hóa - Thông tin, xuất bản năm 1998, thì: "Văn hóa là những giá trị vật
chất, tinh thần do con người sáng tạo ra trong lịch sử".[25, tr.8]
8
• Trong Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, do Nhà xuất bản Đà
vẫn đang đắc dụng, sẽ trở thành di sản văn hóa.
Một đứa trẻ vừa cất tiếng khóc chào đời đã được tiếp xúc ngay vói môi
trường văn hóa, đó là bầu sữa mẹ, là những vỗ về cưng nựng, yêu thương, là
những vuốt ve âu ếm, là lời ru của mẹ, là câu chuyện kể ngày xửa, ngày xưa
của Bà, là mái lều tranh, là cây đa, giếng nước... Đó chính là di sản văn hóa
mà thế hệ trước đã dành sẵn cho nó. Nó có nhiệm vụ học tập, tiếp thu, tiến tới
chiếm lĩnh, trước hết là toàn bộ vốn di sản văn hóa của cộng đồng, để trở
thành người - một thành viên của cộng đồng xã hội. Như vậy, sản phẩm văn
hóa được sáng tạo ra khi đã được cộng đồng chấp nhận vào “bộ nhớ” của xã
hội và trở thành di sản văn hóa.
Di sản văn hóa được tích lũy làm cho môi trường văn hóa ngày càng
nhiều hơn, phong phú hơn và có chất lượng cao hơn, nhờ đó mà đào luyện
nên những con người, mang giá trị văn hóa cao hơn. Những “nhân cách văn
hóa” ấy đến lượt nó lại tích cực tham gia vào quá trình sáng tạo ra các giá trị
văn hóa mói, bồi đắp cho môi trường văn hóa ngày càng thêm giàu có và chất
lượng. Đây chính là con đường phát triển văn hóa, trong đó di sản văn hóa
đóng vai trò cầu nối giữa các thế hệ.
Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: Di sản là cái của thời trước để lại [15,
tr. 254], Di sản văn hoá theo nghĩa Hán Việt là những tài sản văn hóa có giá
trị của quá khứ còn tồn tại trong cuộc sống đương đại và tương lai. Di là để
lại, còn lại, dịch chuyển, chuyển lại. Sản là tài sản, là những gì quý giá, có giá
trị. Di sản văn hóa được hiểu bằng sự tổng họp của các ý nghĩa nói trên.
Khái niệm DSVH trong tư cách là một thuật ngữ khoa học đã có một
quá trình hình thành khá lâu dài. Điều mà ít ai ngờ tới nhất, chính là thuật ngữ
này lại được hình thành và được biết đến từ cuộc cách mạng tư sản Pháp
1789. Quá trình tịch thu được tài sản của tàng lớp quý tộc, tăng lữ, nhà thờ
10
Khái niệm di sản là một khái niệm tiến triển, vận động thay đổi theo
thời gian. Ngày nay khái niệm di sản không hoàn toàn đồng nhất với khái
niệm tài sản từ quá khứ nữa. Bởi lẽ không phải bất cứ cái gì của quá khứ
cũng được coi là di sản. Di sản là sản phẩm của quá khứ nhưng đó là quá khứ
đã được lựa chọn theo nhu cầu của xã hội hiện đại. Di sản là sự lựa chọn từ
quá khứ lịch sử những ký ức, báu yật của cộng đồng, thể hiện nhu cầu,
nguyện vọng, mong muốn của xã hội hiện đại. Do đó, sự ra đời của Luật Dì
sản văn hóa năm 2001 cùng với các văn bản hướng dẫn đi kèm đã trở thành
cơ sở pháp lý quan trọng, nhằm tăng cường nhận thức và hành động cho toàn
xã hội, tăng cường sự hiểu biết về di sản và quá trình bảo vệ, phát huy kho
tàng di sản văn hóa của dân tộc. Có thể nêu một trong rất nhiều định nghĩa
như sau: “Di sản văn hóa dân tộc là toàn bộ sản phẩm sáng tạo của các thành
viên trong cộng đồng dân tộc. nó thể hiện dưới dạng những đối tượng vật thể
(hữu hình) và phi vật thể (vô hình) mang tính biểu tượng, được lan tỏa (vô
thức) và trao truyền (hữu thức) từ cộng đồng này sang cộng đồng khác, từ thế
hệ trước cho thế hệ sau”
Chúng ta biết rằng, không phải mọi vật phẩm do con người làm ra đều
trở thành di sản văn hóa. Cho nên, phải xác định những tiêu chí đặc trưng cho
di sản văn hóa để phân biệt nó vói các vật phẩm thông thường khác.
Muốn làm được điều này phải xuất phát từ những đặc trưng cơ bản của
văn hóa:
Đặc trưng thứ nhất của văn hóa là tính sáng tạo hoặc tính tích lũy
thông tin. Đặc trưng này xuất phát từ chỗ, như người ta thường nói: con người
là một động vật tò mò. Con người vừa hoạt động, vùa kiếm sống, vừa cần cù
quan sát, ghi nhớ, suy ngẫm về cái thế giới mà nó đang tác động và thích ứng
để tồn tại. Nhờ đó, mà có sự nhận biết về sự tồn tại của thế giói khách quan,
rồi đúc kết thành tri thức,kinh nghiệm, khái quát lên thành các quy tắc hành
12
13
dân làm ruộng nước ở châu thổ Bắc Bộ. còn biểu tượng Thánh Gióng là nói
về hình tượng người nông dân bề ngoài trông hiền lành, chất phác, nhưng khi
có giặc ngoại xâm thì vụt lớn mang sức mạnh của cả một dân tộc bất khuất,
không chịu làm nô lệ, sức mạnh ấy như một thiên thần, dũng mãnh, liệt oanh,
dẹp xong giặc dữ, lại bay về trời một cách vô tư. thánh thiện.
Đặc trưng thứ tư của văn hóa là tính lịch sử. Tính lịch sử của văn hóa
được thể hiện ở chỗ nó bao giờ cũng được hình thành trong một quá trình,
được tích lũy và sàng lọc qua sự vận động của xã hội. Tính lịch sử làm cho
vốn di sản văn hóa có bề dày thời gian có sự phong phú về hình loại.
Do di sản văn hóa mang tính lịch sử, cho nên bất cứ vật thể nào đại
diện cho một sự kiện lịch sử trọng đại, một giai đoạn lịch sử tiêu biểu hay một
nhân vật lịch sử kiệt xuất thì đều có thể trở thành di sản văn hóa.
Việt Nam là một trong những quốc gia tiên phong trong việc phê chuẩn
Công ước về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể năm 2003 của UNESCO và là
thành viên của ủ y ban Liên Chính phủ tham gia xây dựng phương hướng hoạt
động và các chính sách quốc tế có liên quan đến Công ước này. Di sản văn
hóa là yếu tố cốt lõi của văn hóa, chuyển tải bản sắc văn hóa của một cộng
đồng xã hội. DSVH Việt Nam là tài sản văn hóa quý giá của cộng đồng các
dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của DSVH nhân loại, có vai trò to lớn
trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta. Như vậy, bảo tồn và
phát huy các giá trị DSVH là hoạt động thiết thực nhằm hướng tới xây dựng
nền văn hóa Việt Nam tiến tiến đậm đà bản sắc dân tộc và đóng góp vào việc
giữ gìn và làm phong phú cho kho tàng DSVH nhân loại.
♦♦♦ Khái niệm bảo tồn và phát huy di sản văn hóa
Trước hết là quan điểm bảo tồn DSVH. Từ điển Tiếng Việt cắt nghĩa:
“bảo tồn là giữ lại không để cho mất đi”, còn “phát huy là làm cho cái hay, cái
tốt tỏa sáng tác dụng và tiếp tục nảy nở thêm”.
15
Bảo tồn văn hóa phi vật thể ở dạng “tĩnh” là tiến hành điều tra sưu tàm,
thu thập các dạng thức văn hóa phi vật thể như nó hiện có theo quy trình khoa
học nghiêm túc chặt chẽ, “giữ” chúng trong sách vở, các ghi chép, mô tả bằng
băng hình (video), băng tiếng (audỉo), ảnh.v.v... Tất cả các hiện tượng văn
hóa phi vật thể này có thể lưu giữ trong các kho lưu trữ, các viện bảo tàng.
Bảo tồn trên cơ sở kể thừa (bảo tồn trong dạng “động”)
Bảo tồn “động”, tức là bảo tồn các hiện tượng văn hóa trên cơ sở kế
thừa. Các di sản văn hóa vật thể sẽ được bảo tồn trên tinh thần giữ gìn những
nét cơ bản của di tích, cố gắng phục chế lại nguyên trạng di sản văn hóa vật
thể bằng nhiều kỹ thuật công nghệ hiện đại. Đối vói các di sản văn hóa phi vật
thể, bảo tồn “động” trên cơ sở kế thừa là bảo tồn các hiện tượng văn hóa đó
ngay chính trong đòi sống cộng đồng. Bởi lẽ, cộng đồng không những là môi
trường sản sinh ra các hiện tượng văn hóa phi vật thể mà còn là nơi tốt nhất để
giữ gìn, bảo vệ, làm giàu và phát huy văn hóa phi vật thể trong đời sống xã
hội theo thời gian. Các hiện tượng văn hóa phi vật thể tồn tại trong ký ức cộng
đồng, nương náu trong tiếng nói, trong các hình thức diễn xướng, trong các
nghi lễ, nghi thức, quy ước dân gian.
Văn hóa phi vật thể luôn tiềm ẩn trong tâm thức và trí nhớ của con
người mà chúng ta thường mệnh danh họ là những nghệ nhân hay là những
Báu vật nhân văn sổng. Do đó bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa phi vật
thể còn đồng nghĩa với việc bảo vệ những Báu vật nhân văn sổng. Đó là việc
xã hội thừa nhận các tài năng dân gian, tôn vinh họ trong cộng đồng, tạo điều
kiện tốt nhất để trong hoàn cảnh có thể, để họ sống lâu, sống khỏe mạnh, phát
huy được khả năng của họ trong quá trình bảo tồn và phát huy các giá trị văn
hóa truyền thống, cần phải phục hồi các giá trị văn hóa phi vật thể một cách
khách quan, sáng suốt, tin cậy, chứ không thể chủ quan tùy tiện. Tất cả những
sau. DSVH vật thể luôn đứng truớc nguy cơ biến dạng hoặc thay đổi rất nhiều
17
so với nguyên gốc. Hiện nay, vấn đề bảo tồn những DSVH vật thể lâu đời đòi
hỏi công nghệ kỹ thuật cao mới có thể phục nguyên lại như cũ.
“Di sản Văn hóa phỉ vật thể” (intangible culture) là dạng thức tồn tại
của văn hóa không phải chủ yếu dưới dạng vật thể có hình khối trong không
gian và thời gian, mà nó tiềm ẩn ttong trí nhớ, ký ức cộng đồng, tập tính, hành
vi ứng xử của con ngưòi và thông qua các hoạt động sống của con ngưòi
trong sản xuất, giao tiếp xã hội mà thể hiện ra. Từ đó người ta có thể nhận biết
được sự tồn tại của “văn hóa phi vật thể”.
Đặc trưng rõ nhất của “văn hóa phi vật thể” là nó luôn tiềm ẩn trong
tâm thức của một cộng đồng xã hội và chỉ bộc lộ ra qua hành vi và hoạt động
của con người. “Văn hóa phi vật thể” được lưu giữ trong thế giới tinh thần của
con ngưòi và thông qua các hình thức diễn xướng, nó được bộc lộ sinh động
trong tư cách một hiện tượng văn hóa.
“Di sản văn hóa phi vật thể” (intangible culture) được hiểu là các tập
quán, các hình thức thể hiện, biểu đạt tri thức, kỹ năng và kèm theo đó là các
công cụ, đồ vật, đồ tạo tác và các không gian văn hóa có liên quan mà các
cộng đồng, các nhóm và một số trường họp là các cá nhân, công nhận là một
phần di sản văn hóa của họ. Được chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác,
di sản văn hóa phi vật thể được các cộng đồng và nhóm không ngừng tái tạo
để thích nghi với môi trường và mối quan hệ qua lại giữa cộng đồng với tự
nhiên và lịch sử của họ, đồng thời hình thành trong họ một ý thức về bản sắc
và sự kế tục, qua đó khích lệ thêm sự tôn trọng đối với sự đa dạng văn hóa và
tính sáng tạo của con người” [23, tr.142].
Cũng giống như DSVH vật thể, các hiện tượng văn hóa phi vật thể
cũng có thể bị mai một, biến dạng, hoặc mất đi vĩnh viễn bởi thử thách của
thẩm mỹ và hình thức thể hiện tiêu biểu cho một khuynh hướng, một phong
cách, một thời đại;
19
• Là sản phẩm được phát minh, sáng chế tiêu biểu có giá trị thực tiễn
cao, có tác dụng thúc đẩy xã hội phát triển ở một giai đoạn lịch sử nhất định;
d)
Được Thủ tướng Chính phủ quyết định công nhận sau khi có ý kiến
của thẩm định của Hội đồng Di sản văn hóa Quốc gia” [4, tr.46].
Như vậy, rõ ràng là DSVH phi vật thể luôn sống trong tâm trí con
người, được con người nắm giữ các tri thức về nó để trình diễn các kỹ năng
thực hành biểu hiện giá trị của nó. DSVH phi vật thể luôn đồng hành cùng
con người, gắn với ký ức của con ngưòi theo dòng lịch sử. DSVH vật thể tồn
tại trong tri giác, được nhận biết thông qua các giác quan của con người, trong
sự thừa nhận của một cộng đồng xã hội kéo dài theo thời gian lịch sử xã hội.
1.2.
Quan điểm, đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước về
bảo tồn và phát huy di sản văn hóa.
Việt Nam là một quốc gia có hơn 54 dân tộc anh em cùng sinh sống trên
dải đất hình chữ s. Mỗi dân tộc góp vào nền văn hóa chung một sắc màu độc
đáo, tạo nên một bức tranh về văn hóa Việt Nam phong phú và đa dạng.
Có thể khẳng định văn hóa gắn liền với toàn bộ cuộc sống và sự phát
triển của xã hội. Con người ra đời, trưởng thành là nhờ vãn hóa, hướng tới
tương lai cũng từ văn hóa. Giá trị văn hóa của một dân tộc thể hiện bản sắc