TRƯỜNG ĐẠI HỌC s u PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGŨ VĂN
===%p|ũ3 c&===
NGUYỄN VĂN ĐỨC
CHÂN DUNG CON NGƯỜI VĂN HÓA
NGUYỄN VĂN SIÊU
QUA SÁNG TÁC THƠ CA CỦA ÔNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học
TS. NGUYỄN THI TÍNH
HÀ NỘI - 2015
LỜI CẢM ƠN
Trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS. Nguyễn Thị Tính. Cô
đã trục tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu cũng
như luôn động viên khuyến khích tôi thực hiện đề tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong tổ Văn học Việt Nam,
khoa Ngữ văn, trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện thuận lợi cho
tôi thực hiện và hoàn thành khoá luận.
Hà Nội, ngày 9 tháng 5 năm 2015
Sinh viên
Nguyễn Văn Đức
7. Bố cục của khóa luận.......................................................................................... 7
NỘI DUNG............................................................................................................. 8
Chưong 1: Những vấn đề chung..........................................................................8
1.1. Tác giả Nguyễn Văn Siêu................................................................................ 8
1.1.1. Cuộc đờ i........................................................................................................ 8
1.1.2. Sự nghiệp trước tá c ................................................................................... 15
1.1.3. Quan điểm sáng tác................................................................................... 17
1.2.Tác phẩm Phương Đình Thi tập.................................................................... 18
1.2.1. Phương Đình Vạn lý tập............................................................................ 18
1.2.2. Phương Đình Anh ngôn thi tập ................................................................. 19
1.2.3. Phương Đình Lưu lãm tập......................................................................... 19
1.2.4. Phương Đình Mạn hứng tập...................................................................... 20
Chương 2: Nguyễn Văn Siêu - Nhà văn hóa lớn thế kỷ X IX ....................... 21
2.1. Nguyễn Văn Siêu - người có vốn hiểu biết uyên bác ...................................21
2.1.1. Nguyễn Văn Siêu - nhà địa lý học.............................................................. 21
2.1.2. Nguyễn Văn Siêu - nhà sử học.................................................................... 25
2.1.3. Nguyễn Văn Siêu - nhà xã hội học.............................................................30
2.2. Nguyễn Văn Siêu - người khởi xướng phong trào chấn hưng văn hóa Thăng
Long......................................................................................................................36
2.2.1. Nguyễn Văn Siêu và sự nghiệp chấn hưng văn hóa giáo dục của Thăng
Long......................................................................................................................36
2.2.2. Nguyễn Văn siêu và khu quần thể di tích đền Ngọc Sơn, Tháp Bút, Đài
Nghiên.................................................................................................................. 40
2.3. Nguyễn Văn Siêu - nhà văn hóa có tâm với nhân dân, với đất nước........ 45
KẾT LUẬN.........................................................................................................51
TÀI LIỆU THAM KHẢO.................................................................................. 1
tàng, dám khen cái người khác không dám khen, dám chê cái người khác
không dám chê. Ông đích thực là một nhà văn lớn, một nhà thơ lớn của nước
ta. Với ông, viết chỉ vì trách nhiệm, vì húng thú, không vì danh. Ông là một
bậc Danh Nho - nghệ sĩ. Ông sống là người nhân đức. Ông mất là Thành
Hoàng làng”. Điều này được tác giả Lê Sáng dẫn từ một đoạn trong bài văn
Bia Thần đạo ở lăng Tiên sinh Phương Đình của Đại học sĩ Nguyễn Trọng
Hợp viết cách ngày nay 105 năm về Phương Đình Nguyễn Văn Siêu: “Thiết
nghĩ, Tiên sinh là người mà tôi ngưỡng vọng, công đức của Tiên sinh phải
được truyền mãi cho đời sau; nhưng chúng tôi là người ngu tối, không thế biết
hết công đức ấy, dù chỉ trong muôn một.. [ 4 4 ; tr.67- 68].
Trong bài viết Nguyễn Văn Siêu (1799 - 1872) - Một tài năng kiệt xuất,
một con người xuất chúng đăng vào ngày 20 tháng 8 năm 2014 trên trang
thông tin điện tử Nhà xuất bản chính trị quốc gia - sự thật, Phạm Khanh viết:
“Một cuộc đời dài cống hiến không mệt mỏi, Nguyễn Văn Siêu - một trong
nhũng trí thức Nho học uyên bác, đạo đức trong sáng, một nhà giáo có tâm,
một nhà kiến trúc tinh tế, một thi sĩ có tâm hồn đồng cảm với người dân
nghèo lam lũ xứng đáng nhận được sự tôn vinh, nể trọng của người đương
thời và hậu thế. Ghi nhận công lao của ông, Đảng và Nhà nước đã lấy tên
Nguyễn Văn Siêu (hay Nguyễn Siêu) để đặt tên cho nhiều đường phố ở Hà
Nội, Huế, Đà Nằng, Quy Nhơn... và nhiều trường học ở các tỉnh, thành phố
trong cả nước” [34; tr. 1- 2]. Từ đó tác giá đánh giá Nguyễn Văn Siêu là một
vị quan chính trục và thiên lương; một nhà văn hóa có tâm, có tầm; một nhà
kiến trúc tài năng.
Mai Thục trong bài Thần Siêu Thảnh Quát đăng tải trên trang web:
newvietart.com ở hải ngoại cũng viết: “Lượng sức mình. Biết lòng mình yêu
văn hóa, trí tuệ, muốn dùng tri thức soi sáng muôn dân, xây nền hòa bình, bác
ái lòng dân tộc, Nguyễn Văn Siêu đứng ra sử sang ngôi đền Ngọc Sơn, bắc lại
4
“Nguyễn Văn Siêu xứng đáng có một chỗ đứng nhất định trong nền văn học
và văn hoá Việt Nam thế kỷ XIX” [41; tr. 600].
Qua những bài viết về Nguyễn Văn Siêu đã giúp chúng ta hiểu thêm rất
nhiều về con người cũng như thơ ca của ông. Ke thừa những thành quả, thông
tin trong việc nghiên cún con người và thơ văn Nguyễn Văn Siêu dưới nhiều
góc độ của các bậc tiền bối tôi tiếp tục phát triến chủ để thông qua việc đi sâu
tìm hiểu, khám phá chân dung con người văn hóa Nguyễn Văn Siêu qua sáng
tác thơ ca của ông.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
- Chuẩn bị các tư liệu cần thiết cho việc học tập và nghiên cún, giảng
dạy thơ văn Nguyễn Văn Siêu cũng như bộ môn Văn học trung đại Việt Nam
thế kỉ XIX.
- Góp thêm tiếng nói khẳng định tài năng văn chương, những công lao
mà nhà văn hóa Nguyễn Văn Siêu đã để lại cho dân tộc Việt Nam.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Đe đạt được mục đích nghiên CÚ01 đề tài này cần thực hiện những nhiệm
vụ như sau:
- Tập họp các tài liệu liên quan đến Nguyễn Văn Siêu
- Tìm hiểu chân dung con người văn hóa Nguyễn Văn Siêuqua bốn tập
thơ: Vạn lí tập, Anh ngôn thi tập, Lim lãm tập, Mạn hứng tập.
- Nhận xét, đánh giá về con người Nguyễn Văn Siêu thông qua các hành
trạng, phẩm chất cũng như tài năng của ông.
- Phân tích ý thơ, tứ thơ của một bài thơ tiêu biểu nằm trong Vạnlí tập,
Anh ngôn tập, Lưu lãm tập, Mạn hứng tập.
6
-
Góp phần cho việc giảng dạy, học tập Nguyễn Văn Siêu ở các trường
Cao đẳng, Đại học.
7. Bố cục của khóa ỉuận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung chính của
khóa luận gồm hai chương:
Chương 1: Những vấn đề chung
Chương 2: Nguyễn Văn Siêu - Nhà văn hóa lớn của thế kỷ XIX
1
NỘI DUNG
Chương 1: Những vấn đề chung
1.1. Tác giả Nguyễn Văn Siêu
/. 1.1. Cuộc đời
Nguyễn Văn Siêu tên khác là Định, tự Tốn Ban, thụy Chí Đạo, hiệu
Phương Đình và Thọ Xương cư sĩ. Ông là tác gia lớn trong thế kỉ XIX với
những trước tác về lịch sử , địa lí, lịch sử, tư tưởng, thơ văn...
ỉ. ỉ. ỉ. ỉ. Năm sinh và năm mất
Theo Tiến sĩ Nguyễn Thị Thanh Chung - Trường ĐHSP Hà Nội trong
bài viết Tìm hiểu về cuộc đời Nguyễn Văn Siêu đăng trên Tạp chỉ bảo văn hóa
Nghệ An thì năm sinh của Nguyễn Văn Siêu được ghi chép chưa thống nhất.
Lược truyện các tác gia Việt Nam, Thơ đi sử ghi năm 1795 (Àt Mão, năm
Cảnh Thịnh thứ 3 Tây Sơn). Quốc triều khoa bảng lục, Các nhà khoa bảng
bảng ỉục khắc in ngắn gọn về từng nhân vật đỗ Đại khoa triều Nguyễn đến
năm 1898, trong đó ghi: “Nguyễn Văn Siêu, Hà Nội, Thọ Xương, Dũng Thọ,
Bính Thìn, tứ thập tam. Ất Dậu Cử nhân, Hưng Yên Án sát, giáng Thị độc
công tịch. Cư Hàn các, dĩ văn học danh cập môn đa sở thành lập, hũu Phương
Đình thi văn tập hành thế”. (Nguyễn Văn Siêu người Dũng Thọ, Thọ Xương,
Hà Nội, sinh năm Bính Thìn 1796, bốn mươi ba tuổi. Năm Ất Dậu 1825 đậu
Cử nhân, làm Án sát Hưng Yên, giáng Thị độc công tịch, tại Viện Hàn lâm
nổi danh văn chương và nhiều lĩnh vực khác, có Phương Đình thi văn tập).
Phương Đình Chí Đạo tiên sinh thần đạo bi đặt tại lăng mộ cho biết chi tiết
hơn về cá tính, gia tộc, hành trạng và thời gian sinh của Nguyễn Văn Siêu.
Như vậy, với những lí do trên chúng ta có thể kết luận thời gian sinh và
mất của Nguyễn Văn Siêu trong Phương Đình Chí Đạo tiên sinh thần đạo bi
là chính xác: Nguyễn Văn Siêu sinh năm 1796, mất năm 1872.
9
1.1.1.2. Quê hương và gia tộc
Nguyễn Văn Siêu sinh ra ở một làng khoa bảng. Làng Lủ xưa gồm ba
xóm lớn Lủ Cầu, Lủ Trung, Lủ Văn, sau phát triển thành ba làng Kim Giang,
Kim Lũ, Kim Văn. Đen cuối thời Lê, Kim Lũ thành một xã thuộc tống
Khương Đình, huyện Thanh Trì, phủ Thường Tín, nay là phường Đại Kim,
quận Hoàng Mai, Hà Nội. Dù không nổi tiếng bằng Mộ Trạch, Hoa Đường,
Hành Thiện... nhung Kim Lũ cũng là một làng quê giàu truyền thống. Theo
cuốn Tiến sĩ Nho học Thăng Long Hà Nội, Kim Lũ tiêu biểu về khoa cử trong
14 làng khoa bảng của Hà Nội với năm vị đỗ đại khoa gồm Tiến sĩ Hồng Hạo
(1710), Tiến sĩ Nguyễn Công Thái (1715), Phó bảng Nguyễn Văn Siêu
(1838), Tiến sĩ Nguyễn Trọng Hợp (1865), Tiến sĩ Nguyễn Sĩ Cốc (1910).
Dòng họ của Nguyễn Văn Siêu cũng có nhiều người đỗ đạt. Họ Nguyễn
làng Lủ Trung chia thành hai ngành. Ngành trưởng (Đại tông), đến đời thứ
v ề gia đình riêng của Nguyễn Văn Siêu, Phương Đình binh nhật trị
mệnh đã ghi rõ ông không lấy chính thất mà có hai thứ thất. Bà họ Hoàng sinh
được hai gái (Thị Giản và Thị Ý), một trai (Tập Hinh). Bà họ Bùi cũng sinh
được hai gái (Thị Sử, Thị Đoan), một trai (Văn Dĩnh). Ngoài ra, Nguyễn Văn
Siêu còn có một thiếp do bà họ Bùi mua về, bà này sinh được một trai (Văn
Xiển). Nguyễn Văn Siêu trân trọng tình cảm gia đình. Hình ảnh con thơ, ngôi
nhà, mảnh vườn, cây cầu... biểu hiện trong thơ ông một cách xúc động, thân
thương. Khi gặp con trai Tập Hinh trên đường đi sứ, ông ngậm ngùi thương
con còn quá nhỏ, khả năng ứng biến lại non nớt mà sớm chậm chạp như cha;
rồi khi ghé thăm ngôi nhà thân thuộc, ông bồi hồi thấy cây quế trước sân gầy
đón cổng, cây mai trong vườn xòa xuống người:
Tiếp môn đình quế như nhân sau,
Phúc ốc viên mai quả ngã kiều.
(Bản dạ đảo gia - Vạn lí tập)
11
Dịch nghĩa:
Cây quế ở đình bên cửa gầy như người,
Mai trong vườn che rợp mái nhà cao hơn ta.
(Nửa đêm về đến nhà)
Nguyễn VănSiêu rất yêu quê hương và gia đình của mình.
hương và giađình
Chính quê
có ảnh hưởng rất lớn tới sự nghiệp sáng tác thơ ca của
Nguyễn Văn Siêu. Hình ảnh quê hương đi vào trong thơ ca của ông thật dung
người đỗ thi Hương sẽ dự thi Hội vào năm kế tiếp còn Phương Đình thì mười
ba năm sau mới đi thi Hội (1838).
Cuốn Nét bút thần của Nguyên Vãn Siêu thi ca và lịch sử giải thích
nguyên nhân đỗ đạt chậm của Nguyễn Văn Siêu là từ khi mới học thường đọc
nhanh viết thảo nên chữ xấu, dẫn đến kết quả thi không như mong muốn.
Khoa Ât Dậu, ông phải dùng mẹo đau bụng để kéo dài thời gian, may nhờ tấm
lòng liên tài của Nguyễn Hàm Ninh mới đỗ Á nguyên. Tuy nhiên, theo Quốc
triều hương khoa lục, chức vụ tại trường Thăng Long năm Ất Dậu gồm HŨ01
tham tri Bộ Lễ Nguyên Đăng Tuân làm Đe điệu, Hiệu trấn Sơn Nam Ngô Huy
Viên làm Giám thị, Thiêm sự bộ Hộ Thân Văn Duy, Thự Thiêm sự Bộ Lại Lê
Quang làm Giám khảo. Như vậy, không có nhân vật Nguyễn Hàm Ninh tại
trường thi này. Có lẽ, những chi tiết trên được tác giả cuốn Nét bút thần của
Nguyên Văn Siêu thi ca và lịch sử hư cấu.
Năm 1838, khoa Mậu Tuất, năm Minh Mệnh thứ 19, Nguyễn Văn Siêu
đậu Phó bảng chỉ có ở đời Nguyễn từ khoa thi Hội năm Kỉ Sửu (1829), không
được trọng vọng so với học vị Tiến sĩ. Thông lệ, người đỗ Phó bảng không
được thi lại Tiến sĩ khi nhà Nguyễn mở Chế khoa vào năm 1851.
Sau khi đỗ Phó bảng, Nguyễn Văn Siêu được nhận chức Hàn lâm viện
kiểm thảo (hàm tòng thất phẩm) ở Viện Hàn lâm, cơ quan có nhiệm vụ khởi
thảo công văn triều đình ban hành gồm chế, chiếu, biểu... Triều Nguyễn có
13
nhiều ân điển ban cho người đỗ đạt như Tiến sĩ cập đệ được nhận chức ngay
còn Tiến sĩ xuất thân, Đồng Tiến sĩ xuất thân, Phó bảng vào Viện Hàn lâm ăn
lương đọc sách ba mươi năm mới sát hạch, thăng bổ.
Năm 1841, Nguyễn Văn Siêu được thăng Viên ngoại lang Bộ Lễ (hàm
chính ngũ phẩm). Sau ba năm làm việc tại Hàn lâm viện, Phương Đình được
thăng bốn bậc từ tòng thất phẩm lên chính ngũ phẩm. Nhưng cũng vào năm
chục năm, vì tâm huyết đổ ra mà dân chang yên còn bề trên lại không thấu
hiểu. Ông đành thoái lui về con đường phù hợp hơn với mình, không thể làm
chính trị thì trở thành người dạy học.
Năm 1854, Nguyễn Văn Siêu trí sĩ. Từ khi trí sĩ đến lúc mất, ông góp
sức chống thực dân Pháp xâm lược, khởi xướng phong trào chấn hưng văn
hóa Thăng Long, mở trường đào tạo nhân tài...
Có thể nói cả một cuộc đời cống hiến cho đất nước cho nhân dân không
hề mệt mỏi, một lòng tận trung với vua. Con đường làm quan của Nguyễn
Văn Siêu gặp rất nhiều những biến cố thăng trầm, nhiều lần thăng rồi lại
giáng chức. Suốt chiều dài của lịch sử đương thời, ông đã những đóng góp vô
cùng to lớn cho sự phát triển của đất nước, được nhân dân yêu mến, kính nể.
Nhưng tạo hóa xoay vần, đứng trước cái thời cuộc rối ren, Nguyễn Văn Siêu
cũng như nhiều nhà trí thức đương thời đành chọn cho mình giải pháp về quê
ở ẩn, mở trường dạy học để đào tạo nhân tài cho đất nước và cũng là đế giữ
gìn thiên lương, nhân cách cao đẹp của một nhà Nho.
1.1.2. Sự nghiệp trước tác
Nguyễn Văn Siêu sáng tác rất mạnh, tính đến lúc qua đời (1872) ông đã
có hon nửa thế kỉ cầm bút và đã để lại cho đất nước, cho muôn đời sau một sự
nghiệp văn chương đồ sộ, được dư luận đương thời và hậu thế suy tôn lên bậc
thần: Thần Siêu bên cạnh Thánh Quát (Cao Bá Quát).
15
Văn nghiệp của Nguyễn Văn Siêu trải qua ba thời kì: thời còn đi học kế
cả đi thi, thời làm quan, thời thôi quan về mở trường dạy học với tư cách một
bậc sư biểu ở tầm cỡ quốc gia.
Văn nghiệp của Thần Siêu cũng trải qua nhiều tình huống trong nhiều
quan hệ: quan hệ giao du với bạn bè, với thầy học, trong tư cách một ông
quan có quan hệ gắn bó thân tình và viết theo lệnh của nhà vua, trong tư cách
1.1.3. Quan điếm sáng tác
Mỗi người nghệ sĩ, tùy theo phong cách nghệ thuật, cá tính sáng tạo và
tư tưởng thẩm mĩ mà có những quan niệm riêng về văn chương. Có người cho
rằng văn chương là sự thoát ly hay quên lãng, lại có nghệ sĩ muốn văn chương
phải là "sự thực ở đời", phải là "những tiếng đau khổ kia thoát ra tù' những
kiếp lầm than" (Nam Cao). Với Nguyễn Văn Siêu trong một bức thư bàn luận
về văn chương, ông có viết: "Văn chương (...) có loại đáng thờ. Có loại không
đáng thờ. Loại không đáng thờ là loại chỉ chuyên chú ở văn chương. Loại
đáng thờ là loại chuyên chú ở con người”.
Nguyễn Văn Siêu đã bày tỏ quan niệm của mình về văn chương chân
chính. Văn chương được ông chia làm hai loại. Loại văn chương ’’đáng thờ” là
văn chương "chuyên chú ở con người", là văn chương "nghệ thuật vị nhân
sinh" hướng đến phục vụ cuộc sống con người. Loại văn chương "không đáng
thờ” là loại văn chương "chỉ chuyên chú ở văn chương", lo rèn câu đúc chữ, ở
hình thức nghệ thuật, đó là "nghệ thuật vị nghệ thuật".
Nguyễn Văn Siêu đã rất đúng đắn khi đặt ra một yêu cầu cho văn
chương chân chính,đó phải là tiếng nói, hơi thở của cuộc sống đời thường,
đưa ra nhiệm vụ phản ánh hiện thực cho văn chương. Yêu cầu này đòi hỏi ở
nhà văn một sự tinh tế, nhạy cảm, thức nhọn các giác quan rất cao để có thể
quân sự cuộc sống, nhập thân vào cuộc sống để khám phá, tìm tòi. Một tác
phẩm ưu tú "không đem đến một cách cho người đọc sự thoát ly hay sự
quên”, nó đem đến cho người đọc hơi thở, nhịp đập của chính cuộc đời cho
17
người đọc những "bài học trông nhìn và thưởng thức" (Theo dòng). "Tác
phẩm văn nghệ phải thể hiến sự sống thật hơn là sự sống bình thường, cô
đọng hơn, khái quát hơn, cao hơn cuộc sống mà văn là cuộc sống" (Trường
Chinh). Người nghệ sĩ phải nhận thức, phản ánh cuộc sống có lý tưởng, chứ
/ý có nhiều bài hay...
1.2.2. Phương Đình Anh ngôn thi tập
Là tập thơ xếp thứ hai trong bộ Phương Đình Thi tập. Anh nghĩa đen là
tiếng chim gọi nhau; ở đây Anh ngôn có nghĩa là lời nói bạn bè.
Tập thơ Anh ngôn phần nhiều là thơ được Nguyễn Văn Siêu làm lúc còn
trẻ; thường là tác giả “phong hồ Vũ Vu, dục hồ Nghi” ngao du với thầy, bạn
rồi vịnh sông núi như Nhị Hà, Tô Giang, Tây Hồ, đền thờ Chu Văn An. Ngoài
ra còn có thơ vịnh sử, vịnh vật, thù tạc,... Toàn tập có 283 bài thơ.
1.2.3. Phương Đình Lưu lãm tập
Là tập thơ thứ ba trong bộ Phương Đình Thi loại, có 305 bài; chủ yếu là
thơ làm trong chuyến chu du quan lãm, vịnh danh lam thắng cảnh, tiễn tặng ở
Kinh đô Huế.
Thơ trong tập Lưu lãm của Phương Đình, phần lớn làm về bạn bè,
nhưng chủ yếu là bạn bè đang làm quan, khung cảnh là ở Kinh đô Huế. Bởi
vậy, tìm hiếu về không khí quan trường và phong cảnh cố đô Huế đương thời,
tập Lưu lãm có thể tính là tư liệu tham khảo sinh động. Mặt khác, tập thơ
cũng cho chúng ta biết sâu hơn về tư tưởng tình cảm của Phương Đình thời kỳ
ở Kinh đô. Có thể nói là ông không vui. Trước đây, khi đọc một số bài ký của
ông, chúng ta đã cảm thấy ông không thuần Nho, dù có lúc ông tự nhận là
Nho, tranh biện kịch liệt với Trang Tử, bảo vệ Nho đến cùng. Nhưng trong
Lưu lãm, ở không ít bài thơ, ông cho biết vào nhũng ngày ở Kinh đô, ông lại
muốn được như Trang Tử, như Đào Tiềm. Có điều dễ thấy là thơ trong tập
Lưu lãm tập phần nhiều là thơ trữ tình, ý thơ phóng khoáng.
19
1.2.4. Phương Đình Mạn hứng tập
Cuối bộ Phương Đình Thỉ loại là tập thơ Mạn hứng. Đây là tập thơ tùy
hứng mà Phương Đình làm chủ yếu với bạn bè, đồng nghiệp ở Hà Nội. Toàn